Hầu hết nghiên cứu lịch sử với đối tượng là độc giả đều khởi đầu bằng câu hỏi “cái gì”, hay là việc xác định các tư liệu có liên quan, dù chúng có là bảng chữ hình nêm, báo in hay truyện tranh. Các sách đặc bản (bespoke books), hay các sách được đặt làm riêng cho một khách hàng cụ thể, đa phần sẽ phản ánh rõ ràng những loại hình độc giả cụ thể. Tuy nhiên, ngay cả trong những trường hợp như thế, như các nghiên cứu về thời kỳ Trung cổ và thời kỳ Cổ điển gần đây đã chỉ ra, có vẻ quá dễ dàng khi đưa ra những giả định sai lầm về những người thực sự đọc các văn bản đặc biệt kiểu này. Khi hoạt động xuất bản được thương mại hóa và tập trung vào thị trường hơn, người ta cũng bắt đầu xây dựng định nghĩa về độc giả dựa trên loại văn bản mà họ đọc - hoặc người ta tin là họ đọc. Ta có thể định nghĩa một giới độc giả như vậy qua nội dung tác phẩm hoặc rộng hơn là thể loại hay hình thức tác phẩm mà họ tiếp nhận. Cũng có thể khu biệt một giới độc giả vào một tác giả hay một thể loại nhất định, hoặc định nghĩa theo thể thức ấn bản và hình thức vật lý của tác phẩm. Mặt khác, xét về lịch sử của hoạt động đọc, sự tương phản giữa nền xuất bản châu Á và châu Âu cũng chứa đựng những hàm nghĩa sâu sắc. Khác biệt căn bản về cấu trúc của hoạt động xuất bản sách giữa hai khu vực - trong đó, hầu hết các sách ở châu Á thời Tiền Cận đại tồn tại dưới dạng các bản sao chép cá nhân được làm riêng - đã khiến cho một số chiến lược nghiên cứu dựa-trên-kinh-doanh-sách trở nên sai lệch, thậm chí là thừa thãi.
Cách tiếp cận xa hơn là đi vào quá trình các nhà văn và đội ngũ biên tập viên kiến tạo nhiều nhóm độc giả, được cụ thể hóa hoặc hàm ẩn trong văn bản, trong các lời quảng cáo, danh mục sách bán (catalogue) cùng các loại văn bản tương tự khác. Nhiều tác giả và người biên soạn cũng cố gắng phục vụ đa dạng các đối tượng độc giả dù công khai hay ngầm ẩn. Những tuyên bố rằng, các nhóm độc giả mục tiêu của sách cũng lâu đời như chính những cuốn sách - từ các bảng đất sét đến giấy papyrus - và việc tìm hiểu về các nhóm này sẽ đóng góp quan trọng vào nghiên cứu bối cảnh của các thủ bản thời Trung cổ. Một vài dòng thông tin ngắn gọn ghi ở tờ cuối sách (colophon), ở trang bìa hoặc phần lời tựa, hay đáng chú ý hơn là bước tiến của sản phẩm sách phục vụ xu hướng thị trường thay thế các sản phẩm đặc bản dành riêng cho người đọc và người xem đã xác định trước, đã làm nảy sinh rất nhiều mối quan tâm và phát ngôn hướng đến độc giả mục tiêu.
Vào cuối thế kỷ XVII, các nhà in và nhà kinh doanh sách tại châu Âu đã tạo ra nhiều cách xác định độc giả cực kỳ chi tiết. Người ta bắt đầu soạn ra những danh sách dài các độc giả tiềm năng xác định dựa trên giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, sở thích, địa vị, kỹ năng hoặc năng lực chuyên môn. Dường như vì sự tràn lan của tư liệu mà đã không có nhiều nghiên cứu hướng sự chú ý tới các loại hình độc giả được ghi danh trên văn bản kiểu đó, mặc dù tiến bộ trong việc lập biên mục và truy xuất điện tử hoàn toàn cho phép thực hiện các nghiên cứu như vậy. Phổ biến hơn, nghiên cứu về kiểu độc giả dự kiến đựợc xác định rõ đến như vậy sẽ bị gắn chặt với những diễn ngôn lịch sử có phạm vi rộng lớn về các nhóm xã hội, kinh tế hoặc chính trị mà rõ ràng chính là đối tượng độc giả các ấn phẩm này hướng đến. Minh chứng cho nhận định trên trải dài từ ghi chép của tác giả trên trang tiêu đề đến những lời bình phẩm đánh giá thoáng qua nhất, đòi hỏi nhà nghiên cứu phải chú ý đến hoàn cảnh sáng tác và xuất bản, cũng như phải nhạy cảm với những lời văn mỉa mai - vốn là một công cụ tu từ và đầy uyên áo được người viết sử dụng tự do nhưng lại không cho là quan trọng. Một vài hoạt động xây dựng nhóm độc giả của tác giả đã xác nhận bản dạng của nhóm, dựa theo tính chất hoạt động hoặc thành phần của nhóm đó, trong khi một số cấu trúc khác chẳng khác nào những tập hợp giả định.
Tìm hiểu về hoạt động sản xuất và phân phối sản phẩm in ấn có một truyền thống nghiên cứu lịch sử mạnh mẽ hơn nhiều, trong đó nó cung cấp cho chúng ta các chỉ số chung về quá trình biến đổi của . các nhóm độc giả. Vô số diễn ngôn lịch sử về nền thương mại sản xuất chapbook, áp phích, nhật báo, sách dài kỳ (part-issue)* tiểu thuyết và tạp chí, đã củng cố các giả định về số lượng, giới tính, tuổi tác và những dạng người đọc khác. Lấy ví dụ, sự gia tăng số lượng độc giả nữ cùng các đánh giá bên trong những nhóm độc giả này, đã được suy luận dựa trên cơ sở sự gia tăng hoạt động xuất bản sách và các tạp chí định kỳ thiết kế dành riêng cho phụ nữ. Các dẫn chứng có thể kể đến là tờ Ladies Mercury phát hành lần đầu ở London vào năm 1693, tờ Ladies’ Magazine và ấn phẩm “chị em” với nó có cùng tiêu đề phát hành ở Hoa Kỳ từ năm 1792, hay tạp chí Bibliothek der Frauenfrage nổi tiếng của Đức phát hành từ năm 1888.
Hiểu biết về thực hành đọc thông qua những gì đã được đọc như vậy đòi hỏi chúng ta phải xác định được tính phổ biến đương thời của văn bản, thay vì chỉ nghiên cứu một số văn bản chọn lọc theo tiêu chí hiện đại về tính kinh điển hoặc phương pháp suy nghiệm; và trong trường hợp này thì các bộ thư mục STC cùng các chỉ số của tạp chí định kỳ đã cung cấp các chỉ số vô giá về số đầu sách được xuất bản. Tuy nhiên, chính việc sử dụng các nguồn tài nguyên kể trên để đánh giá loại hình độc giả đã nhắc chúng ta phải nhớ rằng, việc nghiên cứu thị trường và quá trình lưu hành sách đòi hỏi phải xây dựng cách khảo sát riêng, khác với những khảo sát về số liệu sản xuất các đầu sách mới, đặc biệt là với các ấn phẩm định kỳ. Ở châu Âu, quy mô xuất bản không đều nhau theo từng ấn phẩm đã ảnh hưởng đáng kể đến tính phổ biến tương đối của từng đầu sách. Trong khi đó, số lượng bản thảo viết tay vẫn tăng mạnh trong kỷ nguyên in ấn. Chẳng hạn, sự đa dạng và rộng mở của thị trường sách cũ (second-hand book), đặc biệt là trong các thế kỷ XVI - XVII, cùng với sách nhập khẩu đã từng là nền tảng chủ yếu cho thị trường sách học thuật viết bằng tiếng Anh. Hơn hết, khả năng tiếp cận với việc đọc đòi hỏi nhiều yếu tố hơn là việc chỉ đơn thuần mua các sản phẩm mới.
Tự thân các văn bản cũng đã ảnh huởng đến cách con người suy nghĩ về họ đã đọc hoặc sẽ đọc ra sao, cùng những hậu quả nào sẽ đi liền với nỗ lực đó của họ. Như Kathryn Sutherland* đã viết, “cách chúng ta đọc (từ trang giấy hoặc màn hình điện tử, từ điện thoại thông minh hoặc iPad, từ đoạn trích hoặc toàn văn) sẽ mang đến hệ quả với điều chúng ta hiểu được từ những gì chúng ta đọc và những gì chúng ta viết. Sự thay đổi các mô hình xuất bản đã gây tác động lớn đến tất cả chúng ta” [5]. Có thể lấy ví dụ, trải qua hàng trăm năm thống trị của nền xuất bản dựa trên in ấn thủ công, mức độ nhạy cảm của người đọc đối với việc phân loại độc giả và hình thức đọc cũng đã gia tăng. Quá trình sản xuất/tạo lập văn bản nhanh chóng hơn đã kéo theo sự nhân rộng các dạng văn bản nhánh nhỏ hơn trong mọi thể loại văn chương. Sự gia tăng tính di động của văn bản lại kéo theo tình trạng gia tăng cùng sự hấp dẫn lớn hơn của những không gian dành riêng cho việc đọc ấn phẩm in - đặc biệt là dành cho các sự kiện đọc chia sẻ theo nhóm và chính thống. Kết quả là, quá trình này đã củng cố việc xác định các nhóm đọc theo chủ đích, trong đó định hình nhiều nhóm tôn giáo, nhóm nghề nghiệp hoặc nhóm đơn giới tính. Các nhóm đọc này lựa chọn những loại sách cụ thể và theo đuổi các hoạt động đọc đặc trưng. Hiện nay đang có vô vàn loại hình văn bản tồn tại nhằm đáp ứng yêu cầu của các nhóm này. Trên thực tế, mỗi cá nhân tác giả, biên tập viên, nhà biên kịch hoặc nhà biên soạn đều cố gắng áp đặt một cách hiểu về văn bản cụ thể. Các hình thức đọc ở những địa điểm mới và hình thái nhóm đọc mới đã được điều chỉnh, ở các mức độ khác nhau, bởi các hình thức mới của kỹ thuật nhấn mạnh trong văn bản và cách thể hiện định hướng tinh tế. Những đánh giá phê bình đã đề xuất các giao thức đọc và cố gắng điều chỉnh các thực hành đọc. Chu trình tuần hoàn của văn bản trở nên nhanh hơn, nổi bật là với báo và tạp chí, đã nâng cao tầm quan trọng đối với tốc độ đọc được một sự kiện hay thông báo cùng thời điểm đọc được văn bản trong ngày.
Vài thế kỷ trước đó, cộng đồng độc giả và hoạt động đọc sách ở châu Âu đã gia tăng theo cấp số nhân cùng với sự phát triển của nền thương mại vận chuyển, hệ thống bán lẻ cấp địa phương, các quán cà phê, câu lạc bộ sách và thư viện. Người ta được tặng sách hoặc được thừa kế sách, họ cũng mua sách trực tiếp, và điều này là hệ quả của việc đăng ký làm thành viên thường xuyên hay mượn sách từ các bộ sưu tập sách cá nhân hoặc thương mại. Các ghi chép hàng lưu kho hoặc danh mục bán hàng của nhiều hiệu sách, và từ cuối thế kỷ XVII là hoạt động đấu giá sách, đã cung cấp cho chúng ta những hiểu biết sơ bộ về thị hiếu đọc sách. Những bản danh sách hữu ích nhất cho thấy số lượng từng tựa sách đã bán hoặc còn tồn lại trong kho. Nghiên cứu về từng quán cà phê tư nhân giai đoạn sơ kỳ cùng các ấn phẩm tạp chí, sách thuộc sở hữu của quán đang mở ra những nghiên cứu mới về lịch sử của người đọc, như nghiên cứu của Markman Ellis về các sách pamphlet trong quán cà phê chẳng hạn. Tuy vậy, đối với hàng trăm quán cà phê sau này, nơi mà chủ quán phải mượn ấn phẩm định kỳ từ các hội nhóm tranh biện hoặc thư viện, có rất ít ý kiến đồng thuận trong việc đề xuất con số thích hợp để ước tính lượng độc giả đã sử dụng ấn phẩm báo chí và các dạng văn bản được chia sẻ khác. Các chương trình đăng ký mua sách định kì đã trở nên đặc biệt phổ biến ở Anh và Pháp từ cuối thế kỷ XVII và chúng cho phép thu tiền đặt cọc của người đọc sách như một hình thức góp vốn để trang trải chi phí xuất bản. Hầu hết các sách xuất bản thông qua việc đóng góp kiểu này sẽ in kèm theo danh sách những người ủng hộ, bao gồm thông tin về giới tính, lời đề tặng và trong nhiều trường hợp có cả địa chỉ, thậm chí nghề nghiệp. Nhưng các danh sách kiểu này cần phải được xử lý thận trọng. Do không có công cụ để xác thực độ chính xác từ các danh sách đó, có không ít khoản đóng góp công khai lại dành vào những tác phẩm chuyên ngành đặc biệt hoặc dành tặng các tác giả nghèo khó. Tương tự như một vài hồ sơ kinh doanh còn tồn tại đến ngày nay, danh sách đóng góp xuất bản không cho chúng ta biết điều gì chính xác về động cơ mua bán hoặc trao đổi cũng như cách thức các cuốn sách đã được đọc.
Nhìn chung, chúng ta cần chiêm nghiệm rằng, vào giữa thế kỷ XIX, số người đọc cũng như mượn sách nói chung và dạng sách bỏ túi pamphlet nói riêng không chỉ tăng lên mà còn tạo ra tác động có phạm vi rộng lớn, đó là nhờ việc sở hữu các bộ sưu tập sách tư nhân cũng như hoạt động cho độc giả đăng ký mượn sách của thư viện. Tác động mạnh mẽ hơn được tạo ra thông qua sự phát triển của hệ thống thư viện công cộng và thư viện của các câu lạc bộ dành cho người lao động cùng những tổ chức tương tự. Ở một số nơi, hệ thống thư viện công cộng đã kế thừa hiệu quả những nền tảng từ thư viện cấp thị trấn vốn dĩ chứa đựng nhiều hạn chế. Về sau, việc các thư viện tham gia vào guồng quay thương mại cũng góp phần phổ biến việc đọc, dù cho nhiều thư viện và câu lạc bộ đọc sách như vậy thường đòi hỏi chi phí hội viên tương đối đắt đỏ. Đã có nhiều người được tiếp cận những tác phẩm văn chương mới chỉ nhờ vào việc mượn sách từ các thư viện kể trên.
Do tính vô hình của độc giả trong hầu hết các ấn phẩm, các cửa hàng sách và thậm chí cả hồ sơ thư viện, một chiến lược nghiên cứu lấy người đọc làm trung tâm càng trở nên cần thiết hơn. Khái niệm “độc giả nguy cơ” (at-risk readerships) [6] có thể được xây dựng dựa theo các đặc điểm đã biết của độc giả tiềm năng cũng như khả năng sở hữu được sách của họ. Trong trường hợp của các xã hội thời cổ đại, việc áp dụng chiến lược nghiên cứu kể trên có tính may rủi rất cao, nhưng theo những cách khác nhau, chúng vẫn có thể đem lại kết quả khi áp dụng vào nghiên cứu các xã hội châu Âu và châu Á thời Trung đại. Nhiều nghiên cứu cố gắng định lượng trình độ đọc viết của dân cư dựa trên những bằng chứng thu thập được về kỹ năng viết. Tuy vậy, ngay cả ở châu Âu thời Sơ kỳ Cận đại và Cận đại, việc thu thập dữ liệu về khả năng đọc viết thông qua các cuộc điều tra dân số trong những trường hợp đặc biệt, qua những bản di chúc, giấy đăng ký kết hôn hoặc các tài liệu chính thức khác đều rất khó khăn. Lý do không chỉ là bởi nó đòi hỏi các loại hình tư liệu vô cùng đặc biệt, mà còn vì sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các kỹ năng đọc và viết vốn không thể dễ dàng nhận ra. Tuy vậy, hoạt động đọc, dù được đặc trưng hóa theo cách nào, luôn được coi là một thực hành phổ biến hơn so với hoạt động viết. Nhiều người không biết viết, hoặc không cảm thấy có lý do nào để phải ký vào các giấy tờ chính thức (nhất là khi chồng của họ đã làm chứng) chắc hẳn vẫn sở hữu những kỹ năng đọc cơ bản. Dù vậy, bằng chứng về năng lực viết nhìn chung là cơ sở để phân loại trình độ đọc viết theo độ tuổi, giới tính, địa vị xã hội, tài sản, nghề nghiệp, tôn giáo, nhóm ngôn ngữ hoặc nơi cư trú.
Các loại hình kỹ năng đọc khác nhau xuất phát từ các điều kiện sư phạm, phương pháp giảng dạy cùng các ảnh hưởng rộng hơn về tiếp cận và thụ đắc văn bản. Như Stephen Orgel đã chỉ ra, có thể thấy thoáng qua một số nỗ lực đặc biệt của các giáo viên thời Trung cổ và Sơ kỳ Cận đại từ hàng loạt ghi chú bên lề hiếm hoi của những cuốn sách giáo khoa, sách vỡ lòng, Kinh Thánh và sách nguyện. Những động lực tôn giáo hay thế tục đã trở thành trọng tâm của nhiều cuộc tranh luận, nhưng đối với một số người, thương mại chứ không phải tôn giáo mới đóng vai trò là động lực chính để con người ta tìm cách nâng cao trình độ đọc viết. Chắc chắn, những tác phẩm tiên phong trong việc sử dụng các con số cũng như lịch sử về “tư duy định lượng” (quantitative thought) đã nêu ra gợi ý cụ thể, đồng thời thách thức sự phân cực đơn giản giữa có trình độ đọc viết và không có trình độ đọc viết, giữa khả năng đọc viết nhiều ngôn ngữ khác nhau với khả năng đọc viết phương ngữ trong cùng một độc giả. Tốt hơn là chúng ta nên ghi nhận sự tồn tại của nhiều hình thức biết đọc biết viết khác nhau (literacies) hơn là chỉ thừa nhận một (literacy). Chúng ta cần phải suy nghĩ lại việc đánh giá hoạt động đọc, không phải bằng cách xem rằng có bao nhiêu người đang đọc các văn bản, thậm chí là một văn bản cụ thể, cũng không phải bằng cách xem xét các trường hợp khác biệt ngẫu nhiên về giới tính, tuổi tác, sự giàu có, nghề nghiệp, nền tảng tôn giáo và giáo dục. Chúng ta cần phải xem xét cách chúng ta phân loại những cách thức khác nhau mà mọi người áp dụng để đọc hoặc lựa chọn đọc. Các nguồn lực xã hội và văn hóa của mỗi độc giả cụ thể không chỉ dựa trên hoàn cảnh kinh tế mà còn bao gồm các đặc điểm về năng khiếu, quan điểm, thái độ và ý định.
Nghiên cứu trường hợp về sự biến đổi của hoạt động đọc ở nước Nga là một ví dụ rõ ràng về sự tương tác của các các yếu tố phong phú kể trên. Như công trình nghiên cứu của Gary Marker đã chỉ ra, nhà in lần đầu tiên xuất hiện tại Sa quốc Muscovy* (Nga) vào cuối những năm 1550, nhưng nó đã sa sút nhanh chóng dưới sự kiểm soát của nhà nước vốn được Giáo hội Chính thống Nga hậu thuẫn; do đó đến cuối thế kỷ XVIII, chỉ có một nhà xuất bản lớn được thành lập ở Moscow. Các nhà in về sau được đưa về Nga từ nước ngoài nhờ vào chính sách hiện đại hóa của các đời quân vương Nga. Tuy vậy, hoạt động này vẫn bị bó hẹp bởi nhu cầu hạn chế tại một đất nước lạc hậu, bảo thủ, có trình độ đọc viết phát triển thấp kém. Trong toàn bộ thế kỷ XVII, ngành in ấn tại Nga sản xuất ra không tới 500 đầu sách, mỗi đầu sách thường chỉ phát hành khoảng từ 1.200 đến 2.400 bản. Tuy nhiên, việc nhà nước in phổ biến các bảng chữ cái và sách vỡ lòng vào thế kỷ XX đã trở thành chủ đề của những diễn ngôn lịch sử được bối cảnh hóa do Vadim Volkov và một số tác giả khác biên soạn. Vấn đề nghiên cứu của họ là chất lượng trình độ đọc viết, đặc biệt đặt trong mối liên hệ với hiểu biết về số học cũng như hàng loạt vấn đề đánh giá khác, vốn thách thức bất kỳ khái niệm giản đơn nào về thế nào là “trình độ đọc viết” của một xã hội. Ấn Độ đặt ra một thách thức thậm chí lớn hơn nữa bởi việc khó quy gán tỷ lệ biết đọc biết viết thấp trường tồn tới một lí do cụ thể. Lý do không hẳn chỉ nằm ở chi phí xuất bản đắt đỏ, hay bởi các thực hành truyền thống của việc thầy giáo chỉ truyền lại sách riêng cho học trò qua nhiều thế hệ, mà còn vì sự tồn tại của nhiều truyền thống văn bản khác nhau. Có thể kể ra đầu tiên là bước tiến đáng kinh ngạc của kỹ thuật in thạch bản và hoạt động xuất bản thủ công bằng hàng chục ngôn ngữ bản địa vào thế kỷ XIX.
Từ rất sớm, hạn chế trong hoạt động vận hành, thu mua cũng như sức mua còn lớn hơn cả hạn chế trong việc phổ cập khả năng đọc viết. Những tính toán trên diện rộng về chi phí sản xuất sách cho thấy sự hạn chế này thể hiện mạnh mẽ đối với những độc giả thuộc nhóm “nguy cơ”. Giá cả của sách vẫn luôn là hạn chế lớn ở phương Tây trong giai đoạn sau, khi nó đã có các nền kinh tế thị trường phát triển hơn. Tại châu Âu giai đoạn Sơ kỳ Cận đại, sau đó là cả châu Âu và châu Mỹ trong suốt thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nhiều công nhân và người làm công vốn đã có thể tự hào về khả năng đọc khiêm tốn của bản thân lại thường bị ngăn cản trong việc đọc nhiều hơn - nhất là những tác phẩm mới - vì túi tiền ít ỏi của mình. Giải pháp cho vấn đề này đến từ sự phát triển của các tổ chức in ấn giá rẻ, cụ thể là các tổ chức từ thiện tôn giáo và có ảnh hưởng lớn hơn cả là các hội đoàn truyền giáo; cùng với đó là các tổ chức tham gia vào hoạt động phân phối sách. Những nghiên cứu về các tổ chức như vậy ở Anh vào đầu thế kỷ XIX, ở Hoa Kỳ trước Nội chiến, ở Trung Âu giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, ở Nam Phi giai đoạn Cận hiện đại, và ở những giai đoạn khác còn cho phép xác định những sự phân chia khác nữa trong các nhóm độc giả mục tiêu và độc giả “nguy cơ” căn cứ theo giới tính, sắc tộc và độ tuổi.
Những ghi chép kinh doanh và các khoản vay cung cấp các mô tả chi tiết về khách hàng đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu các diễn ngôn lịch sử về hoạt động đọc của cá nhân. Ghi chép trong hiệu sách thường là về những khách hàng ngẫu nhiên nhiều hơn so với ghi chép của các thư viện - cũng sẽ góp phần làm sáng tỏ vấn đề hơn. Các sổ cái ghi chép hoạt động kinh doanh của gia đình Clay, cụ thể ở đây là John Clay, người kinh doanh sách tại thị trấn Daventry (Anh), đã được nhắc đến trong một cuộc tranh luận giữa Jan Fergus và John Feather về hoạt động kinh doanh sách viết bằng tiếng Anh cấp độ địa phương và độc giả của hoạt động kinh doanh đó trong thế kỷ XVIII. Trong ghi chép kinh doanh cá nhân, người ta chú ý nhiều hơn cả đến các sổ cái còn tồn tại đến nay của hiệu sách Hookham and Carpenter* vào cuối thế kỷ XVIII ở London; nhưng các bản ghi chép kinh doanh như vậy là rất hiếm, và ở những nơi có thể tìm thấy sự hiện diện của chúng, các mẫu phẩm thu được thường không nhiều. Các hồ sơ tương tự hiện còn ghi chép việc mượn sách bao gồm hồ sơ thư viện Vatican từ thế kỷ XV cho đến các hồ sơ của vô số thư viện nhà thờ trong suốt thế kỷ XVIII và XIX. Trong số các thư viện cho phép đăng ký mượn ấn phẩm nổi tiếng khác, có 77 sổ cái ghi chép của Hiệp hội Thư viện Bristol giai đoạn 1773-1857 vẫn còn tồn tại, trong đó 5 tập sớm nhất đã ghi nhận 900 đầu sách được rút ra cho mượn 13.467 lần trong giai đoạn 1773-1784. Vậy nhưng, khối lượng mượn sách như vậy là rất đơn lẻ. Dẫn chứng cho sự đơn lẻ này là các hồ sơ lưu hành ấn phẩm còn đang tồn tại trong các viện đại học và trường đại học, chẳng hạn như: thư viện Bodleian ở Đại học Oxford năm 1647, thư viện của Đại học Tartu ở Estonia giai đoạn 1692-1707, thư viện công cộng Lyon ở Pháp giai đoạn 1899-1911, rất nhiều thư viện của hội đoàn và thư viện cho phép đăng ký đọc/ mượn đọc xuất hiện ở Bắc Mỹ từ cuối thế kỷ XVIII và trong thế kỷ XIX; chưa kể các sổ đăng ký mượn sách rất nhỏ và rời rạc như của thư viện giáo xứ Witham vùng Essex (Anh) từ khoảng năm 1751. Cơ sở dữ liệu tìm kiếm có tên What Middletown Read (Middletown đọc gì) đã được xây dựng trên cơ sở hồ sơ lưu hành tư liệu của Thư viện công cộng Muncie bang Indiana (Hoa Kỳ), nơi tài liệu chứa đựng thông tin của hầu như mọi cuốn sách được mượn cũng như những người đã mượn sách trong giai đoạn 1891-1902. The Dissenting Academies Project là dự án tập hợp một cơ sở dữ liệu cho phép tìm kiếm trực tuyến các ghi chép về việc mượn-trả sách của sinh viên và giảng viên trong khoảng thời gian từ năm 1720 đến năm 1860. Tuy nhiên, đặc điểm đáng chú ý nhất của các ghi chép đó là sự tồn tại của chúng thường rất ngẫu nhiên và bao quát một khoảng thời gian rất ngắn. Một số hình thức thư viện nhất định có thể so sánh được với nhau, nhưng không có một kiểu loại thư viện nào có tính đại diện cả, kể cả nó có tồn tại hay không tồn tại những ghi chép về việc sử dụng sách.
Phương pháp xác định độc giả dễ thấy hơn nhưng phức tạp hơn là thông qua bằng chứng trực tiếp thể hiện quyền sở hữu cá nhân đối với sách, trải dài từ các ghi chép cá nhân đến danh mục sách được thống kê sau khi chủ sở hữu qua đời. Tuy vậy, danh mục sách được thực hiện khi chủ sở hữu còn sống hoặc sau khi họ đã qua đời thường rất chung chung, đôi khi chỉ liệt kê số lượng sách chứ không liệt kê các đầu sách cụ thể. Thêm nữa, chúng vẫn không thể cho ta biết chắc chắn rằng liệu những cuốn sách đó đã bao giờ từng được đọc và ai đã thực sự đọc chúng. Chúng ta có thể tìm thấy những bằng chứng về vấn đề đó khi nó được đề cập đến trong nhật ký, thư từ hay bài luận. Cho dù có liên quan đến các nguồn tài liệu khác hay không, các nguồn tham khảo này thường được sử dụng để suy đoán về quá trình lưu hành sách cũng như sự gia tăng nói chung của số lượng người đọc. Vấn đề khó khăn hơn cả trong trường hợp này là, tất cả hồi ký của cá nhân độc giả cũng như các nhà quan sát đương thời đều khẩn thiết đặt ra các câu hỏi về tính chất chủ quan của ghi chép cá nhân. Như sẽ được thảo luận dưới đây, chúng ta trước hết phải đặt câu hỏi rằng, tại sao người ta lại viết ra những hồi ký hoặc các quan sát kể trên, và chúng ta sẽ phải tập trung chú ý đến tính chất cực kỳ kém tin cậy của việc gợi lại ký ức cá nhân cùng sự tư biện. Cách thức rõ ràng nhất để kiểm soát hạn chế kể trên là tập hợp nhiều các nghiên cứu trường hợp phong phú về các độc giả, đồng thời sử dụng ghi chép cá nhân - bất kể là của độc giả hay người quan sát độc giả - kết hợp với các bằng chứng và nhiều cách tiếp cận khác. Thông qua những công trình nghiên cứu so sánh như vậy, nghiên cứu về lịch sử của hoạt động đọc sẽ được kết nối tốt hơn với bằng chứng về hoạt động sử dụng sách mà độc giả thực sự để lại. Thách thức tiếp theo qua đó sẽ là việc bắc cầu diễn giải từ những gì chúng ta biết về các hoàn cảnh mà một văn bản đã được đọc đến chỗ xác lập một hiểu biết thấu đáo về các quá trình tiếp nhận văn bản.