Lịch Sử Của Sách

Lượt đọc: 558 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Cảnh báo và nguyên tắc

❊ ❊ ❊

Việc khôi phục và trả lời cho câu hỏi “cái gì” thách thức một số nguyên tắc có sẵn, bổ sung thêm cho ý tưởng thế nào là một cuốn sách “kinh điển” (canon) đồng thời, khuyến khích một sự chọn lọc rõ ràng hơn trong các phân tích mô tả của chúng ta về tác động của sách, mà trong đó việc sử dụng sai khái niệm “văn hóa in ấn” (print culture) là một ví dụ điển hình. Như đã thảo luận từ phần trước, chúng ta xem xét lại vấn đề thế nào là một kinh điển văn học thông qua hiểu biết mới về những gì đã được xưất bản, lưu hành cũng như được giới phê bình đón nhận tích cực tại mọi thời điểm trong lịch sử. Xu hướng nở rộ gần đây là nhiều nghiên cứu tìm hiểu về thủ bản thời Trung cổ không phải của các “tác gia kinh điển”. Qua đó, chúng phá vỡ những ranh giới trong nghiên cứu văn học Anh và Pháp thời Trung cổ nói riêng. Những công trình như vậy góp phần vào việc đặt ra câu hỏi với các tác phẩm kinh điển đã được ghi nhận nhưng vốn cũng đang bị lung lay địa vị, nhờ việc xác định một tác phẩm kinh điển thông qua tỷ lệ tái bản, quy mô của các lần in ấn cùng sự vận động của chúng bên trong thị trường sách cũ. Danh sách thư mục trích dẫn từ các ấn phẩm thường niên, kể cả các trích dẫn phê bình, cũng giúp xác nhận sự tồn tại của những đầu sách đã tuyệt bản qua thời gian. Có một sự rạn nứt nhất định giữa hai nhóm nhà nghiên cứu: giữa những người tin rằng lịch sử của sách đang phá vỡ rào cản giữa các tác phẩm có giá trị với các tác phẩm tầm thường nhưng phổ biến, và những người (vì nhiều lý do có thể giải thích được) chống lại thái độ mập mờ giữa một bên là chuẩn mực phê bình và bên kia là định kiến. Điểm yếu xuất hiện khi khái niệm “văn học” bị áp dụng vội vàng hoặc không nhất quán trong nghiên cứu lịch sử của sách.

Các diễn ngôn lịch sử tiểu thuyết châu Âu đặc biệt dễ gặp phải thách thức kể trên, khi có một số nhà nghiên cứu chưa thực sự quan tâm đến hình thức văn học, và đáng chú ý là “chủ nghĩa hiện thực hình thức” (formal realism) và “các phương thức tự sự” (narrative procedures) mà Ian Watt đã đề cao như là những đặc điểm đặc trưng của tiểu thuyết. Có thể xây dựng một diễn ngôn lịch sử, trong đó khám phá lịch sử quá trình nắm bắt tính hấp dẫn của các loại ấn phẩm này và xu thế kinh doanh đương thời cho phép quảng bá loại sản phẩm được định danh khi đó là “tiểu thuyết”. Vấn đề này trở thành một câu hỏi để thảo luận: Liệu một nhà sử học văn hóa có thể đề cập đến các quá trình sáng tác “tiểu thuyết” thế này như là “văn học” hay không? Thách thức để chúng ta hiểu về con đường mà những tác phẩm vĩ đại ra đời đôi khi không tương thích với mối quan tâm của nhiều nhà sử học văn hóa nghiên cứu các chủ đề lịch sử rộng hơn như hoạt động in ấn, xuất bản, phổ biến và tiếp nhận ấn phẩm. Brean Hammond, tiếp nối Clifford Siskin, định nghĩa văn học là “tác phẩm viết chuyên nghiệp có tính tưởng tượng”, trong đó ông lấy xuất phát điểm là các nhà văn tài năng và di sản văn học trường tồn của họ [9]. Nhiều nhà nghiên cứu tỏ ra quan tâm dè dặt đến hướng tiếp cận lịch sử thương mại rộng hơn đối với lịch sử sách và tiểu thuyết - dù đây thực ra là vấn đề liên quan nhiều hơn đến lựa chọn cá nhân. Như George Justice viết: “Tôi tiếp thu ý của Siskin trong việc sử dụng khái niệm “Văn học” viết hoa để mô tả một địa hạt văn hóa được củng cố chắc chắn trong quá trình các nhà văn đương đại tiếp cận, thao túng và tận dụng công nghệ in ấn trong thị trường văn chương” [10]. Tuy nhiên, tiến bộ thương mại và công nghệ không chỉ kéo theo sự nổi lên của hoạt động sáng tác tiểu thuyết và dịch thuật, mà còn đem lại những bước phát triển đáng ngạc nhiên trong cách con người đánh giá các tác phẩm đó. Trong cuốn The Function of Criticism (Chức năng của phê bình), Terry Eagleton viết về [vấn đề phê bình] đầu thế kỷ XVIII:

Phê bình ở đây chưa hẳn có tính chất “văn học” bằng có tính chất “văn hóa”: việc xem xét, đánh giá các văn bản văn học nhìn chung chỉ là một bộ phận phụ nằm bên lề xu thế lớn hơn của việc tìm hiểu các vấn đề như: thái độ của chủ nhân đối với người hầu cùng những quy tắc tinh thần hào hiệp của các quý ông; địa vị phụ nữ và tình cảm gia đình; sự trong sáng của ngôn ngữ Anh; đặc điểm tình cảm vợ chồng; tâm lý học về các loại cảm xúc và các quy tắc vệ sinh chung [11].

Một cảnh báo khác nữa liên quan đến thuật ngữ “văn hóa in ấn”, một cụm từ hữu ích để tóm gọn lại các đề xuất có liên đới với nhau nhưng thường mới chỉ được trao đổi chung chung chứ chưa thấu đáo. Tác động lịch sử của kỹ thuật in ấn được xem là một phần nằm trong một diễn ngôn lịch sử rộng lớn hơn về hoạt động giao tiếp của con người. Theo đó, bản chất của “sự được in ấn” (printedness) bao trùm nhiều lĩnh vực hoạt động đời sống, mà trong đó, in ấn đóng vai trò khuếch đại, thúc đẩy và thậm chí chuyển đổi các thực hành và hành vi hiện có, không biệt lập mà nằm trong mối quan hệ liên kết với các hành động/năng lực chủ thể (agency) và thực hành khác. Một dẫn chứng đáng chú ý là Bảo tàng Ấn loát Tokyo - một bảo tàng xuất sắc về đề tài in ấn - đã khuyến khích các “nghiên cứu về văn hóa in ấn” (study of printing culture) hơn là bản thân “nền văn hóa in ấn” (print culture). Và như Harold Love đã nói trước đây: “Văn hóa in ấn”, được cấu hình hóa như một trạng thái ý thức độc lập với sự lĩnh hội cá nhân, là một loại thực thể siêu nhiên, và giống như các loại thực thể siêu nhiên khác, nó khiến chúng ta cảm thấy bị câu thúc phải thỉnh cầu tới trong những lúc bối rối” [12]. Nicolas Barker thậm chí còn nhận xét thẳng thừng hơn nữa: “Cứ mỗi khi người ta nói đến ‘văn hóa in ấn’, tôi lại ước mình vớ được khẩu súng lục” [13].

Vấn đề đầu tiên cần chỉ ra là, “văn hóa in ấn” không chỉ đơn giản là vấn đề về sách, hay thậm chí là cả sách, ấn phẩm định kỳ và báo. Nó bao hàm tất cả các sản phẩm của nhà in và ấn phẩm trong phạm vi ý nghĩa rộng nhất của từ này, trong mối liên hệ với văn bản và hình, ảnh, bao gồm cả bản đồ, biểu đồ và các ấn phẩm khắc in khác. Trên hết, dù việc in vặt hay việc in ấn sản phẩm không liên quan đến sách đã được chứng minh là nguồn thu tài chính chủ yếu của đại đa số các nhà in, về cơ bản nó vẫn bị các nhà sử học nghiên cứu về “văn hóa in ấn” bỏ qua. Có hai diễn ngôn lịch sử lớn ngầm ẩn trong vấn đề này: một là lịch sử in vặt trong nhà in, hai là lịch sử in vặt trong quá trình biến đổi kinh tế và xã hội. Như Daniel Roche, Peter Stallybrass và những người khác đã chỉ ra, sự ra đời của hàng loạt loại ấn phẩm bán-in ấn (part-printed) như biểu mẫu, tài liệu, vé, chứng chỉ và “giấy trống” đã kéo theo một quá trình phát triển liên tục, sáng tạo và rất linh hoạt. Nghiên cứu về chủ đề này do đó sẽ rất hấp dẫn dù không đơn giản, và nhờ đó cung cấp một góc nhìn mới mẻ trong nỗ lực tìm hiểu về quá trình cấu thành thế giới hiện đại. Các nhà sử học nghiên cứu “văn hóa in ấn” cũng nên tìm đọc các ví dụ được trích dẫn bởi Paul Needham và Clive Griffin về hiện trạng mất mát của số lượng cực lớn các bản in giấy xá tội* được đặt hàng ở các nhà in lớn tại châu Âu. Tuy nhiên, có đầy đủ lý do để giả định rằng thậm chí có một sự mất mát - hay đúng hơn là chôn vùi - còn lớn hơn với các tài liệu lưu trữ và những hồ sơ liên quan đến hoạt động in các ấn phẩm vặt dùng trong giao dịch tài chính và thương mại.

Vấn đề thứ hai là các sản phẩm in ấn nhỏ lẻ tiếp tục thách thức ranh giới giữa cái được in và cái được viết. Tính “thẩm quyền” mà bấy lâu nay được coi là đặc tính đơn nhất thuộc về văn bản in (vốn thay thế văn bản chép tay) hiện cần được xem xét lại, khi ta tính đến thực tế là các mẫu giấy tờ in sẵn khoảng trống chỉ được chấp nhận là có thẩm quyền khi có dấu viết tay hoặc chữ ký viết trên đó, kể cả là giấy chứng nhận kết hôn hay tờ khai bảo hiểm. Hoạt động in vặt của nhà in đã thay đổi hoàn toàn hoạt động sản xuất, hình thức vật chất cũng như hoạt động tiếp nhận tri thức hàng ngày, định hình lại thế giới cá nhân riêng tư và các mối quan hệ con người. Các cá nhân cùng các nhóm bị ràng buộc, được giải phóng và được phân biệt thông qua việc điền vào những mẫu đơn in sẵn để xác nhận sự thấu hiểu lẫn nhau và nghĩa vụ của các bên, dù mối quan hệ giữa cái được viết và cái được in cũng đã định hình lại hình dung của chúng ta về “sự được in ấn”.

Hợp nhất với quan điểm này, Peter Beale và Harold Love đã lập luận đầy thuyết phục về sự thất bại của các nhà sử học nghiên cứu hoạt động in ấn tại châu Âu trong việc nhận biết quá trình lưu hành liên tục của các thủ bản viết tay giai đoạn Sơ kỳ Cận đại và Cận hiện đại. Gần đây hơn, Margaret Ezell, Alexandra Gillespie và Daniel Wakelin là các nhà nghiên cứu đã kêu gọi đào sâu hơn việc khám phá sự phát triển của hoạt động in ấn song hành với sự phát triển trong hoạt động sản xuất thủ bản viết tay, bởi vì văn hóa thủ bản vẫn tồn tại rất mạnh mẽ ở Trung Quốc ngay cả sau khi kỹ thuật in mộc bản được phổ biến rộng rãi. Trong bối cảnh này, khái niệm “văn hóa in ấn” cũng ẩn đi những vấn đề trở lực và có tầm quan trọng trong nghiên cứu. Trong đó, một số học giả Trung Quốc đáng chú ý như Tiền Tồn Huấn (Tsien Tsuen-hsuin; 錢存訓) đã chỉ ra rằng, thay vì tạo ra một cuộc cách mạng in ấn ở Trung Quốc, sự xuất hiện của kỹ thuật in ấn lại chỉ giúp củng cố nền văn hóa nặng tính sách vở đã tồn tại từ trước, đồng thời tăng cường khả năng kiểm soát của nhà nước bằng cách khuyến khích việc phục tùng tính chính thống của nhà nước.

Tương tự như vậy, ở những vùng đất thuộc thế giới Hồi giáo, sự tôn trọng dành cho sách chép tay cũng như việc đề cao giá trị của thư pháp trong quá trình chép lại Kinh Qu’ran và các bộ thánh thư khác đã làm trì hoãn việc chấp nhận sách in, cho dù việc in mộc bản các cuộn giấy và bùa hộ mệnh đã phát triển từ thời Trung cổ. Người Do Thái và người theo Kitô giáo cư trú trong các vùng lãnh thổ thuộc đế chế Ottoman cũng bắt đầu tổ chức hoạt động in ấn từ khoảng sau năm 1500, và sớm nhận ra những lợi thế của việc phổ bịến hóa ấn phẩm nhanh hơn. Một người Hungary cải đạo tên Ibrahim Müteferrika là người Hồi giáo đầu tiên thành lập một nhà in tại Istanbul năm 1727, nhưng việc thư pháp tiếp tục được tôn trọng vẫn đảm bảo rằng các thủ bản viết tay luôn mang giá trị cao quý; ở châu Á nói chung, các nhà sưu tầm sách phụ thuộc vào các thợ chép chữ trong việc cung cấp các cuốn sách quan trọng mà họ thiếu, trong khi các học giả và học trò nghèo thường tự chép lại các tác phẩm họ không đủ tiền mua. Giống như các thợ chép sách của các nhóm tôn giáo khác, các Phật tử sao chép kinh sách để thể hiện đức tin của họ. Các thợ thủ công ở làng quê, thầy lang và thầy địa lý cũng sử dụng bí kíp chép tay để lưu giữ bí quyết nghề nghiệp của mình. Kinh sách của các tôn giáo phổ biến thường tồn tại ở dạng thủ bản viết tay cũng vì các tôn giáo này muốn hạn chế lưu hành và giữ bí mật các bộ kinh sách đó.

Sự thất bại về cơ bản của hoạt động in ấn tại các thuộc địa của người phương Tây ở châu Á trước nửa cuối thế kỷ XIX từ lâu đã là câu hỏi khó có lời giải đáp, nếu xét trên việc kỹ thuật in dập đã được các giáo sĩ Dòng Tên (Jesuit; SJ) đưa đến Tiểu lục địa Ấn Độ vào năm 1556. Các nhà sử học Ấn Độ hiện đại cho rằng, in ấn bị từ chối vì sự chống đối từ hệ thống độc quyền của giới ký lục (bazaar writers)*, thực hành tôn giáo và giới cai trị địa phương, cùng các khó khăn mà các thợ in thạch bản gặp phải khi khắc in chữ Ba Tư cũng như rất nhiều các loại văn tự khác. Christopher Bayly, trong một nghiên cứu đột phá về đề tài mối quan hệ giữa đế chế và thông tin, đã tiếp thu ý tưởng - ban đầu là với trường hợp miền bắc Ấn Độ - về sự tồn tại của một “ecumene”*, khái niệm được ông dùng để mô tả các cộng đồng thống nhất có chung tư tưởng và hệ thống giao tiếp. Đó là một thế giới, trong đó các văn bản viết tay truyền đạt những thảo luận về chính trị và tôn giáo, quyền lợi và nghĩa vụ, củng cố thực hành đọc bằng lời (truyền khẩu) truyền thống. Các đối tượng tham gia thảo luận bao gồm cả những khán giả không biết chữ lẫn “có nhận thức đọc viết” (literacy-aware) với cả “những ông hàng thịt, gái bán hoa, thương gia tại các chợ và nghệ nhân thủ công”. Như Ajay Skaria, Mark Frost cùng những người khác đã chỉ ra, cuộc tranh luận về văn hóa và chính trị có trước thời đại in ấn tiếp tục tồn tại cùng một loạt công nghệ in ấn trong thời đại của chủ nghĩa dân tộc. Đóng vai trò tinh luyện lại khái niệm “chủ nghĩa tư bản in ấn” (print capitalism) được học giả Benedict Anderson* sử dụng khi giải nghĩa những cộng đồng tưởng tượng, khái niệm “ecumene” thể hiện một trật tự thông tin có hiệu quả cao. Trong đó, phương tiện truyền thông văn bản viết tay được đặt ở vị trí chiến lược giúp củng cố một nền văn hóa giao tiếp truyền khẩu mạnh mẽ. Kết luận của nó đã khuyến khích nhiều nhà sử học nghiên cứu lịch sử của sách phải tạm dừng lại và suy ngẫm nghiêm túc về vấn đề: Trong vai trò một động lực biến đổi, hoạt động in ấn tự thân nó là một thành tố dư thừa, và điều này chỉ thay đổi ở một giai đoạn rất muộn về sau dưới sự cai trị của chủ nghĩa thực dân.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026