Lịch Sử Của Sách

Lượt đọc: 540 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Kinh tế học

❊ ❊ ❊

Câu hỏi “ai”, “cái gì” và “như thế nào” đặt ra trong lĩnh vực lịch sử của sách, xét tới cùng sẽ không thể giải quyết được nếu không chạm tới các vấn đề về chi phí vật tư và chi phí lao động, thời gian in ấn, doanh thu và giá cả. Mục tiêu này vượt ra ngoài những diễn ngôn lịch sử tôn vinh các đơn vị xuất bản đơn lẻ, trở thành một diễn ngôn lịch sử nghiêm túc hơn về nền kinh tế của những nhà sản xuất và người tiêu thụ tri thức (vốn không phải lúc nào cũng là người mua). Nghiên cứu lịch sử của sách thông qua tiếp cận kinh tế đòi hỏi phải phục hồi các hồ sơ hoạt động kinh doanh. Đây là một nhiệm vụ đầy trở ngại bởi những hồ sơ đó có thể đã mất hoặc khó có thể tiếp cận dễ dàng. Những công ty hiện đại dường như cung cấp nguồn tư liệu lưu trữ phong phú hơn cho các nghiên cứu kiểu này; tuy nhiên, họ cũng thường đòi hỏi nhà nghiên cứu phải xây dựng mô hình bù trừ sáng tạo để có thể giải thích cho các dữ liệu không thể phục hồi. Việc ứng dụng lịch sử kinh tế đã và đang là một hướng đi chưa thu hút được nhiều sự quan tâm trong hầu hết các diễn ngôn lịch sử của sách, mặc dù đã có tiến bộ đáng kể trong thống kê và diễn giải số liệu thống kê. Những phân tích về các đơn vị kinh doanh đơn lẻ của Aileen Fyfe, Jean-Yves Mollier và của nhiều người khác vẫn chủ yếu dựa trên nghiên cứu tư liệu lưu trữ. Trong khi đó, William St Clair đưa ra đề xuất về việc mô hình hóa một ngành “kinh tế chính trị học về hoạt động đọc” dựa trên đánh giá lâu dài về sản xuất, giá cả và dữ liệu người tiêu dùng đặt trong tương quan với các cơ chế bảo vệ sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, tại Trung Quốc, Nhật Bản cùng một số khu vực khác trên thế giới thời Tiền Cận đại, việc sản xuất và xuất bản sách phi thương mại hay sách tư nhân đã từng chiếm ưu thế, và điều này lại thách thức chúng ta phải hiểu thấu đáo về các giả định kinh tế khác nhau có thể sử dụng để giải thích cách thức các nhóm và tác giả nội địa có thể tài trợ cho hoạt động sản xuất sách, truyền tải văn bản. Ngay cả trong thời Cổ đại, việc thay thế giấy papyrus truyền thống, bảng sáp và giấy da bằng giấy hiện đại (làm từ bột gỗ), trên thực tế đều là kết quả của những cân nhắc về mặt kinh tế.

Đặc biệt, từ tiếp cận so sánh, nhiều vấn đề kinh tế đòi hỏi nhà nghiên cứu phải chú ý. Trong số các mảng đề tài còn ít được chú trọng, nổi bật lên là yếu tố kinh tế trong hệ thống bảo trợ kín và chi phí cộng gộp trong sản xuất sách thời Trung cổ. Một mảng đề tài khác cũng đang được tranh luận nhiều hơn lại xoay quanh tình trạng thiếu năng lực cung ứng của các nhà in giai đoạn Sơ kỳ Cận đại, và về sự căn chỉnh đúng hoặc sai nguồn lực sản xuất trong tương quan với nhu cầu của thị trường. Như sẽ được thảo luận thêm trong cuốn sách này, các nghiên cứu tiếp theo sẽ cần phải đánh giá nghiêm túc vấn đề cung và cầu trong hoạt động in ấn những ấn phẩm không phải là sách. Một vài tư liệu như các tập hồ sơ kinh doanh, sổ cái và thư từ của một số đơn vị xuất bản và in ấn lớn của châu Âu đương thời vẫn còn được lưu trữ một cách kỳ diệu qua nhiều thế hệ. Những bộ tài liệu lưu trữ này bao gồm tài liệu của dòng họ Cromberger ở Seville vào đầu thế kỷ XVI, của nhà Plantin-Moretus ở Antwerp từ năm 1555 đến năm 1876, của dòng họ Luchtman tại Amsterdam, của Strahan và John Murray I ở London vào thế kỷ XVIII. Các bộ lưu trữ của nhiều thế kỷ sau đó có thể kể đến là lưu trữ của nhà xuất bản Macmillans, Longmans và sau này là của nhà Murray, đi cùng với rất nhiều tài liệu của các đơn vị xuất bản và in ấn khác được lưu giữ tại Đại học Reading cùng một số kho lưu trữ tư nhân có thể tiếp cận, truy cập được ở khắp châu Âu và châu Mỹ. Do khối lượng đồ sộ của chúng, những hồ sơ này sẽ hưởng lợi từ việc áp dụng hệ thống tìm kiếm biên mục trực tuyến mới. Ví dụ, các sổ cái và giấy tờ của nhà Plantin-Moretus, hiện được lưu trữ trong những giá đỡ có chiều dài tổng cộng lên tới 113 mét, hiện đã có thể được tiếp cận thông qua bản kiểm kê năm 1926 của Jan Denucé, và hiện nay thì việc xây dựng danh mục kiểm kê cũng như truy cập trực tuyến đang trong tiến trình thực hiện.

Việc nghiên cứu trắc lượng thư mục về thực hành sản xuất đại trà trong thế kỷ XIX và thế kỷ XX còn gặp nhiều thách thức hơn nữa, dù là trên quy mô xuyên quốc gia hay được chia nhỏ thành từng lĩnh vực cụ thể. Hướng nghiên cứu này được khởi xướng bởi Simon Eliot, Alistair McCleery, Alexis Weedon và nhiều người khác. Như John Thompson và Eva Hemmungs Wirtén đã chứng minh theo những cách khác nhau, việc phục hồi cũng như giải thích tính phức tạp và mức độ biến đổi chứa đựng đầy thử thách. Cuộc cách mạng in ấn nổ ra khi kỹ thuật in đúc chì (in bằng khuôn đúc chữ kim loại*) ra đời, việc tự động hóa các công đoạn cắt lỗ và đúc chữ và cơ giới hóa việc sắp chữ in, trong đó có thể kể đến hai kỹ thuật in Linotype và in Monotype, đã có tác dụng thúc đẩy làn sóng xuất bản và phát hành sách với số lượng cực lớn với giá rẻ đi cùng sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực sản xuất báo và ấn phẩm định kỳ. Tính đến năm 1890 chẳng hạn, đã có khoảng 650 đầu ấn phẩm và 500 tờ báo được xuất bản chỉ riêng ở thành phố London. Một số vấn đề rộng hơn về kinh doanh được đề cập đến trong nghiên cứu lịch sử của sách gồm tài chính, lịch sử lao động và giao thông, qua đó đưa ra vấn đề so sánh cụ thể giữa các thời kỳ và các xã hội khác nhau. Những diễn ngôn lịch sử mới hiện đang hướng vào việc tìm hiểu hậu quả của những thỏa thuận thương mại quốc tế cùng các thương vụ sáp nhập, ví như sự kiện Bertelsmann mua lại hai nhà xuất bản là Random House và Penguin, hay chính sách xuất bản xuyên quốc gia của các công ty đa quốc gia như Reed International, Pearson, hay Springer Verlag. Công trình danh tiếng của Thompson có tên Merchants of Culture (Những thương nhân của nền văn hóa), là một nghiên cứu về hoạt động kinh doanh xuất bản hiện đại, đã khéo léo bỏ qua việc không thể tiếp cận kho tài liệu lưu trữ về kinh doanh bằng một đánh giá có nền tảng dựa trên 280 cuộc phỏng vấn.

Quan điểm toàn cầu cũng đòi hỏi phải có các cách tiếp cận mới. Tính phổ biến của hình thức xuất bản phi thương mại đặc trưng ở Đông Á thời Tiền Cận đại đối chọi lại quan niệm phương Tây gắn việc mở rộng hoạt động in ấn với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Qua đó, nó cũng gợi ý việc nhà nghiên cứu cần tái tạo các mệnh đề của Jürgen Habermas* và quan điểm gắn việc mở rộng thị trường xuất bản với việc biểu đạt công khai các quan điểm riêng về những vấn đề chung. Ở Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản, chính phủ, các tổ chức tôn giáo, các cá nhân, các gia đình và các nhà xuất bản thương mại đều tham gia tài trợ cho hoạt động sản xuất sách. Nền kinh tế đang vận hành với các chiến lược công nghệ khác nhau nhằm đáp ứng các loại nhu cầu và bảo trợ khác nhau này cũng thể hiện những nét tương phản có tính chỉ dẫn so với mô hình phương Tây. Điểm nhìn so sánh này đang làm sáng tỏ nhiều vấn đề mới. Theo Beth McKillop nhận xét thì, dù việc sử dụng kỹ thuật in hoạt bản tại Hàn Quốc và Trung Quốc trông có vẻ vụng về và không hiệu quả đối với người châu Âu, nhưng bản thân người Đông Á cũng có quan điểm tiêu cực tương tự đối với kỹ thuật đúc chữ in hoạt bản của châu Âu. Quy trình in ấn kiểu phương Tây đòi hỏi phải có vốn đầu tư và chi phí vận hành lớn, và việc nó sử dụng các con chữ in giới hạn trong 26 chữ cái sẽ không thích ứng được với hệ thống hơn 50.000 ký tự chữ Hán.

Cách tiếp cận so sánh kiểu này khuyến khích việc đặt ra nhiều câu hỏi lớn về hiệu quả sản xuất, quy trình nhân bản, quy mô độc giả, nhận thức chủ quan về công nghệ và tiến bộ. Dưới triều Tống, kể từ năm 960, Trung Quốc đã duy trì được đà phát triển bùng nổ của kỹ thuật in mộc bản, thể hiện qua sự phổ biến ngày càng rộng rãi của các văn bản có giá thành rẻ hơn. Và cho đến thời điểm nhà in xuất hiện ở các thị trấn và thành phố châu Âu, hầu hết sách in ở Trung Quốc đều có giá thành rẻ hơn và được phân phối rộng rãi hơn cả về phương diện xã hội lẫn phương diện địa lý. Kỹ thuật in bằng chữ chì đúc rời và giấy của phương Tây có giá thành cao hơn so với in mộc bản ở Trung Quốc, nơi mà lao động giá rẻ trong gia đình cũng là một nhân tố khiến chi phí giảm hơn nữa. Do đó, vấn đề hiệu quả kỹ thuật trong hoạt động in ấn giai đoạn sớm ở châu Âu cần phải được kiểm chứng bởi các diễn ngôn lịch sử mới về thực hành của các nhà in. Trong đó, chúng cần nhấn mạnh vấn đề hao tổn chi phí và thời gian trong hoạt động đúc chữ, sắp chữ, và lặp lại quy trình này trong quá trình tạo ra các ấn bản nối tiếp của cùng một cuốn sách. Những nghiên cứu so sánh các thực hành in ấn tại châu Á thời Sơ kỳ Cận đại cùng với các thực hành in khắc gỗ tinh vi và có thể hiệu chỉnh đuợc của Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản sẽ rất bổ ích, đặc biệt trong việc tìm hiểu sự tương tác giữa yếu tố thương mại với yếu tố tri thức, giữa hoạt động sản xuất ở đô thị và phân phối ở nông thôn.

Kỹ thuật in mộc bản không lan truyền nhanh chóng ở khu vực Đông Á như cách kỹ thuật in dập đã lan truyền tại châu Âu giai đoạn Sơ kỳ Cận đại. Tuy nhiên, từ thế kỷ XVII, in mộc bản bắt đầu nở rộ ở cả vùng nông thôn lẫn thành thị Đông Á - được thực hiện hầu hết bởi các chủ nhà xuất bản tư nhân đến từ nhiều hoàn cảnh xuất thân đa dạng. Trong đó, cả chủ thể nhà nước lẫn tư nhân đều tham gia vào quá trình đặt ra các tiêu chuẩn xuất bản, kể cả chất lượng giấy, trình bày thư pháp cũng như việc biên tập. Các tiêu chuẩn này thường cao hơn nhiều so với những nhà xuất bản thương mại ở châu Âu. Các thầy dạy cùng học trò Trung Quốc cũng tham gia vào các hoạt động xuất bản thương mại, mặc dù một số người không coi hoạt động xuất bản toàn thời gian là một công việc danh giá. Ngược lại, vào thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII, nhiều nhà sưu tập đã cố gắng tự xuất bản những ấn bản in lại các tựa sách hiếm và nổi tiếng trong bộ sưu tập của họ.

Phân phối cũng có vai trò quan trọng tương tự đối với cả xuất bản phi thương mại và xuất bản thương mại. Tuy nhiên, nó sẽ bao hàm các động lực ban đầu và hệ quả khác nhau. In ấn thương mại tại Trung Quốc phát triển trong khoảng 200 năm sau thời điểm nghề in xuất hiện lần đầu, tức là vào đầu thế kỷ VII. Cũng giống như tại châu Âu, nghiên cứu về ấn phẩm phi thương mại và hoạt động xuất bản tư nhân đặt ra các vấn đề đặc quyền về tác động của văn bản, hay về cách độc giả có thể phản ứng với văn bản, trong đó cách thức phân phối sẽ được xác định theo danh tính của người tiếp nhận. Trong tương quan so sánh, hoạt động phân phối trong in ấn và xuất bản thương mại có thể quyết định sự sống còn về khía cạnh kinh tế của người sản xuất khởi xướng trên nền móng một thị trường không ổn định. Trong cả hai trường hợp thì việc phổ biến ấn phẩm đều đóng vai trò rất quan trọng, song chúng có thể tuân theo các định hướng kinh tế (economic imperative) khác nhau. Như Ian Maclean nhận xét về ngành sách ở châu Âu thời Sơ kỳ Cận đại (và đáng chú ý rằng, đây là quan điểm của một học giả thường sống trong nghèo khó), lợi nhuận thu được không nhất thiết tương xứng với thặng dư tiền tệ hoặc việc mở rộng kinh doanh. Chúng ta cần phải cải tiến thường xuyên các mô hình thế kỷ XX vốn ưu tiên các chiến lược kinh doanh và kinh tế học trọng cung hơn là các mối quan tâm có thực khác từng tồn tại trong giai đoạn Sơ kỳ Cận đại. Ví dụ, nhà nghiên cứu cũng cần quan tâm hơn tới các tổ chức học thuật và tri thức vốn phụ thuộc vào một số hình thức bảo trợ, trợ cấp và kinh doanh thương mại vốn được thúc đẩy bởi các đối tượng mục tiêu xã hội, chính trị và tư tưởng.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

Truyện bạn đang đọc dở dang