Lịch Sử Của Sách

Lượt đọc: 558 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Viễn cảnh và Dự án mới

❊ ❊ ❊

Thách thức đến từ sự phân biệt trong nghiên cứu sử học giữa các văn bản được xuất bản và văn bản được lưu hành không có gì mới. Những đóng góp trước đây trong lịch sử của sách bắt nguồn từ việc khám phá câu hỏi phức tạp bậc nhất trong nghiên cứu lịch sử Pháp: rằng đâu là nguyên nhân của cuộc Cách mạng? Dù chưa được đánh giá đầy đủ vào thời điểm đó, nhưng từ các nghiên cứu đầu thế kỷ XX về thư viện và văn học đại chúng Pháp thế kỷ XVIII - trong đó đáng chú ý là các sách bibliothèques bleues [18] - các nhà nghiên cứu đã xây dựng phương pháp luận và các vấn đề nghiên cứu mà sau này sẽ làm thay đổi các lĩnh vực lịch sử văn hóa và lịch sử tư tưởng. Các công trình của Daniel Mornet, Marc Bloch, Lucien Febvre và sau này là Robert Mandrou và những người khác, nhiều người trong số này là các nhà nghiên cứu lịch sử xã hội, kinh tế và văn hóa thuộc Trường phái Biên niên (Annales), đã phát triển các định hướng và một ngành bibliologie rộng mở cho những nghiên cứu rộng lớn hơn về mặt khái niệm. Tại đây, trắc lượng thư mục được phát triển từ phương pháp liệt kê và thống kê, vốn áp dụng để tìm cách giải đáp câu hỏi rằng cuộc Cách mạng Pháp có ý nghĩa gì đối với giới bình dân đồng thời là độc giả, mặc dù truyền thống thư tịch học và xã hội học, cũng như truyền thống nghiên cứu “histoire du livre” (lịch sử của sách) phong phú này của người Pháp đã không được độc giả Anh ngữ biết đến trong một thời gian dài.

Mornet chủ yếu nghiên cứu lịch sử văn chương thế kỷ XVIII, với một bài báo chuyên đề xuất bản vào năm 1910, sau đó được phát triển thành một công trình nổi tiếng hơn là Nguồn gốc tư tưởng của Cách mạng Pháp 1715-1787 (The Intellectual Origins of the French Revolution 1715-1787) xuất bản năm 1933. Trong nỗ lực xác định những gì đã thực sự được đọc, Mornet xem xét câu hỏi về nguồn gốc tư tưởng và ý thức hệ của Cách mạng bằng việc phân tích 712 bộ danh mục thư viện tư nhân được mang đấu giá từ năm 1750 đến năm 1780 hiện đang lưu giữ tại thư viện thành phố Toulouse. (Các vấn đề phát sinh từ cách tiếp cận này sẽ được đánh giá lại trong Chương 5.) Mornet đã xây dựng các bảng thống kê chi tiết đến nỗi có thể khiến các nhà sử học thời đại Khai sáng cảm thấy kinh ngạc, bởi vì ông không chỉ đơn giản phục hồi các tác phẩm bị lãng quên - từng là các tựa sách được đọc nhiều nhất - từ bộ sưu tập của khoảng 500 thư viện hiện đại, mà còn bởi ông đã tìm ra trong số 20.000 cuốn sách được khảo sát chỉ duy nhất một bản in Khế ước xã hội của Jean-Jacques Rousseau. Nhưng ở đây có một vấn đề mà tất cả các nhà nghiên cứu lịch sử của sách cần phải hiểu, đó là phương pháp loại suy của Momet cũng bị phê phán vì đã không tính đến việc các quy định kiểm duyệt loại bỏ nhiều đầu sách tranh cãi ra khỏi danh sách đấu giá sách và danh mục ông nghiên cứu. Kể cả vậy thì, như lời của Robert Darnton: “Kết luận dường như là hiển nhiên: cái cuốn sách mà hậu thế sau này tôn vinh là Kinh Thánh của Cách mạng Pháp đã hầu như không được đọc chút nào trước năm 1789” [19].

Những đóng góp nghiên cứu từ Pháp và châu Âu lục địa; định hướng đặc trưng nghiêng về lý thuyết và trắc lượng thư mục của họ tương phản với truyền thống thư mục học và nghiên cứu thực nghiệm lâu đời của thế giới Anh-Mỹ, trong đó tận dụng bộ thư mục hồi cố quốc gia của Anh kết hợp với thư mục học phân tích, thư mục học văn bản cùng việc nhấn mạnh vào điều kiện kinh tế và vật chất trong “lịch sử sách”. Nhưng tư duy mới cũng đã xuất phát từ những thách thức của cả nghiên cứu đầu tiên theo điểm nhìn liên quốc gia và những nỗ lực quốc gia cấp tiến trong lịch sử của sách. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, theo sau Mornet và các nhà nghiên cứu khác, hai cột mốc nghiên cứu lịch sử nhưng cũng đầy thách thức đã làm thay đổi nhận thức về sách thời Sơ kỳ Cận đại trong bối cảnh lịch sử khoa học, xã hội, chính trị và tư tưởng châu Âu nói chung. Năm 1958, Henri-Jean Martin và Lucien Febvre trong công trình L’Apparition du livre đã lập một niên biểu để cho thấy tốc độ đáng kinh ngạc của quá trình áp dụng kỹ thuật in ấn ở châu Âu đến từng thị trấn, tổ chức tôn giáo và trường đại học. Nỗ lực đáng nể này, từng bước chậm chạp ảnh hưởng đến phương pháp luận nghiên cứu của những thập kỷ tiếp theo, một phần dựa vào các kết luận liệt kê bao quát và ngầm củng cố ý tưởng rằng, kỷ nguyên in ấn đầu tiên đã tạo ra sự khác biệt (otherness) cũng như sự cự tuyệt (abandonment) đối với văn hóa chép tay (nhận thức này đã bị các học giả sau này phê phán). Hai mươi năm sau, ngay sau khi L’Apparition du livre lần đầu xuất hiện bằng tiếng Anh với tiêu đề The Coming of the Book (Sự xuất hiện của sách), Elizabeth Eisenstein* đã mở rộng triệt để tự sự về tác động hiện đại hóa này của kỹ thuật in ấn bằng cách lập luận rằng, báo in thế kỷ XVI đã kích thích một cuộc cách mạng trí tuệ, khoa học, chính trị, và tôn giáo. Lịch sử của sách, về căn bản - và với một số người, nhất thiết - liên quan đến quá trình chuyển giao tri thức, nhưng vấn đề tác động lịch sử của in ấn đã được nâng tầm lên thành một uy thế sử học đặc biệt. Luận điểm của Eisenstein dựa trên ba mệnh đề chính: thứ nhất, báo in đã cách mạng hóa trước tiên là khối lượng sản xuất văn bản; thứ hai là tốc độ sản sinh văn bản; và thứ ba là bản chất của chính văn bản. Khối lượng in ấn rõ ràng lớn hơn nhiều so với sản lượng văn bản đầu ra từ việc chép tay, cũng như tốc độ nhanh của quy trình in ấn cho phép văn bản phổ biến nhanh hơn và thúc đẩy tranh luận hiệu quả hơn và thường xuyên có tính kích động hơn.

Những lập luận như vậy dựa vào việc coi trọng sức mạnh tạo nên biến đổi bước ngoặt của công nghệ in và do đó thường bị dán nhãn là “công nghệ quyết định luận”. Mệnh đề thứ ba trong luận điểm của Eisenstein bị xem là mang tính bao quát và gây tranh cãi nhất. Theo Eisenstein và những người ủng hộ bà - thường tham gia một cách khéo léo - chính năng lực sản xuất của kỹ thuật in ấn tác động đến cuộc cách mạng hệ thống truyền thông được gây ra bởi tính chất cố định văn bản đặc biệt, qua đó mang lại một quyền lực mới cho con chữ in và tính chắc chắn mới cho các cuộc tranh luận. Luận điểm không hề vô ích ở đây là một độc giả ở Praha cũng có thể đọc và thảo luận một văn bản gần tương tự với nội dung ấn bản một độc giả ở Lisbon sở hữu. Văn bản đã không còn bị biến dạng vì phong cách và kỹ năng của người sao chép, và tính thiếu xác thực - dù có hay không - của văn bản đã không còn nữa. Sự phụ thuộc vào giao tiếp truyền khẩu đã được giảm bớt bởi một “bước chuyển hệ thống truyền thông”, trong đó các dấu hiệu và hình ảnh được mã hóa và tạo ra cái mà Eisenstein gọi là “văn hóa in ấn”. Khái niệm này của Elizabeth Eisenstein đã trở nên phổ biến dù bà không phải người đầu tiên nhắc đến nó. Mâu thuẫn dễ thấy nhất của lập luận này trước hết nằm ở các bản sao in sách và đặc biệt là các sản phẩm chữ in dập đầu tiên: chúng không thực sự thống nhất và có sự khác biệt lớn giữa từng ấn bản riêng lẻ với nhau; đồng thời, các bản sao của cùng một lần in - thậm chí trong cùng một bản sao - đều được các độc giả đọc hiểu rất không giống nhau.

Sẽ còn nhiều vấn đề để tranh luận về “văn hóa in ấn” trong cuốn sách này, nhưng khái niệm “cách mạng in ấn” được đề cao ở đây thực ra là cuộc cách mạng của quá trình chuẩn hóa, quá trình xác định ngôn ngữ, quá trình dịch thuật sang các ngôn ngữ bản địa và sự hồi sinh của nghiên cứu cổ điển và của ngôn ngữ cổ đại. Có lẽ có ảnh hưởng nhất là việc các kỹ thuật và các ngành sản xuất mới đã đóng góp cho thành công của quá trình biên dịch Kinh Thánh từ tiếng Latinh ra các ngôn ngữ của giới bình dân nam nữ. Kỹ nghệ qua đó tương tác với các xung lực mới nổi lên trong tôn giáo, chính trị và khoa học để tạo ra - từ số lượng rất nhiều ấn phẩm phong phú - các ấn phẩm đại chúng và ấn phẩm chuyên môn, bao gồm các tiểu luận thần học Luther và thần học Calvin, các chuyên luận về Copernicus và các bản in tác phẩm của Pliny, Galen và Aristotle. Như sẽ thảo luận trong các chương tiếp theo, rất phù hợp là phần lớn các diễn ngôn lịch sử xã hội chi tiết, hay là diễn ngôn “lịch sử vi mô” (microhistory*, đặt ra câu hỏi nhấn mạnh vào “tính cố định” (fixity) của những văn bản in này, và trả lời câu hỏi đó thông qua phương pháp đánh giá trải nghiệm đọc. Bất chấp việc công nghệ in ấn hiển nhiên cho phép sao chép văn bản diễn ra nhanh hơn, với số lượng lớn hơn và với tính ổn định kỹ thuật chưa từng có, một văn bản sẽ không thực sự mang ý nghĩa cho đến khi nó được đọc. Theo cách hiểu này, một văn bản là một đối tượng văn hóa có tính chất không ổn định.

Trong giai đoạn giữa thời điểm ra đời L’Apparition du livre và luận đề của Eisenstein, sự quan tâm và trình độ chuyên môn ngành lịch sử của sách tiếp tục phát triển sâu hơn nhờ vào sự hỗ trợ của các hiệp hội thư tịch cũng như nhờ vào ảnh hưởng gia tăng và sự cởi mở của các dự án, ấn phẩm và tạp chí của các hiệp hội này. Hiệp hội Lịch sử In ấn được thành lập tại London vào năm 1964, theo sau là việc thành lập Hiệp hội Lịch sử In ấn Hoa Kỳ. Rất nhiều bảo tàng chuyên đề lịch sử in ấn được mở ra tại Châu Âu, Bắc Mỹ và nhiều nơi khác trên thế giới. Đó là những nguồn tài nguyên học thuật cũng như nguồn cảm hứng cho sự quan tâm của công chúng. Các nhà máy giấy đã đóng cửa hay tái thiết một phần cũng mở cửa chào đón du khách và sinh viên, khuyến khích nhiều nhóm đối tượng cùng tham gia, học tập và nghiên cứu (bảng 1).

Cùng với vai trò của các thư viện và các sáng kiến văn hóa tư nhân và nhà nước, các bảo tàng trong giai đoạn đầu đã báo hiệu cho sự xuất hiện các trung tâm và viện nghiên cứu lịch sử của sách trong các trường đại học cũng như mối quan tâm tương tác ngày càng lớn của công chúng với lịch sử phương tiện truyền thông - dù hiện tượng này sẽ sớm bị lu mờ bởi sự xuất hiện của công nghệ số. Năm 1977, Daniel Boorstin, khi đó là thủ thư tại Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, đã chính thức thành lập một Trung tâm Sách nhằm mục tiêu quảng bá sách, văn hóa đọc viết, thư viện và các nghiên cứu lịch sử thuộc nhiều hướng chuyên ngành, và chọn John Y. Cole là Giám đốc sáng lập. Kể từ năm 1984, Trung tâm đã hỗ trợ việc thành lập các trung tâm sách chi nhánh ở tất cả 50 tiểu bang, với nhiều hoạt động đa dạng. Các trung tâm khác với quy mô lớn nhỏ khác nhau được thành lập ở nhiều nơi sau đó (bảng 2). Từ những năm 1980, các tổ chức nghiên cứu lâu đời cũng bắt đầu quan tâm đến các phát triển mới trong ngành lịch sử của sách, thông qua việc tổ chức các bài giảng, mở các vị trí nghiên cứu mới, xuất bản ấn phẩm và tổ chức các trường hè và hội thảo chuyên đề. Ví dụ, Hiệp hội cổ học Hoa Kỳ ở Worcester, Massachusetts vào năm 1983 đã tổ chức Chương trình Lịch sử sách trong văn hóa Hoa Kỳ, được tiếp nối bởi các sáng kiến tương tự của Thư viện William Andrew Clark tại Đại học California - Los Angeles (UCLA) và Trung tâm Harry Ransom tại Đại học Texas - Austin.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

Truyện bạn đang đọc dở dang