Các diễn ngôn lịch sử hoạt động sưu tầm, thu thập sách và lịch sử thư viện đã trải qua những quá trình xét lại đáng chú ý trong vài năm gần đây, xem xét lại bằng chứng về quá trình sử dụng, nhận thức, đặc biệt là thiết kế, tận dụng không gian thư viện cùng việc tổ chức và phân loại kho lưu trữ của thư viện. Roger Chartier với công trình L’Ordre des livres và những đóng góp khác của ông cho các tạp chí chuyên ngành như Library and Information History, Library Quarterly và Libraries and Culture (hiện có tên mới là Information and Culture) đã mở rộng đáng kể cơ sở của một khái niệm vốn thường bị hạn chế. Các phân tích lịch sử có tính tiên phong của Paul Kaufman tại Anh hay của Bernhard Fabian, Paul Raabe tại Đức đã được Alistair Black, Kenneth Carpenter, David McKitterick cùng nhiều nhà nghiên cứu khác mở rộng. Như David Pearson đã chứng minh, nghiên cứu về xuất xứ - vốn từng bị bỏ quên - có đóng góp rất lớn trong nghiên cứu lịch sử thư viện: bởi vì, nếu không có tiến bộ trong việc xác định lịch sử sở hữu, trao đổi và biên mục sách, chúng ta sẽ mất đi một khía cạnh thiết yếu để nhận thức về quá trình lưu hành và quy mô ảnh hưởng của sách [8]. Ý nghĩa của thư viện - cũng là tiêu đề của một tuyển tập tiểu luận do Alice Crawford biên tập - sẽ tiếp tục gây ảnh hưởng khi mà tính chất vật chất của sách đang liên tục thay đổi, cũng như ảnh hưởng đến quá trình chúng ta thiết kế lại các không gian bảo quản sách và không gian đọc chung. Đây cũng là vấn đề sẽ tiếp tục được triển khai trong chương 5.
Các thư viện, dù cổ điển hay hiện đại, thường xuyên đầu tư (tiền bạc, thời gian và công sức) để cải thiện công tác bảo quản, giám sát, tích lũy và tiếp cận sách. Tuy nhiên - mở rộng vấn đề tôi đưa ra ở cuối chương 1 - các thư viện cũng có thể góp phần vào quá trình tan rã của các bộ sưu tập sách cũ hay quá trình tái cấu trúc các thư mục ban đầu. Quá trình tích lũy mang tính vật lý của sách cổ thành các bộ sưu tập hay giấy vụn thải loại đã báo hiệu cho sự ra đời của các thư viện; nhưng hầu hết các tổ hợp lưu trữ đều có những cuốn sách được bảo vệ đặc biệt, bị tách khỏi quy trình kiểm tra thông thường, hay là bị chôn vùi - thay vì bị tiêu hủy - trong các nghi lễ thiêng liêng. Điều này dẫn lối cho chúng ta hiểu về lịch sử của một kho tàng cổ xưa thuộc loại này - bị chôn vùi trong phế tích cung điện Nineveh (Kuyunjik, Iraq ngày nay) - bao gồm hơn 30.000 bảng chữ hình nêm và các mảnh khắc về các chủ đề lịch sử, thư từ, pháp lý, bói toán, y học, văn học và từ vựng. Được cho là thư viện của Ashurbanipal, vua của Assyria (trị vì khoảng 668-630 TCN)*, kho tàng này được quảng bá như thư viện hoàng gia lâu đời nhất còn tồn tại trên thế giới. Hiện nay, nó trở thành trung tâm của một chương trình nghiên cứu và truy cập mở quy mô lớn nhất kể từ khi được tái phát hiện vào năm 1850. Năm 2002, Thư viện Anh đã hợp tác cùng Đại học Mosul (Iraq) để thành lập Dự án Thư viện Ashurbanipal, sử dụng công nghệ kỹ thuật số để giới thiệu cho những độc giả tương lai nội dung của kho tàng sách cổ này. Những chiến lợi phẩm có tính chất quan liêu nhà nước, tôn giáo và văn hóa như vậy là một phần bản chất của một nhà nước quần sự có nhu cầu kiểm soát, nếu không phải là kiểm duyệt, đối với một số hình thức tri thức có giá trị đảm bảo sự thành công cho đế chế.
Thư viện, việc tích lũy sách và ý niệm về ghi chép thông tin bằng sách vở phải đối mặt với các hiện tượng trái ngược ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới. Các chuyên gia về văn hóa Ấn Độ và Nam Á sơ kỳ đã nhấn mạnh rằng, chính niềm tin vào hiệu quả tinh thần của hình thức truyền khẩu cùng quy trình ghi nhớ phức tạp đã giải thích lý do vì sao các vị đạo sư tiên khởi truyền giảng nội dung trong Kinh Veda (Vệ-đà), Sutra (Tu-đa-la) và Jaina (Kỳ-na)* đã nhất mực từ chối việc bảo tồn văn bản dưới dạng chữ viết. Chính bộ sử thi vĩ đại của Ấn Độ Mahabharata đã đuổi rủa “những kẻ chép kinh Veda” cùng những tên bán sách kinh và những kẻ phát âm sai kinh văn phải xuống địa ngục. Tuy nhiên, từ khoảng thế kỷ IX, giới tinh hoa Ấn Độ giáo, Phật giáo và Kỳ Na giáo đã bắt đầu chấp nhận tính tiện ích của dạng ghi chép thành văn. Cuộc tranh luận về nội dung giáo lý của Đức Phật cùng sự suy yếu của truyền thống truyền khẩu sau một nạn đói lớn* được xem là hai lý do để cả tín đồ Phật giáo và Kỳ Na giáo bắt đầu làm ra các sách ghi chép giáo lý và lưu trữ chúng. Sau đó, vào cuối thế kỷ XII, khi quân đội Hồi giáo của Muhammad Ghuri* phá hủy các đền thờ, tu viện và toàn bộ thành thị miền bắc Ấn Độ, các tín đồ Vệ Đà cũng bắt đầu chép lại Kinh Veda thành văn bản để bảo tồn. Ở Ấn Độ giai đoạn Tiền Cận đại, các bộ sưu tập thủ bản được tập hợp trong thư viện hoàng gia, bổ sung thêm bởi các dự án xuất bản lớn do hoàng gia bảo trợ và các thư xưởng thực hiện, ví dụ như trong các trung tâm tu hành tại Nalanda và Vikramasila (Bengal, Ấn Độ ngày nay). Trong số các thư viện được thành lập có 21 thư viện do vua Kumarapala (quân vương của xứ Gujarat, 1143-1172)* xây dựng tại các “kho tàng tri thức” của Kỳ Na giáo và các tu viện Phật giáo khác.
Những tác phẩm như vậy được xem là báu vật được bảo vệ, giống như những bảng đất sét nung trong thư viện Ashurbanipal cổ đại, vốn sinh ra không dành cho việc mượn hay tham khảo công khai. Nếu như ta có thể hình dung chính xác động cơ của việc tích trữ các kho sách này, ta sẽ thấy được hiện tượng chủ động đàn áp và phá hủy tác phẩm đã diễn ra như thế nào. Sự tàn phá này có thể nảy sinh từ những cuộc tranh giành quyền lực và trả đũa hay sự xâm lăng của các chế độ hay kẻ thù đối địch - qua đó, một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của việc các nhà nghiên cứu lịch sử sách công nhận vai trò của sự mất mát. Tương tự như vậy, liên quan đến hiện tượng tiêu hủy thông qua chôn cất có chủ ý là các genizah גניזה, một từ trong tiếng Do Thái dùng để chỉ “kho tàng”, biến đổi một không gian tách biệt trở thành một loại phòng thuộc khuôn viên các giáo đường hay nghĩa trang Do Thái. Các genizah thường được sử dụng làm chỗ tạm thời cất chứa các loại sách và giấy tờ có nội dung tôn giáo viết bằng chữ Do Thái, đã cũ nát hoặc bị thải bỏ, trước khi chúng được đem đi chôn cất đàng hoàng ở nghĩa trang. Mặc dù vẫn có những bất đồng lớn trong nghiên cứu, chúng ta vẫn có thể tin rằng Các Cuộn sách Biển Chết - hầu hết là các văn bản liên quan tới Do Thái giáo, soạn bằng tiếng Hebrew cùng các bản dịch tiếng Hy Lạp và Aramaic - từng được lưu giữ qua nhiều thế hệ như một genizah các văn bản tôn giáo cũ, thiêng liêng đến mức không ai được phép tiêu hủy chúng. Các kho tàng tương tự được phát hiện tại Qubbah (Lybia) hay lăng mộ trong Đại Thánh đường Hồi giáo Damascus (Syria) đã tiết lộ rằng, các nền văn hóa cổ xưa có mang theo những cội rễ ngôn ngữ. Sự tồn tại của dạng thư tịch bất thường và được tái sử dụng thường xuyên này cung cấp điểm nhìn sâu sắc, rất có giá trị về trạng thái đơn thuần và thường nhật của đời sống. Tuy nhiên, tỷ lệ hư hại khác nhau của vật liệu vẫn đặt ra nhiều vấn đề chưa có lời giải đáp. Nó nhắc nhở chúng ta rằng, những bằng chứng thông tin mà sách cung cấp cho các nhà nghiên cứu vẫn luôn mang tính thách thức và không bao giờ dễ xác quyết.
Trong khi đó, nghiên cứu về các thư viện phương Tây lại đặc biệt phong phú về nội dung. Những nghiên cứu này khám phá nhiều khía cạnh khác nhau của hệ thống thư viện từ thư viện tư nhân, thư viện vì mục đích thương mại đến thư viện công cộng cũng như các cơ sở thư viện của giáo hội, cơ quan tổ chức nhà nước hay đại học, vốn ra đời để thay thế vai trò của các thư viện tu viện thời Trung cổ - đôi khi là chiếm đoạt sách của các tu viện đó trong thời kỳ Cải cách tôn giáo và Khai sáng. Công trình tiên phong của Sears Jayne nỗ lực xác định thư mục, sổ sách kế toán kho lưu trữ, quyên góp và hộ gia đình hay của các nhà bán sách gần đây đã được mở rộng bởi một dự án mang tên “Các thư viện tư nhân tại Anh thời kỳ Phục Hưng” (Private Libraries in Renaissance England; PLRE). Những cách thức tích trữ hay trưng bày sách khác nhau sẽ thách thức cách chúng ta vận dụng khái niệm “riêng tư” (private) trong các hoạt động đó. Việc có nhiều loại không gian khác nhau có thể sử dụng để lưu giữ và khai thác sách cũng đặt ra vấn đề với khái niệm “thư viện”. Ở thời kỳ này cũng như các giai đoạn vẻ vang về sau của niềm say mê sách vở, việc đặt một hay nhiều bộ sưu tập sách tại nơi ở hay lưu chuyển giữa nhiều khu vực sinh sống đòi hỏi nhà nghiên cứu phải suy nghĩ bao quát hơn về mối quan hệ giữa sách, chủ sở hữu sách và gia đình của họ. Cho đến giữa thế kỷ XIX, ngay tại châu Âu và hệ thống thuộc địa của nó, các thư viện thực sự mang tính công cộng rất hiếm tồn tại và luôn luôn bị hạn chế theo nhiều cách.
Cũng tính đến thời điểm giữa thế kỷ XIX, tại Trung Quốc, thư viện công cộng không hề tồn tại. Thực tế lịch sử cho thấy, chia sẻ kiến thức qua các bộ sưu tập sách không phải là hoạt động phổ biến. Điều này tạo cơ hội cho các nhà sử học về sách có thể đặt ra những câu hỏi nghiên cứu mang tính so sánh, đồng thời giải thích lý do tại sao hoạt động thu thập và chia sẻ sách lại trở nên phổ biến trong giới có học thức ở châu Âu giai đoạn từ năm 1500 đến năm 1850. Hướng nghiên cứu điều tra như vậy cũng sẽ gợi ý thêm cho chúng ta về những hình thức hỗ trợ xã hội khác nhau dành cho tri thức khoa học tự nhiên và nhân văn ở cả châu Âu lẫn Trung Quốc. Một lịch sử toàn cầu có tính so sánh về thư viện sẽ làm gia tăng hiểu biết về hoạt động sáng tạo và lưu chuyển tri thức, cũng như buộc ta phải suy ngẫm lại vấn đề “sách trong xã hội” - về hoạt động thu nhận, về các quan điểm ý tưởng, về giá trị, về tính chất kinh điển, hay về cách thức một nền văn hóa sách có thể là.