Lịch Sử Của Sách

Lượt đọc: 540 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương 5
HOẠT ĐỘNG ĐỌC

❊ ❊ ❊

Chúng ta tiếp tục bàn đến chiều kích quan trọng nhất và thách thức nhất trong lịch sử của sách cũng như nhận thức cụ thể về việc đọc. Vào cuối những năm 1980, Jon Klancher tuyên bố rằng, “độc giả” vẫn là một “ẩn số ít được xem xét đến nhất trong kho tàng lịch sử và phê bình văn hóa” [1]. Tuy nhiên, lịch sử của sách đang ngày càng làm sâu sắc thêm nghiên cứu về độc giả cùng cách họ tiếp nhận sách thông qua việc đặt câu hỏi không chỉ về những ai là người đọc sách và họ đọc những gì, mà cả về thời gian mọi người đọc sách, nơi họ đọc sách và trên hết, tại sao họ đọc sách và họ đọc sách như thế nào.

Nghiên cứu về việc tiếp nhận sách và thực hành đọc, tương ứng với câu hỏi thứ tư và thứ năm của Lasswell, “hướng đến ai?” và “với tác động gì?”, đã mở rộng hơn những chân trời* của lịch sử xã hội và lịch sử tư tưởng. Một nghiên cứu về hoạt động đọc sẽ góp phần vào nhận thức của chúng ta trong việc hiểu về cách các cá nhân trong quá khứ suy nghĩ và phản ứng với thế giới xung quanh họ - nhìn chung là một thứ histoire des mentalités (lịch sử tinh thần). Dù nghiên cứu thư mục vẫn đóng vai trò không thể thiếu giúp chúng ta hiểu được sự ra đời, sự phân bố cũng như tiềm năng tạo ra biến đổi của văn bản vật chất, song xét đến cùng thì, lịch sử của sách vẫn thuộc về lĩnh vực của các nhà sử học khi nó chú trọng đến lịch sử của những cách thức các cá nhân trong quá khứ đã đọc sách, chịu ảnh hưởng bởi hay hành động theo những gì mình đọc được, hay tham dự vào các thực hành và các nghi lễ có sự tham gia của sách. Bằng cách tìm hiểu quá trình tiếp nhận các dạng thức vật chất khác nhau của sách và của các văn bản trong đó, lịch sử của sách quan tâm một cách chính đáng đến việc khôi phục ký ức, hành vi và trải nghiệm của con người trong quá khứ.

Việc khôi phục các hoạt động tiếp nhận văn bản của cá nhân trong lịch sử phải dựa vào các phương thức nghiên cứu liên văn bản và ngoại văn bản. Những hướng đi này rất phong phú. Các nghiên cứu về đối tượng độc giả dự kiến (hay độc giả mục tiêu) trong hình dung của tác giả cũng tương tự với lý thuyết tiếp nhận vốn đặt cơ sở trong ý tưởng về đối tượng độc giả tồn tại ngầm ẩn trong văn bản. Những nghiên cứu khác lại liên quan đến các khía cạnh vật chất của văn bản - bao gồm từ hình thái học, quy phạm chính tả, kỹ thuật in, cách thức trình bày minh họa, dàn trang và các thiết kế khác, đến những thủ bút bình luận thường là nguệch ngoạc của độc giả (hay “ghi chú bên lề”; marginalia) cùng những dấu hiệu khác của việc sử dụng sách. Một sự am hiểu dù tiểu tiết nhưng có giá trị về năng lực đọc, về phương pháp sư phạm cũng như hiện tượng học của các quá trình nhận thức thường xuất phát từ việc điều tra nhiều loại tư liệu lịch sử khác nhau. Bổ sung vào nỗ lực đó, các nhà sử học nghiên cứu lịch sử của sách tiếp tục khám phá những biểu hiện thực hành đọc sách đương đại cùng những hệ quả sinh ra từ đó - qua các bài viết, bản vẽ hay ở thời hiện đại là bản quay phim và bản ghi âm. Một số bằng chứng được ghi lại này có thể có chủ ý, một số lại ngẫu nhiên tự phát, một số được các nhà quan sát tạo ra, số khác lại đến từ chính độc giả.

Có nhiều vấn đề chưa được biết đến - đặc biệt là trong những giai đoạn trước khi xuất hiện bất kỳ nỗ lực nghiên cứu nào về lịch sử sự đọc. Những gì chúng ta có thể nói được về sự đọc từ các văn bản chữ hình nêm, hay thậm chí từ các bảng sáp La Mã dường như cực kỳ hạn chế; mặc dù một vài phương thức nghiên cứu [thu thập tư liệu] nhắc đến ở trên, ví dụ, qua một số ghi chép ngẫu nhiên về việc đọc đến minh họa việc đọc trong các bức tranh tường, tranh vẽ hoặc văn bản có minh họa, hoàn toàn có thể áp dụng được cho các tư liệu thời Trung cổ và Tiền Cận đại. Nhưng chúng vẫn chưa lấp đầy được những khoảng trống. Thậm chí ý kiến cho rằng, việc dập văn bản từ các ký tự trên bia đá hay các công trình chạm khắc ở vùng Trung Mỹ thuộc nền văn minh Mesoamerica hay Nam Á chẳng hạn, đã dấy lên nghi vấn về việc liệu những bản dập này có thực sự được “đọc” hay không, hay nó chỉ đơn thuần được sử dụng theo giá trị biểu tượng, như để xua đuổi ma quỷ hoặc kỷ niệm việc hành hương đến thánh địa. Dựa trên truyền thống truyền khẩu, việc đọc các dây khipu như một loại công cụ hỗ trợ ghi nhớ ở khu vực Trung và Nam Mỹ còn cho thấy sự tương đồng với hiện tượng ghi nhớ trong lịch sử in ấn và quá trình phát triển các xuất bản phẩm công cụ, hỗ trợ cho hoạt động ghi nhớ - vốn được hình thức hóa ở những nơi khác trên thế giới.

Giới nghiên cứu văn học đã tranh luận về việc những cách tiếp cận bằng lịch sử văn học và thuyết sử luận (historicism)* đã thiếu quan tâm thế nào tới chính sự tương tác giữa văn bản và ngoại cảnh, cũng như lý do vì sao vấn đề này lại trở nên quan trọng. Robert Hume đã nhấn mạnh rằng, ý nghĩa của các văn bản “chỉ khởi phát từ nơi độc giả hoặc khán giả” và ông cảnh báo, một mặt, về sự tương tác đáng thất vọng giữa lịch sử văn hóa với lý thuyết hồi đáp độc giả (reader-response theory)*; mặt khác, về việc thiếu cân nhắc vấn đề độc giả cũng như tiếp nhận từ phía những người được tuyên xưng như là sử gia văn học. David Simpson cũng đề xuất việc quay trở lại với những thành tố cơ bản trong nghiên cứu lịch sử để cải thiện phương pháp diễn giải văn bản theo hướng sử luận. Sau cùng, Hume kết luận rằng, “các nhà sử luận (historicist) cần phải tập trung vào việc xây dựng một mô hình phức tạp từ cứ liệu bối cảnh [lịch sử] chứ không chỉ là cứ liệu văn học” [2].

Tất cả những vấn đề này nói dễ hơn làm, và đặc biệt là khi các diễn ngôn lịch sử về sách đang phải theo đuổi các chân trời thời gian cũng như địa lý mới đầy thách thức. Năm 1984, Janice Radway đã cách mạng hóa lịch sử các thực hành đọc bằng nghiên cứu của bà về phản ứng của độc giả vùng New England (Hoa Kỳ) đối với các tiểu thuyết lãng mạn phổ biến. Radway mang đến nhận thức mới mẻ đối với ý niệm về “tính phổ biến”, vận dụng các kĩ thuật nghiên cứu lịch sử truyền miệng (oral history) để hiểu thêm về những thói quen đọc cá nhân cùng phản hồi độc giả với các tự sự văn học. Bà lập luận rằng, tiểu thuyết lãng mạn là “sản phẩm cuối cùng của một quá trình vật chất và xã hội rất phức tạp và thông qua nhiều đối thoại. Trong đó, các nhà văn, những người trung gian đại diện xuất bản, các nhân viên xuất bản, biên tập viên cùng hàng trăm con người khác tham gia vào hoạt động sản xuất, phân phối và tiêu thụ sách đều là các đối tượng liên đới”. Radway còn tiến xa hơn khi kết luận rằng, “sự đọc không phải là một quá trình tự giác hay tạo ra giá trị, trong đó [độc giả] hợp tác với tác giả, mà là một hoạt động khám phá, trong đó họ […] tự nguyện chấp nhận mà không nghi ngờ tính chính xác của tất cả tuyên bố về tính cách của một nhân vật hay ý nghĩa của một sự kiện [3]. Những bằng chứng tư liệu như vậy không hề có sẵn với phần lớn các nhà sử học khi giải quyết câu hỏi về những đối tượng tiếp nhận văn bản nay đã qua đời, bất kể việc có nhiều nguồn tư liệu khác nhau - dù gián tiếp hay không đầy đủ - đã có sẵn. Xa hơn, nghiên cứu của Radway còn giúp cảnh báo chống lại việc đưa ra giả định dễ dãi về ý nghĩa của sự tiếp nhận văn bản. Các nhà sử học muốn phục hồi sự đa dạng của các trải nghiệm đọc trong quá khứ sẽ phâi đối mặt với công tác xác định và so sánh các địa điểm đọc, năng lực đọc, thói quen đọc cũng như nhận thức của riêng độc giả về cả nội dung lẫn lý do họ đọc.

Khi đặt sang một bên những khó khăn về cứ liệu và diễn giải, những người lạc quan có thể vạch ra các mục tiêu đầy tham vọng. Một trong những người ủng hộ sáng tạo nhất cho ngành lịch sử văn hóa là Michel de Certeau* tin rằng, các nhà sử học dường như quan tâm nhiều hơn đến việc tính toán mối tương quan giữa các đối tượng được đọc, các nhóm xã hội và địa điểm thường lui tới, hơn là phân tích động cơ thôi thúc sự đọc, các phương thức và hiện tượng học của sự đọc. Vấn đề quan trọng được nghiên cứu kế tiếp nhấn mạnh là, văn bản không kiểm soát được sự phản hồi; mà ngược lại, phản hồi xuất phát từ cảnh huống xã hội, nơi bao trùm mọi văn bản với một sự bất định nhất định thay vì một sự chuẩn xác có thể dự đoán trước. Theo hướng này, những diễn ngôn lịch sử về độc giả và sự đọc đã được biến đổi nhờ các nghiên cứu. Thay vì hướng đến xác định số lượng độc giả và loại hình độc giả, ước tính trình độ đọc viết hay các loại hình văn bản được đọc, các diễn ngôn hướng đến nhận thức các loại thực hành đọc, bản chất của sự đọc và trải nghiệm cá nhân của độc giả. Sự chú ý trước đây dành cho người tiếp nhận và người được tiếp nhận nay đã dịch chuyển sang các quy trình tiếp nhận, sang phân tích các phương án đọc và năng lực đọc trong quá khứ.

Về mặt lý thuyết, vấn đề cộng đồng độc giả trong quá khứ và hiện tại cũng có thể được khái niệm hóa không chỉ dưới tư cách là tập hợp các loại hình độc giả, mà là sự tích lũy của nhiều cách thức đọc độc đáo, và do vậy là toàn bộ các cách đọc khác nhau của cùng một văn bản. Một tập hợp các kinh nghiệm trong quá khứ như vậy hiển nhiên là không thể khôi phục được về mặt lịch sử và không thể được áp dụng với lịch sử của sách trong thực tiễn, nhất là với chiều kích toàn cầu của ngành này. Tuy nhiên, một dự phóng như vậy rất hữu ích trong việc khuyến khích chúng ta, trước hết phải suy nghĩ cẩn thận về cách tiếp cận để hiểu trải nghiệm tiếp nhận một loại văn bản cụ thể, và thứ hai, để điều tra các loại bằng chứng mà lịch sử mới về hoạt động tiếp nhận và hoạt động đọc này có thể dựa vào. Theo nhiều cách, việc bối cảnh hóa từng trường hợp sẽ song hành với các điều chỉnh thực hành phê phán văn bản và thư tịch đã thảo luận trước đó. Sự theo đuổi thực hành đọc được gắn trong từng trường hợp cụ thể, trong nghiên cứu vi mô cũng như trong cả thách thức về mặt lưu trữ và diễn giải. Theo các phê bình có tính chất bổ trợ khác, những phương thức tiếp nhận văn bản khác nhau phụ thuộc vào cả hiện tượng học các hành vi đọc lẫn những phương tiện văn hóa được kiến tạo để tiếp nhận và hiểu những gì đã đọc. Cụ thể, Paul Ricoeur xem xét việc làm thế nào độc giả văn bản và hình ảnh chiếm hữu cách hình dung về một thế giới, trong khi đó, việc xây dựng “các cộng đồng diễn giải văn bản” (interpretive communities, sử dụng cách viết interpretive trong tiếng Anh-Mỹ thay vì interpretative) trở thành một điều kiện tiên quyết (sine qua non) của nhiều diễn ngôn lịch sử về tiếp nhận văn bản cuối thế kỷ XX. Vấn đề đó lần đầu tiên được đề xuất dưới tư cách là một sự hiện diện mang tính tu từ, trong-văn-bản khi Stanley Fish gợi ý về một tổng hòa của các quy ước đọc, trước khi Roger Chartier bổ sung thêm tính chất lịch sử cho ý niệm về các cộng đồng diễn giải (interpretive communities), được hiểu là các nhóm độc giả cùng chia sẻ một phong cách đọc và một phương thức diễn giải văn bản xác định. Lời kêu gọi của Robert Hume về việc nghiên cứu “các nhóm hồi đáp độc giả lịch sử” tương đồng rõ nét với quan điểm này, và theo cách nói của ông, là “một dạng sử luận hóa quan điểm của Stanley Fish” [4]. Tương tự như vậy là hướng tiếp cận do Hans Robert Jauss* và các cộng sự tại Đại học Konstanz (CHLB Đức) đề xuất trong việc tìm hiểu “chân trời chờ đợi” (Erwahrtungshorizont) - một hệ quy chiếu mà trong đó, một tác phẩm được tạo ra và được tiếp nhận.

Việc giải mã trải nghiệm đọc này - trong đó, độc giả trên thực tế kiến tạo văn bản thay vì chỉ đơn thuần tiếp nhận văn bản - bao gồm việc nghiên cứu các không gian đọc đa dạng, các mẫu hình thể hiện khác nhau (ví dụ như việc đọc thành tiếng của cá nhân hay cộng đồng, cùng những tác động đa chiều đối với khán giả và người tham gia). Các văn bản khuyến khích nuôi dưỡng những ý nghĩa không định sẵn, trên thực tế vốn là các quy tắc nhận thức được đặt ra và kích hoạt bởi chính mỗi độc giả.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

Truyện bạn đang đọc dở dang