Có rất nhiều khái niệm mới bằng tiếng Pháp trong cuốn sách này - livres sans frontieres, livres sans auteurs và livres sans speecheurs. Chúng có thể khiến chúng ta tự hỏi liệu có cuốn sách nào vừa xuất hiện tự do ở mọi nơi, không có tác giả và cũng chẳng có độc giả. Lẽ tất nhiên là một khi những cuốn sách được sản xuất ra bởi năng lực chủ thể của con người, chúng có thể bị bỏ mặc hoặc bị cất đi mà chẳng ai đọc tới. Người ta sẽ can thiệp nhằm đảm bảo việc bảo quản sách ở mức cơ bản; song nếu mọi thứ chỉ có vậy thì hệ quả là chúng ta sẽ chỉ có các livres và các histoires chứ không thể có lịch sử của sách / lịch sử của thư tịch.
Sách, dưới tất cả các dạng thức tồn tại của nó, đều chứa đựng văn bản mà việc đọc chúng sẽ truyền tải ý nghĩa về phương diện tri thức và phương diện ý hệ. Sách truyền tải kiến thức thông qua hình thức vật lý hay truyền tải thông điệp thông qua phương tiện truyền đạt / vật trung gian; đồng thời sách cũng chia sẻ một số đặc điểm với các loại hàng hóa vật chất khác. Ý nghĩa có thể được truyền đạt thậm chí từ trước khi một quyển sách được đọc, thông qua cảm nhận từ xúc giác, thiết kế và hoa văn trang trí. Các kết nối được tạo ra bằng ký hiệu, văn tự và ấn bản sẽ không đem lại được sự trao đổi tương tác giữa những con người không bị khoảng cách chia cắt. Tuy nhiên, theo nhiều cách, sách có tính liên kết tương tự như của chữ cái hay các dạng thức thu nhận giao tiếp khác. Chính tính chất dễ mang theo, dễ đọc và bền của thủ bản, sách in và các dạng sách khác, nhất là báo in và ấn phẩm định kỳ, đã mở rộng và khuếch đại phạm vi lan tỏa của hoạt động trao đổi. Quá trình trao đổi này thay đổi theo những biến chuyển của liên kết tôn giáo, chiến tranh, xâm lược, chủ nghĩa thực dân, di cư, lưu vong, thương mại, chủ nghĩa dân tộc, cách mạng và độc lập chính trị.
Ở châu Âu vào khoảng giữa thế kỷ XVIII và ở châu Á vào khoảng cuối thế kỷ XIX, hầu hết đàn ông và phụ nữ, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, đều đã tiếp xúc với các sản phẩm in ấn, bất kể chúng có thực sự được đọc hay không. Tuy vậy, sản phẩm in ấn không bị giới hạn trong những gì được nghĩ trước nay là “sách” hay “xuất bản phẩm”; vì ngay cả cho đến cuối thế kỷ XVIII, vẫn chỉ có một thiểu số người dân châu Âu có thể đọc một cách tự tin những sách pamphlet, nhật báo, sách in, thậm chí cả Kinh Thánh, sách nguyện hay sách thánh ca. Nghiên cứu về quá trình đọc kể trên góp phần rất lớn vào việc nhà sử học khái niệm hóa những biến đổi xã hội ngẫu nhiên của các niềm tin quá khứ. Vì thực hành đọc, không gì khác ngoài sự kiến tạo nên những ý tưởng cụ thể, không phải là thứ kinh nghiệm phổ quát hoặc vượt thời gian: Nó bị quy định bởi hoàn cảnh lịch sử, trong đó thực hành đọc trở thành một phần của quá trình phục hồi bản sắc lịch sử của một văn bản. Đó là vấn đề cốt lõi trong lịch sử của sách. Bằng cách phục hồi và đưa ra giải thích đối với một loạt văn bản sẵn có, chúng ta sẽ giúp giải cứu không chỉ lịch sử của tư tưởng mà cả thực hành diễn ngôn phổ biến khỏi việc nghiên cứu biệt lập một tập hợp văn bản kinh điển. Ta cũng sẽ đánh giá được sự khác biệt giữa ý nghĩa muốn truyền đạt và ý định của tác giả, khuếch đại những gì thiếu vắng và soi sáng những điều bất ngờ. Nghiên cứu lịch sử của sách tiếp tục phá vỡ sự phân cực được nhìn nhận rõ ràng giữa giới bình dân và giới tinh hoa, đồng thời khám phá các cấu trúc tinh thần và làm xói mòn các phạm trù đối lập sai lầm như “biết đọc viết” và “mù đọc viết”.
Như đã được minh họa, có rất nhiều dẫn chứng về phương pháp nghiên cứu lịch sử của sách cho phép nhìn nhận lại các lập luận lịch sử có tầm ảnh hưởng quan yếu và do đó, khuyến khích các chương trình nghiên cứu mới mẻ và mang tính khơi gợi. Vào thập niên 1980, cuốn sách English Culture and the Decline of the Industrial Spirit 1850-1980 (Nền văn hóa Anh và sự thoái trào của tinh thần công nghiệp trong những năm 1850-1980) của Martin J. Wiener đã đạt được tầm ảnh hưởng lớn lao không chỉ trong giới sử học, mà còn trong các trường kinh doanh trên toàn thế giới. Sir Keith Joseph* thậm chí đã gửi tặng bản in cuốn sách đến tất cả thành viên Nội các của cố Thủ tướng Anh Margaret Thatcher. Trong cuốn sách của mình, Wiener lập luận rằng, văn chương và văn hóa đã phổ biến một tinh thần (ethos) phản-công thương (anti-business) và góp phần tạo ra góc nhìn thiếu thiện cảm với kinh tế tồn tại dai dẳng ngay trong giai đoạn đỉnh cao thành công về kinh tế cuối thời đại Victoria. Có rất nhiều lập luận phản đối: Các giá trị phản-công thương không phải hiện tượng mới mẻ và chính các địch thủ kinh tế của nước Anh cũng tạo ra một nền văn hóa phản-công thương mạnh mẽ. Tuy nhiên, những câu hỏi hiển nhiên nhất ta có thể đặt ra là về cách Wiener sử dụng các dẫn chứng văn học mà không chú ý đến tính phổ biến của văn bản, sự tiếp nhận cùng hướng giải thích được công nhận về mặt lịch sử của các văn bản đó. Bằng cách phân tích các ấn phẩm được in lại với số lượng lớn vào cuối thế kỷ XIX và cả trong những thập kỷ trước nữa, nhà nghiên cứu có thể tạo ra một diễn ngôn lịch sử thay thế. Thêm vào đó, cuộc tranh luận về “các khung nền tư duy” cũng đòi hỏi các nhà sử học điều chỉnh lại cách xác định xác định tính phổ biến và cộng đồng độc giả của nhiều thể loại văn học đa dạng (như phương pháp được Janice Radway và nhiều người khác thảo luận trong cuốn sách này).
Ý nghĩa thực hành đọc đem lại đặt ra những thách thức nghiên cứu mới, nhưng là những thách thức được xây dựng dựa trên cuộc thâm nhập vào địa hạt của các diễn ngôn lịch sử tinh thần (histoires des mentalités) về sách cũng như chức năng của sách trong quá trình lan tỏa tri thức. Nhìn lại một ví dụ khác, nỗ lực hiểu thấu đáo về khái niệm “tâm lý tập thể” (collective psychologies)* của Robert Mandrou vào năm 1964 khá tương đồng với các nghiên cứu cùng chủ đề của Philippe Ariès, Jean-Louis Flandrin và Michel Vovelle. Mandrou đã định nghĩa một nền văn hóa chia sẻ tính đa cảm bình dân từ suy luận về các tiêu đề trong tủ sách La Bíbliothèque bleue de Troyes (Tủ sách “bìa lam” thành Troyes). Ông cũng bám sát nghiên cứu (đã được thảo luận trong sách) về thực hành đọc của quần chúng trước cuộc Cách mạng Pháp của Daniel Momet vào năm 1933 [1]. Cả hai ghi chép này đều dễ bị phê phán về tính cục bộ cùng tính vụn vặt của nguồn tham khảo, song nhờ gợi mở của những nghiên cứu như vậy, Carla Hesse, Jeremy Popkin cùng một số nhà sử học khác đã dựa trên cách tiếp cận thư mục học để đưa ra những diễn giải mới mẻ, đầy thách thức về nguyên nhân của Cách mạng Pháp. Robert Darnton đã làm sống động lại nghiên cứu về loại sách bình dân cỡ nhỏ, về việc đọc, phân phối cũng như chính sách quản lý đối với chúng tại Pháp vào thế kỷ XVIII. Công trình của ông hiện vẫn được tiếp nối trong nhiều hướng nghiên cứu mới và thú vị.
Các diễn ngôn lịch sử về người đọc và thực hành đọc đang đóng góp vào những khẳng định trong nghiên cứu về sự biến đổi lâu dài của nền văn hóa và chính trị, cho dù nhiều nghiên cứu vấp phải giới hạn đáng kể về yếu tố thời gian cũng như không gian. Chẳng hạn, bất cứ ai đang khảo sát sự tiếp nhận sản phẩm in ấn ở chầu Âu và các xứ thuộc địa của châu Âu đều ở dưới cái bóng của một số nhận định chung, và những nhận định này lại dựa vào một khối đa dạng tâm thức và cảm xúc tập thể. Cách nhấn mạnh vào việc gia tăng độc giả - càng nhiều sách, càng có nhiều độc giả - thúc giục nhà nghiên cứu muốn khái quát hóa sự hình thành của vô số yếu tố hiện đại. Trong đó, diễn ngôn lịch sử về thực hành đọc khi được đặt trong các tự sự lớn hơn, góp phần hình thành một biên niên sử mang tính mục đích luận về sự tiến bộ, về hành trình phổ cập đọc viết, của khai sáng, chủ nghĩa cá nhân, tranh luận mở, trao quyền và nền dân chủ. Tất cả đều định vị như là các lực lượng tiến bộ, trong đó cái gọi là “nền văn hóa in ấn”, nửa là người nuôi dưỡng, nửa là người chép sử. Như David Cressy đã cảnh báo trong một nghiên cứu tương tự, tỷ lệ biết chữ thấp trong giai đoạn Sơ kỳ Cận đại không nhất thiết là “chỉ dấu của tình trạng chậm tiến hay lầm than, đang chờ đợi được điều chỉnh bởi lực lượng tiến bộ” [2]. Ngược lại, quá khứ, thường là diễn ngôn lịch sử đậm chất lãng mạn của hoạt động đọc sách trong thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX, lại tập hợp những ghi chép về quá trình dân chủ hóa xuất phát từ điểm nhìn ưu thế trong giai đoạn thành công sau này. Đối với Richard Altick chẳng hạn, “trên thực tế, lịch sử của thực hành đọc đại chúng là lịch sử của nền dân chủ Anh”[3].
Các phân tích giàu sắc thái hơn của các nhà sử học xã hội và sử học văn hóa hiện nay thể hiện sự lão luyện trong nghiên cứu cũng như hiểu biết về lịch sử của sách và thư mục học. Chúng tiếp tục gọt giũa, hoàn thiện thêm lịch sử xã hội của tư tưởng và tri thức. Những diễn ngôn lịch sử này hàm chứa việc nghiên cứu kỹ lưỡng tác động của các công nghệ truyền thông khác nhau - bao gồm cả hoạt động in ấn và “sự được in ấn” - lên sự hiện diện về mặt ngôn ngữ, chính trị và xã hội. Hoạt động điều tra như vậy cũng giúp chúng ta tránh khỏi rủi ro tạo lập ra giả thuyết lớn. Có thể lấy ví dụ, tác động của hoạt động in ấn là một chủ đề nổi bật trong các cuộc tranh luận về sự phát triển bao trùm của xã hội dân sự (civil society) cùng sự phân chia giữa yếu tố “công cộng” và “riêng tư”*. Với tầm ảnh hưởng lớn không thua kém Anderson và lý thuyết của ông về những cộng đồng tưởng tượng (imagined communities), Habermas đã đề xuất luận giải về sự tiến hóa của một “không gian công cộng” (public sphere), nơi mà lý tính thực hành được thiết chế hóa trong một diễn ngôn về những tranh luận lý tính - thứ chi phối vượt qua cả địa vị và truyền thống. Một không gian công cộng như vậy hiện diện như là điều kiện tiên quyết của một thể chế dân chủ, xác lập dựa trên diễn ngôn chọn lọc và sự tham gia rộng rãi hơn của người dân. Yếu tố thúc đẩy sự hình thành không gian công cộng này là kỹ nghệ in ấn, sách vở, tạp chí, phê bình văn học, một thế giới thư từ của giai cấp tư sản. Tuy thế, kết quả tóm lược các luận giải trên của cả Anderson và Habermas có xu hướng tạo ra một con đường phát triển tuyến tính của một nền báo chí “in” ngày một năng động; quá trình mở rộng tranh biện công khai cũng như tạo thành công luận chân thực được xem như là những hiện tượng mới mẻ, có ít hoặc gần như không có chút tương đồng nào với tính công cộng (publicness) ở giai đoạn chưa có in ấn hàng loạt (tiền kỹ thuật in ấn; pre-print).
Một hệ quả quan trọng khác cũng rất nổi bật là giới tính của tác giả, nhà sản xuất sách cũng như độc giả ngày càng có ý nghĩa quan trọng đối với lịch sử của sách, mặc dù nghiên cứu so sánh ở các xã hội khác nhau bị giới hạn và đòi hỏi phải được mở rộng. Tuy vậy, giới tính vẫn ít nhiều không được gợi nhắc đến trong các khái niệm như “chủ nghĩa tư bản in ấn” (print capitalism) và “không gian công cộng”. Trong khi Peter Kornicki đặt các tài liệu đọc và thực hành đọc của độc giả nữ ở châu Âu và Đông Á trong thế đối sánh, thì như McDermott đã cảnh báo, cách tiếp cận thực hành đọc tại Trung Quốc thời Sơ kỳ Cận đại có những vấn đề về tính giới. Khái niệm “đọc” - độc (讀) dùng riêng cho các độc giả nam giới khi họ nghiên cứu tác phẩm kinh điển Cổ đại, trong khi hoạt động “xem” - khán (看) chỉ được dùng để mô tả nữ giới và số ít nam giới đọc những sách vở kém nghiêm túc hơn. Việc phân biệt này tương đồng cách xã hội châu Âu thế kỷ XVIII so sánh giữa những độc giả đọc tác phẩm hư cấu với độc giả đọc công trình khoa học và thư tịch cổ điển. Tuy thế, cách thức phân chia mô tả đặc điểm như vậy vốn phổ biến trong các ghi chép đương thời, lại tỏ ra không phù hợp để mô tả đúng thực tế phức tạp của nhiều loại nhóm độc giả chồng chéo đặc điểm phân chia theo giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp và địa vị xã hội, cũng như theo các loại sách, ấn phẩm định kỳ và báo chí.
Nhằm tìm hiểu thực hành đọc trong quá khứ, lĩnh vực nghiên cứu lịch sử của sách cần tiếp tục vận dụng tri thức và tư duy liên ngành mới mẻ. Chẳng hạn, câu hỏi thú vị về những cái có thể dịch và những cái không thể dịch đã mở rộng sự hiểu về sách trong hoàn cảnh tiếp xúc thuộc địa, cũng như hiểu thêm về tác động của các loại sách, các ký hiệu, văn bản, ngôn ngữ và kiểu chữ du nhập lên những người thực hành một kiểu văn hóa đọc viết và văn hóa sách vở riêng, thậm chí không được ghi nhận vào thời điểm đó. Nhà sử học về người Mohawk là Scott Manning Stevens đã viết về vấn đề “ảo mộng ngôn ngữ” (linguistic fantasy), trong đó độc giả và người sử dụng ngôn ngữ “khác” có niềm tin giả định vào khả năng chuyên nghiệp của mình [4]. Họ tuyên bố tự tin năng lực của họ trong một ngôn ngữ, văn hóa và diễn giải ý nghĩa mà trên thực tế họ không hề có. Ngược lại, việc thông dịch chính tả và kiểu chữ viết của ngôn ngữ truyền miệng gây ra sự phủ nhận về sự tồn tại đích đáng của một ngôn ngữ cho đến khi nó được đúc bằng chữ chì và được đọc trên bản in. Không chỉ như vậy, nó còn gây ra sự phủ nhận giả định rằng một tộc người có thể có một phương thức giao tiếp chấp nhận được thay cho cái được áp đặt lên họ. Đó là vấn đề từng xảy ra dưới triều đại nhà Tống trong thế kỷ X đến thế kỷ XII, ở Trung và Nam Mỹ trong thế kỷ XVI và XVII, ở Ấn Độ và Bắc Mỹ trong thế kỷ XVIII, hoặc ở nhiều vùng lãnh thổ thuộc thế giới Hồi giáo, Nam Phi, New Zealand cùng nhiều vùng đất bị chiếm đóng khác trong thế kỷ XIX và thế kỷ XX.
Nghiên cứu về lịch sử của sách không thể tránh khỏi yếu tố chính trị - cả ở phương diện mối quan tâm lẫn tác động của nó. Đồng thời, việc biên soạn lịch sử của sách chắc chắn kéo theo phê phán về mặt chính trị. Mối quan hệ giữa truyền thông và xã hội hiển nhiên và về cơ bản là quan hệ chính trị; từ thời cổ đại cho đến ngày nay, kiểm soát hoạt động báo chí và phương tiện truyền thông công cộng vẫn luôn đe dọa các quyền tự do cơ bản. Tuy nhiên, báo chí hiện đại xác lập sự gắn bó của nó với việc đòi hỏi về quyền tự do bằng cách truyền đạt các quan điểm, thông tin tài chính và chính trị. Tính thay thế và tính cấp tiến (của thông tin báo chí) là các yếu tố không thể thiếu trong lịch sử truyền thông, vấn đề nghiên cứu về lịch sử các cuộc xâm lược và chủ nghĩa thực dân cũng mang một màu sắc kịch tính và nhạy cảm như vậy. Một đặc điểm quan trọng của hầu hết các cuộc chinh phạt là hoạt động truyền giáo và cưỡng bức cải đạo, trong đó “sách” ở đây được hiểu là các Thánh thư - Kinh Thánh hoặc Kinh Qu’ran và các kinh sách khác. Tuy nhiên, trong số các quan điểm bất đồng, Trish Loughran đã công khai chỉ trích “lịch sử của sách chính thống” như là một sự vật hóa (reification) chủ nghĩa dân tộc, “thao diễn một vở kịch đầy đam mê về quá trình hiện đại hóa” và là “một lời biện minh cho hiện trạng thế giới mà chúng ta biết, vốn đồng hóa những khác biệt địa phương vào trong một bức tranh đơn sắc về công cuộc lan tỏa toàn cầu của sách in Gutenberg” [5]. Caroline Davis và David Johnson lại đưa ra một lời kêu gọi đầy thuyết phục rằng, cần phải có nhiều hiểu biết sâu sắc hơn về thư tịch giai đoạn Tiền thuộc địa ở châu Phi, đồng thời cũng phê phán quan điểm của Henry Louis Gates* - người đáng ra phải hiểu được đúng vấn đề - bảo lưu cách phân chia sai lầm giữa một bên là thế giới biết chữ với bên kia là châu Phi thời Tiền Cận đại [6]. Tương tự là cuộc tranh luận giữa Gananath Obeyesekere và Marshall Sahlins về quan niệm xuất phát từ phương Tây cho rằng thuyền trưởng Cook* được các dân tộc dã man xem như một vị thần, và sự trịch thượng của phương Tây đã trừng phạt “người bản địa” cùng nền văn hóa bị hiểu lầm và bị mô tả lệch lạc của họ [7]. Tuy nhiên, vấn đề nêu ra trong lời biện hộ hùng hồn của Davis và Johnson, xuất hiện trong lời tựa một tuyển tập tiểu luận nghiên cứu về lịch sử của sách, đã cho thấy sự chú ý tới châu Phi trước năm 1800 vẫn chỉ dừng lại ở niềm mong mỏi thay vì đã được khám phá.
Sự phát triển của nghiên cứu thư mục học gắn liền với vấn đề quốc gia-dân tộc vì vấn đề thực dụng cũng như tính chất gắn kết rõ ràng về ngôn ngữ và văn học, đã được tôi phân tích trong các chương trước. Trong khi đó, vẫn còn đấy sự bảo thủ cố hữu của một số nhà nghiên cứu thư tịch, vốn ưa thích sử dụng phương pháp phân tích kỹ thuật và kinh nghiệm hơn là can thiệp lý thuyết có tính gợi mở; nhưng sự bảo thủ này không phải lúc nào cũng bị đặt nhầm chỗ. Dù sao, thách thức vẫn còn tồn tại đối với nỗ lực giải thực dân nghiên cứu và xóa bỏ các đường biên quốc gia và chính trị không cần thiết trong nghiên cứu lịch sử của sách. Thách thức khác nữa nằm trong việc tái định nghĩa các khái niệm như “chủ nghĩa tư bản in ấn”, thứ đã cản trở nhiều mục tiêu tri thức đề xuất trong cuốn sách này. Sự đa dạng của các diễn ngôn lịch sử về sách cũng thể hiện sức sống và chiều sâu riêng. Từng lĩnh vực nghiên cứu đã được công nhận rộng rãi như thư mục học phân tích, lý thuyết phê bình, lịch sử thực hành đọc, lịch sử thư viện và lịch sử thư tịch - bản thân chúng đã giúp trả lời cho nhiều loại câu hỏi khác nhau, được thúc đẩy bởi các xung lực và mối quan tâm nhận thức luận khác nhau. Tuy nhiên, bản thân sự va chạm giữa chúng - dù gây ra rạn vỡ hay không - đều được đào sâu và mang đến phê bình sắc bén ở phạm vi lớn hơn.
Nếu chúng ta kết luận rằng, sẽ không thể và không nên có một loại lịch sử của sách đơn nhất, mà phải là một tập hợp đa dạng nhiều loại lịch sử, thì theo đó ta sẽ không thể có một cách định nghĩa cứng nhắc như lịch sử sách (book history) hay lịch sử của sách (the history of the book) tương tự như cách những người nhiệt thành ủng hộ của ngành này trong thời hiện đại đưa ra. Sự hợp tác giữa các chuyên ngành này đã mang lại lợi ích, nhưng điều này không có nghĩa là hợp tác đó dẫn đến một ý tưởng đơn nhất để định nghĩa thế nào là lịch sử sách. Đối với một số người, bao gồm cả người viết cuốn sách này, ngành lịch sử của sách vẫn còn quan tâm quá ít đến các diễn ngôn lịch sử xã hội tư tưởng mang tính so sánh. Chữ biểu ý, chữ tượng hình, chữ cái alphabet và các hệ thống chữ viết khác ghi lại tiếng nói, các loại ký hiệu hình họa, viết tay, in ấn và các công nghệ khác đã xác định cách thức tư tưởng được sản sinh và tiếp thu dưới dạng vật chất. Tương tự như vậy, trong thời đại kỹ thuật số, internet mang lại cho chúng ta cơ hội, nhưng mặt khác cũng đặt ra những ranh giới cho các dạng thức kết nối xã hội mới, hình thành và tiếp nhận văn bản mới. Ngôn từ và ý tưởng được truyền tải trong các văn bản được xuất bản là kết quả có ý nghĩa của quá trình sản xuất, lưu hành và thực hành đọc văn bản vật chất. Nghiên cứu lịch sử của sách đã bị thống trị bởi thảo luận về tác động và đặc điểm đặc trưng của ấn phẩm, cũng như của các hình thức hiện đại cụ thể như ấn phẩm định kỳ và báo chí. Tuy nhiên, cũng không kém quan trọng là những cuốn sách sơ khai với tất cả hình thức lạ lẫm và đầy thách thức của chúng, những cuốn sách trong các xã hội không đọc viết hay các xã hội có đa dạng nhiều trình độ cùng hình thức đọc viết, và cuối cùng là vị trí quan trọng luôn tiếp nối và biến đổi của các thủ bản, bản thảo, thu từ viết tay.
Việc khảo sát hiện vật thật sẽ không bao giờ bị loại bỏ trong phân tích, nghiên cứu cuốn sách vật chất, song như đã dẫn chứng trong cuốn sách này, cách chúng ta tư duy về sách, lịch sử của nó cũng như việc một cuốn sách từng là gì, đã được cách mạng hóa bởi cách một cuốn sách hiện nay có thể là gì. Nhiều nhà bình luận đã liên kết “các cuốn sách” đương đại với chức năng của chúng như là một phương tiện giao tiếp hơn là với dạng thức vật chất của chúng. Sự hồi sinh và thích ứng của các từ ngữ hay khái niệm như “biểu tượng” (icon), “phông chữ” (font), “bảng” (tablet), “cuộn” (scrolling) và “ảo” (the Virtual) là những mật mã giúp chúng ta khái niệm hóa lại thế nào là một cuốn sách. Các văn bản siêu liên kết (hyperlink), ấn bản kỹ thuật số, sách điện tử (ebook), màn hình tùy chỉnh (screen adaptions), sách nói (audiobook) và podcast* đã thay đổi cách thức thu nhận, truyền tải, lưu hành, đọc, truy vấn, tìm kiếm và lưu trữ văn bản. Danh tính và quyền tác giả đã được phát triển phức tạp hơn và dịch thuật liên ngôn ngữ tự động hóa cũng làm nổi bật lên các vấn đề thuộc về tính không-thể-dịch-thuật (untranslatability). Và trong một thời đại nhiều biến đổi như hiện nay, có nhiều cuốn sách đang được xuất bản hơn bao giờ hết, dù là bằng các cách thức thông thường, bằng mô hình in theo yêu cầu (print-on-demand), hay nền tảng Mạng kết nối toàn cầu (World Wide Web). Các phiên bản sao chụp những tác phẩm kinh điển của Trung Hoa cổ đại hay các thủ bản codex của văn minh Mesoamerica hoặc hầu hết những hình thức thư tịch khác được đề cập trong cuốn sách này, hiện có thể đọc được trên điện thoại thông minh hoặc tích hợp vào blog và tệp đính kèm trong email. Các tác giả như David Mitchell và Philip Pullman (cùng những người khác) đã xuất bản một tập truyện ngắn trên mạng xã hội Twitter, sử dụng 140 ký tự cho mỗi lần đăng. Hoạt động tự xuất bản (self-publishing) cũng mở ra khả năng xuất bản cho tất cả mọi người, khả năng phổ biến không bị kiểm soát và tạo ra những cộng đồng độc giả mới chưa từng được biết đến trước đây.
Sách trong thời đại kỹ thuật số cho phép việc mã hóa và hình thành một sự tương tác mới với thông tin cũng như tri thức, đồng thời mở rộng các kỹ thuật tự sự và siêu hư cấu (metafiction). Sách kỹ thuật số cho phép nhà nghiên cứu rà soát lại và thử nghiệm các quan điểm về ký hiệu, thiết kế và nhận dạng ký tự; về bố cục và nhận thức về trang sách (page), về định nghĩa “trang sách” là gì và đâu là giới hạn của khái niệm đó; về tính phức tạp của khái niệm “cận văn bản”, và về tính đa dạng của thực hành đọc cũng như động lực đọc của chúng ta. Trong thế giới của văn bản được số hóa và của Google Books, chúng ta không những bị thách thức bởi các câu hỏi về hoạt động lưu trữ và truy cầu tri thức thông qua “sách”, mà còn bởi vấn đề định nghĩa bản quyền cùng các hàm ý ẩn sau vấn đề Truy cập mở (Open Access), thỏa thuận cấp phép và cung cấp thông tin không công bằng đem lại. Các tác giả, nhà xuất bản, độc giả phải đối mặt với hàng loạt hình thức mới trong vi phạm bản quyền toàn cầu, cách thức tổ chức vận hành kiểm duyệt, cách thức các công nghệ mới thay đổi và bị thay đổi bởi lợi ích thương mại, chính trị, tôn giáo và quốc gia. Kỹ thuật số đang cách mạng hóa các mô hình kinh doanh cũng như cấu trúc thương mại của các tập đoàn xuất bản quốc tế hiện đại. Nhiều cuốn sách vật thật đã và vẫn chưa từng được đọc và phần lớn số bản sao của những ấn bản lỗi đã bị nghiền nát hoặc tiêu hủy, nhưng hiện nay đâu là hình thức kỹ thuật số tương đương với những cuốn sách chưa được đọc và bị tiêu hủy đó? Sự mất mát, hủy bỏ và dư thừa có thêm những ý nghĩa khác nhau và đầy thách thức. Trong khi đó, các nhà xuất bản đang tìm cách số hóa danh sách sách phát hành (backlists) đồng thời duy trì số đầu sách “còn phát hành” (in print) với số lượng chưa từng có. Và còn đây vô số các câu hỏi khác nữa. Tương lai của thư viện công cộng và thư viện thụộc các cơ quan tổ chức sẽ ra sao trong thời đại của không gian makerspaces, hackerspace và “nền kinh tế tri thức chia sẻ”? Giờ đây, làm sao chúng ta có thể đo lường thực hành đọc và hồi đáp của người đọc, để tìm ra bằng chứng mới mẻ và khác biệt trong các đánh giá phản hồi cũng như thông tin như mạng Goodreads là nền tảng kỹ thuật số ghi lại hoạt động của nhóm đọc, hay như lịch sử đặt hàng Amazon, các danh sách sách tham khảo dễ truy cập và điều chỉnh thuộc các trường trung học và trường đại học - mà có lẽ là quá nhiều về lượng nhưng lại không bền vững?
Hiển nhiên trong bản chất của ngành mình, lịch sử của sách có liên hệ tới và lấy cảm hứng khái niệm từ thế giới truyền thông đang thay đổi nhanh chóng của chúng ta. Những khái niệm đương đại tương tự (như các khái niệm truyền thống) đã cung cấp tư liệu cho nghiên cứu tiếp nối về các dịch chuyển trong giao tiếp, về vấn đề cái gì được coi là “tri thức”, cách tri thức được tạo ra và hệ quả từ cách thức lưu trữ và sử dựng chúng. Một số diễn ngôn lịch sử về mối quan hệ giữa khái niệm đang lên và dễ lọt tai là “văn hóa in ấn” với cách khái niệm này thúc đẩy nhận thức và hành vi xã hội có thể được nhìn nhận như những bài luyện tập để tái hồi “truyền thông xã hội” (social media) quá khứ. Các hệ thống truyền đạt ý nghĩa tinh vi khác, giờ đây đang thách thức tư cách của sách như là phương tiện truyền đạt tri thức và biểu đạt văn hóa, chính trị. Các câu hỏi về việc nhân rộng, tiêu chuẩn hóa, thẩm quyền và tính xác thực đều đang được xem xét kỹ lưỡng. Khi Don McKenzie phát biểu kết luận trong lễ kỷ niệm của Hiệp hội Thư tịch Anh Quốc vào năm 1992, ông đã dự đoán rằng, “sách” và lịch sử về nó sẽ trở thành một cái gì đó lớn lao hơn là lịch sử của những cuốn sách [8]. Kể từ đó đến nay, lịch sử của sách đã tham gia - theo cách chính đáng và không thể tránh khỏi - trong hầu hết những cuộc tranh luận về số hóa và tương lai của sách, góp phần vào nghiên cứu so sánh về lịch sử của tri thức, và tuy có hơi muộn màng, nhưng đã bổ trợ cho nghiên cứu lịch sử tư tưởng. Công nghệ mới thách thức các giả định của chúng ta về cách cuốn sách đang là hay đã là theo nhiều chiều kích khác nhau, đi kèm theo đó là tiềm năng nghiên cứu chuyển hóa trong ngành nhân văn số thức (digital humanities)*.
Đáng chú ý nhất, “bước ngoặt toàn cầu” trong lịch sử sách đã thúc đẩy các diễn ngôn lịch sử tri thức, vốn lấy cảm hứng từ những thách thức của châu Âu thời Sơ kỳ Cận đại và thời Khai sáng. Đó là những thay đổi trong hoạt động tổ chức tri thức, quá trình lan truyền, tác động của các ý tưởng, lịch sử tư tưởng và lịch sử xã hội của thư viện cũng như quá trình truyền bá văn hóa châu Âu trên phạm vi toàn cầu. Các phương thức mà trong đó, quá trình tích lũy tri thức bị đối trọng bởi sự mất mát có thể đối sánh với sự cân bằng giữa các tiến bộ và hạn chế được nghiên cứu bởi ngành lịch sử của sách. Trong ngày càng nhiều nghiên cứu lịch sử trường hợp tại nhiều nơi trên thế giới, một trọng tâm của việc nghiên cứu là những nền văn hóa truyền khẩu và văn hóa thủ bản chép tay - hiện đã bị thay thế, bị thu hẹp và bị đứt gãy. Một trọng tâm nữa là những nền văn hóa tổng hợp sáng tạo, trong đó ngôn ngữ và truyền thống, dù bị áp đặt hay được tự sáng tạo ra, đều tạo ra các đóng góp tích cực. Suy cho cùng, đó là một chương trình mục tiêu (agenda) hồi đáp lại với thế giới ngày nay của chúng ta: một thế giới được số hóa và toàn cầu hóa, nhưng cũng đang bị phân mảnh về tri thức, ý thức hệ và thường không thấu hiểu lẫn nhau.

Chân dung Johannes Gutenberg

Chân dung Ivan Kramskoy. Tranh của Ivan Kramskoi thế kỷ XIX