Một thách thức hiển nhiên và hấp dẫn là việc mở rộng diện tìm kiếm ra các nguồn tư liệu mới, nhờ đó mà có khả năng giúp chúng ta nhận thức tốt hơn về hoạt động sản xuất, truyền tải và tiếp nhận sách ở các khu vực khác trên thế giới - nơi mà lĩnh vực nghiên cứu về thư tịch nói chung dường như bị bỏ quên, đôi khi với khoảng cách hàng thế kỷ. Sự hiểu biết về các loại sách, thư tịch mà ở phương Tây thường được xem là có định dạng vật liệu bất thường, hiện cũng đang bị giới hạn bởi các rào cản ngôn ngữ. Chí ít chúng ta có thể tận dụng các công cụ tái tạo kỹ thuật số mới và thực hiện các so sánh văn bản từ xa, mặc dù việc kiểm tra vật lý trực tiếp vẫn sẽ luôn là điều kiện tiên quyết (sine qua non) cho bất kỳ diễn giải chuẩn mực nào.
Hướng nghiên cứu so sánh đầy mạo hiểm như vậy mới chỉ tồn tại ở dạng phôi thai, nhưng chúng cung cấp cơ hội để chúng ta liên hệ với các khái niệm rộng hơn và đặt ra các câu hỏi khác nhau trên nhiều lĩnh vực nghiên cứu đa dạng. Thử đưa ra một ví dụ nổi bật: hiện tượng mà Joseph McDermott gọi là “sự bùng nổ của nghiên cứu bằng Hán ngữ và phi-Hán ngữ” về thư tịch chữ Hán tại đế chế Trung Hoa sau thế kỷ X đã có tác động mang tính bước ngoặt đến tình hình nghiên cứu về quá trình hình thành các kinh điển, văn hóa viết tay, truyền tải văn bản và quá trình kiến tạo tri thức mới. Nghiên cứu mới khai thác các thế mạnh truyền thống trong thư mục học ở Trung Quốc và xem xét lại một loạt câu hỏi về vấn đề sản xuất (in mộc bản cũng như in hoạt bản), phân phối (mua, tặng, cho mượn và thậm chí trộm cắp), và tiêu thụ sách (các hình thức thực hành đọc, thư viện công cộng và tư nhân, người sưu tập). Như cách mà Christopher Reed và McDermott đã lập luận, hoàn cảnh kinh tế, văn hóa và công nghệ giúp giải thích việc người Trung Quốc trong suốt một thiên niên kỷ ưu tiên hình thức in mộc bản - vốn đơn giản hơn và có tính di động cao hơn, và từ sau phát minh năm 1796 của tác giả và diễn viên người Đức Alois Senefelder, là việc dùng phương pháp in thạch bản thay vì phương pháp in hoạt bản và in dập trên khuôn nổi [2]. Nhưng bản thân ý nghĩa được truyền tải trong các văn bản này ở châu Á - được sản xuất dưới nhiều hình thức - cũng thường xuyên thay đổi. Về điều này thì Cynthia Brokaw từng nhấn mạnh, chúng ta phải đặt ra câu hỏi về cách “cuốn sách” được hiểu trong quá khứ. Cho đến trước thế kỷ XX, đa số sách vở Trung Quốc chỉ tổng hợp các trích đoạn - thường không ghi nguồn - được lấy từ các văn bản khác, hoặc là các trích đoạn bị xóa hay được trao đổi trong các bản in mới của cùng một tựa sách. Phong cách “tái bản” liên tục này tạo lập lại sự hiểu biết của chúng ta về quyền tác giả và phá vỡ sự vững chắc của các quan niệm về sách ở phương Tây [3].
Những câu hỏi tương tự có thể được đặt ra về hoạt động sản xuất văn bản chữ Sanskrit ở Ấn Độ, vốn đã được nghiên cứu ở châu Âu từ thế kỷ XVII nhưng hiện nay đang lại trở thành đối tượng quan tâm của học giới, đặc biệt là các trung tâm nghiên cứu tại Đức. Sự thành công của kỹ thuật in thạch bản ở Ấn Độ từ giữa thế kỷ XIX, như Graham Shaw đã chỉ ra, đòi hỏi phải đặt ra thêm nhiều câu hỏi về yếu tố kinh tế. Ở Trung Quốc vài thập kỷ sau đó, quy mô xuất bản bằng kỹ thuật in thạch bản đã vượt qua cả số lượng đầu ấn phẩm xuất bản bằng kỹ thuật in khắc gỗ của các nhà in Trung Quốc cũng như các đầu ấn phẩm tương tự in bằng kỹ thuật in dập của các nhà truyền giáo phương Tây. Tiếp sau đó, từ những năm 80 của thế kỷ XIX, kỹ thuật in thạch bản lại bị thách thức bởi sự xuất hiện của máy in dập cải tiến, qua đó thúc đẩy sản xuất hàng loạt lên quy mô lớn hơn. Vấn đề cần được xem xét ở đây là sự sẵn có cũng như khả năng tiếp cận với những loại tư liệu nguồn vốn đã có tác động thay đổi tình hình nghiên cứu lịch sử về sách ở phương Tây. Tuy nhiên, nỗ lực hiểu biết sâu sắc hơn với vấn đề “cái gì” và “ai” - nếu ta tạm thời chưa bao gộp vấn đề “như thế nào” - đang có sự tiến bộ, nhất là trong các nghiên cứu về thể loại và quyền tác giả. Những gì hiện nay chúng ta coi là lăng kính lịch sử sách đã được thể hiện trong nhiều nghiên cứu của giới nghiên cứu từ châu Âu và Bắc Mỹ về các tác giả nữ và chủ nhà in nữ ở Trung Quốc. Có thể kể đến nghiên cứu của Susan Mann về sự nghiệp biên tập và xuất bản của những nhân vật phụ nữ như Uẩn Châu (Yun Zhu, 惲珠 ) (1771-1818)*, và nghiên cứu của Ellen Widmer tìm hiểu về một dòng liên kết Bắc Kinh - Hàng Châu của các tác giả nữ.
Việc định nghĩa lại những gì đã được in, khi nào và ở đâu, và việc tìm hiểu những hệ quả đa dạng từ sự nổi lên của ngành in - cũng như của các bước tiến công nghệ từ in thạch bản đến các kỹ thuật kế thừa - là thành tựu trung tâm và có giá trị lâu dài nhất trong nghiên cứu kể từ khi Febvre và Martin xây dựng phương pháp sơ đồ hóa. Những thành tựu này cũng giúp sửa đổi góc nhìn chính thống trước đây do S. H. Steinberg đưa ra năm 1959 về “500 năm lịch sử ngành in”, ngay cả khi nó đã được cập nhật bởi John Trevitt [4]. Sự hiểu biết rõ hơn về vai trò của nhà in cũng đã mở đường cho rất nhiều các công trình nghiên cứu lịch sử truyền thống ngôn ngữ bản địa, sự đa dạng ngôn ngữ, chuyển đổi chính trị, tôn giáo và kinh tế, đặc biệt là các cuộc cách mạng ở châu Âu, phong trào Cải cách tôn giáo, và ít phổ biến hơn là quá trình bành trướng thương mại, tài chính và công nghiệp. Việc áp dụng kỹ thuật in typo cho văn tự Hebrew xuất hiện đầu tiên ở Đế chế Ottoman năm 1493 và ở Ma-rốc vào năm 1515. Chữ in cho văn tự Armenia ra đời năm 1567 ở Constantinople* và ở Iran năm 1638. Chữ in văn tự Syriac* và Ả Rập đã được dùng để in cuốn sách tiếng Ả Rập đầu tiên ở Trung Đông vào năm 1610 tại Li-băng. Sách viết bằng tiếng Hy Lạp được in lần đầu ở Constantinople vào năm 1627. Bảng 4 dưới đây cung cấp một danh sách chọn lọc về thời điểm xuất hiện của máy in và chữ in kiểu châu Âu ở các thị trấn và thành phố khác nhau, bao gồm cả nhiều nơi bên ngoài châu Âu. Kỹ thuật in chữ in rời dưới nhiều hình thức khác nhau đã xuất hiện ở các đô thị Đông Á hơn hai thế kỷ trước năm 1452, trong khi máy in và chữ in Bắc Mỹ đóng vai trò mở đầu ngành in ở các địa điểm như Hawaii vào năm 1821, Liberia năm 1826 và Oregon năm 1853.
Bảng 4. Các ấn bản in bằng chữ in đúc kim loại được biết đến sớm nhất ở châu Âu, Bắc Mỹ và ở một số thành phố, thị trấn khác trên thế giới
|
Mainz (Đức) |
Trước 1452 |
Vinius (Lít-va) |
1543 |
|
Bamberg (Đức) |
Trước 1457 |
Moscow (Nga) |
1553 |
|
Roma (Ý) |
1465 |
Constantinople |
1567 |
|
Basel (Thụy Sĩ) |
Trước 1468 |
Peru |
1581 |
|
Venice (Ý) |
1468 |
Cambridge, Massachusetts (Hoa Kỳ) |
1638 |
|
Paris (Pháp) |
1470 |
Philadelphia (Hoa Kỳ) |
1685 |
|
Milan (Ý) |
1470 |
Madras (Ấn Độ) |
1772 |
|
Seville (Tây Ban Nha) |
Trước 1472 |
Buenos Aires (Argentina) |
1780 |
|
Lyon (Pháp) |
1473 |
Bombay (Ấn Độ) |
1792 |
|
Krakow (Ba Lan) |
1473 |
Cape Town (Nam Phi) |
1795 |
|
Westminster (London, Anh) |
1475 |
Sydney (Australia) |
1802 |
|
Antwerp (Bỉ) |
1481 |
Brazil |
1808 |
|
Stockholm (Thụy Điển) |
1483 |
Tehran (Iran) |
1820 |
|
Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) |
1493 |
New Zealand |
1835 |
|
Thessaloniki (Hy Lạp) |
1515 |
||
|
Mexico City (Mexico) |
1539 |
Nghiên cứu lịch sử châu Âu giai đoạn Sơ kỳ Cận đại đã tiếp thu các phương pháp nghiên cứu thư mục mới với đường nét quen thuộc. Đến khoảng năm 1480, các nhà in đã xuất hiện tại ít nhất 121 thị trấn và thành phố trên khắp châu Âu. số lượng thị trấn có nhà in tăng lên khoảng 270 vào năm 1500 (trong đó đã gộp hầu hết các trung tâm nằm liền kề nhau). Jean Francois Gilmont ước tính tổng lượng xuất bản sách incunabula trước năm 1501 vào khoảng 30.000 đầu sách với khoảng 9 triệu cuốn sách được in ra. Các nhà in ở các lãnh thổ khu vực Baltic là một trong nhiều ví dụ về những chủ thể góp phần định hình ngôn ngữ qua thiết kế và tạo lập mẫu chữ in. Phần lớn hoạt động này được dẫn dắt bởi quá trình dịch thuật và xuất bản Kinh Thánh. Việc thợ in di cư ra nước ngoài cũng có vai trò quan trọng. Nikolajs Mollīns, thợ in danh tiếng đầu tiên ở Riga (Latvia ngày nay) đã di chuyển từ Antwerp, tương tự như trường hợp người tiếp nối Caxton tại Anh là de Worde vốn cũng xuất thân là người Flanders (thuộc Bỉ ngày nay). Tất cả các thợ in giai đoạn đầu này đã giúp chuẩn hóa các phương ngữ và phát triển ngôn ngữ viết thông qua hoạt động in ấn.
Như quan sát của Lotte Hellinga thì: “Trong các văn bản sử dụng ngôn ngữ bản địa được viết vào thời Trung cổ (và cả sau này nữa), người ta có thể nhận thấy ngay các đặc điểm văn bản liên quan đến quá trình sử dụng một ngôn ngữ cụ thể, vốn sẽ thể hiện bản sắc của ngôn ngữ đó dưới dạng đồ họa. Chúng tạo ra ảnh hưởng mạnh mẽ gần bằng bản thân ngôn ngữ đó” [5]. Bản sắc đó phân làm hai nhánh khi một mặt, hoạt động in ấn cung cấp một sự thay thế cho các hình thức chép tay đang tồn tại, nhưng mặt khác (để phản biện lại phê phán của Eisenstein), trong quá trình chuẩn hóa ngôn ngữ viết, hoạt động in ấn còn giúp hạn chế sự sai biệt. Kỹ thuật in thạch bản, và có lẽ đóng vai trò lớn hơn nữa là kỹ thuật in đúc chì vào đầu thế kỷ XIX đã mang đến những thay đổi rất lớn. Một bản Kinh Tân Ước tiếng Syriac đã được in bằng kỹ thuật in đúc chì ở Hà Lan vào đầu thế kỷ XVIII, như Timperley đã ghi nhận là vào năm 1839. Tuy nhiên, trong phần lớn trường hợp thì các quy ước về kiểu chữ in đã được xác định, và chất lượng in đúc chì lại được đánh giá bởi độ chính xác trong việc sao chép các mẫu chữ quen thuộc đã có sẵn. Kỹ thuật in thạch bản tỏ ra đặc biệt thành công trong việc in ấn các ngôn ngữ Nam Á. So sánh với châu Âu, nơi nó thường bị gạt ra ngoài lề, kỹ thuật in thạch bản trở thành một công nghệ in ấn chủ đạo tại châu Á, qua đó cho phép dân chủ hóa ở một mức độ nhất định hoạt động in ấn. Các đầu sách thuộc chủ đề thần học được xuất bản thường xuyên nhất, tiếp theo là sách giáo khoa và sách văn học.
Nghiên cứu về kỹ thuật in thạch bản cũng có liên hệ đến lịch sử của sách ở các nước thuộc thế giới Hồi giáo. Dù khu vực này có truyền thống in ấn rất đặc trưng và giàu có, các học giả hàng đầu như Sheila Blair và Jonathan Bloom từ lâu vẫn kêu gọi cần phải phát triển nhiều hơn các nghiên cứu so sánh với bên ngoài. Những cuốn sách đầu tiên viết bằng chữ Ả Rập in bằng chữ in đúc là do những người ngoại đạo (không theo đạo Hồi) ở Venice làm ra vào năm 1514 - và bản thân bản in Kinh Qu’ran đầu tiên đã được thực hiện tại đây vào năm 1537. Văn bản Qu’ran chép bằng chữ ḥijāzī đã được chuẩn hóa sau khi Nhà tiên tri Muhammad qua đời vào năm 632, nhưng nỗ lực đầu tiên in bằng khuôn chữ rời không thành công về mặt thương mại này của người Venice cũng bộc lộ nhiều nhược điểm in ấn khiến cho phần lớn văn bản không thể đọc được ra nghĩa. Người ta sẽ phải chờ đến năm 1694 mới có nỗ lực tiếp theo để in một ấn bản đầy đủ bộ Thánh thư này tại Hamburg. Tuy vậy, kỹ thuật in thạch bản lại trở thành kỹ thuật in phổ biến ở các cộng đồng Hồi giáo châu Á vào thế kỷ XIX, vì nó đảm bảo việc sao chép văn bản với số lượng lớn và chính xác hơn, vốn được coi là yếu tố chuẩn mực tạo ra thẩm quyền cho văn bản. Kỹ thuật in thạch bản cũng cho phép đọc chữ in dễ dàng hơn đối với các loại văn tự Ả Rập và Ấn Độ so với chữ in đúc kiểu châu Âu. Giống như các dạng chữ Hy Lạp và La Mã, chữ Ả Rập được viết bằng các ký hiệu đại diện cho từng chữ cái và có thể được điều chỉnh để thích hợp cho những ngôn ngữ liên quan bằng cách thêm các dấu phụ vào 18 tự vị của nó.
Ba Tư thậm chí còn không ủng hộ việc áp dụng kỹ thuật in mộc bản hoặc in hoạt bản cho đến đầu thế kỷ XIX. Vào năm 1819, xưởng in nhà nước đầu tiên của thế giới Hồi giáo thành lập ở Cairo. Các nhà in thương mại cũng được phép thành lập vào cuối thế kỷ XIX, dù ngay từ khi đó đã bị quản lý rất chặt chẽ. Kinh Qu’ran chép tay hiển nhiên đòi hỏi chi phí rất cao để hoàn thiện, trong đó mỗi bản có thể sử dụng tới 18m2 giấy da cho toàn bộ văn bản dài khoảng 75.000 từ - tương đương với độ dài của Kinh Tân Ước. Các thủ bản chép tay này được đóng trong các hộp sách, dù tiến bộ trong kỹ thuật làm giấy đã giúp làm giảm giá thành tại ít nhất một số khu vực trong thế giới Hồi giáo từ thế kỷ X. Nghề họa sư làm sách phát triển rực rỡ ở Ba Tư thời Trung cổ, trong đó các thợ chép sách được giới cầm quyền sủng ái và đặt hàng chế tác những bản sách cao cấp, làm ra các bộ sưu tập sách đặc biệt hoa mỹ để phục vụ cho các nhà cai trị triều Mughal ở miền bắc Ấn Độ từ giữa thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX. Mặc dù vậy, phần lớn sách được sản xuất ra ở các nước Hồi giáo thực ra có hình thức thô sơ hơn nhiều so với các sách cung đình hay sách dùng cho cầu nguyện hàng ngày. Ví dụ, các bản chép tay Kinh Qu’ran ở vùng Hạ Sahara - Tây Phi cho đến thế kỷ XIX vẫn chỉ là những tập giấy rời rạc được bọc trong một túi da có trang trí. Do đó một lần nữa, kỹ thuật in thạch bản đã giúp làm giảm chi phí sản xuất và dần dần thay thế cho sách chép tay bất chấp sự phản kháng văn hóa. Nhưng sau cùng thì chính sự chuyển đổi sang kỹ thuật in dập nổi cơ giới hóa trong thế kỷ XX đã tạo nên một cuộc cách mạng cuối cùng trong việc sản xuất hàng loạt, lưu thông và sự gia tăng số lượng bản dịch Kinh Qu’ran. Để lấy ví dụ, cuốn Thánh thư này của đạo Hồi từng là sản phẩm chủ đạo của nhà in đầu tiên thành lập tại Bahrain năm 1913, nhưng chúng ta nhận ra một lần nữa rằng chúng cũng đi kèm với việc in vô số sách pamphlet giải nghĩa nội dung.
Một chân trời nghiên cứu sâu rộng hơn đã phát triển với định hướng nghiên cứu vi mô để lập bản đồ nơi chốn và không gian trong hoạt động sản xuất và truyền tải sách. Việc đặt câu hỏi cho vấn đề “ở đâu” vốn từng bị bỏ mặc sẽ khuyến khích việc xem xét địa điểm trong mối quan hệ không chỉ với yếu tố địa vật lý mà còn với ký ức và truyền thống của địa điểm đó. Lý thuyết chủ thể - mạng lưới đã được William Warner và những người khác áp dụng một cách hiệu quả để xác định các tương tác qua trung gian trên các khoảng cách rất khác nhau. Một mạng lưới được thực hiện: Hiệu ứng của các sắp xếp cụ thể giữa chủ thể và người phê phán. Diễn ngôn lịch sử như vậy có thể liên quan đến nhiều cộng đồng khác nhau và mở rộng từ nghiên cứu về sự dịch chuyển truyền thông và tri thức-truyền khẩu (oral-literacy) đến sự chú ý tỉ mỉ để khôi phục lại lịch sử của hiệu sách thương mại, người bán sách và ngành kinh doanh sách - rồi đến không gian đọc, được xem xét trong chương 5. Ở các thị trấn và cộng đồng tại châu Âu và Bắc Mỹ, địa điểm bán và mượn sách hay ấn phẩm định kỳ được đặt trong mối liên hệ với ý tưởng về không gian, địa hình văn hóa và với vai trò của cửa hàng trong thế giới thanh lịch thượng lưu và bình dân đại chúng. Một nghiên cứu đáng chú ý sẽ dựa trên tư liệu về hồ sơ cho thuê, bảo hiểm, chứng thực di chúc và các loại hồ sơ tài sản khác, cùng tư liệu về thuế, hải quan, pháp lý, tòa án và giấy tờ của chính quyền địa phương. Trong quá trình xác định các địa điểm buôn bán sách, ý niệm về một bookscape cũng được phát triển, kết hợp giữa nơi chốn, không gian và ký ức để diễn giải lại đặc thù của các khu phố thương mại [6]. Nghiên cứu như vậy sẽ tiếp tục kích thích suy nghĩ về lưu trữ và hồ sơ cùng các cách khai thác mới để phác dựng lịch sử của hoạt động sản xuất và giao dịch sách.