Lịch Sử Của Sách

Lượt đọc: 533 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chú Thích 6

❊ ❊ ❊

[1]

Robert Mandrou, De la culture populaire aux XV1Ie et XV1IIe siècles. La Bibliothèque bleue de Troyes, ấn bản lần thứ hai, (Paris, 1975); Daniel Mornet, Les Origines intellectuelles de la Revolution française, 1715-1787 (Paris: 1933), dựa trên công trình của Daniel Mornet, ‘Les Enseignements des bibliothèques privées 1750-1780’, Revue d’histoire littéraire de la France (1910): 449-96.

[2]

David Cressy, ‘Literacy in Context: Meaning and Measurement in Early Modern England’, trong John Brewer và Roy Porter (biên soạn), Consumption and the World of Goods (London and New York, 1993), tr. 305-19.

[3]

R. D. Altick, The English Common Reader: A History of the Mass Reading Public 1800-1900 (Chicago and London, 1957), tr. 3.

[4]

Manning Stevens, ‘Mother Tongues and Native Voices: Linguistic Fantasies in the Age of the Encounter’, trong E. Hoffman-Nelson và M. Nelson (biên soạn), Telling the Stories: Studies in Native American Literature (New York: Peter, 2001), tr. 3-18.

[5]

Trish Loughran, ‘Books in the Nation’, trong Leslie Howsam (chủ biên), The Cambridge Companion to the History of the Book (Cambridge, 2015), tr. 36-52, cụ thể tại tr. 49.

[6]

Caroline Davis và David Johnson, ‘Introduction’, trong Caroline Davis và David Johnson (biên soạn), The Book in Africa: Critical Debates (Basingstoke and New York, 2015), tr. 1-17.

[7]

Cuộc tranh luận này được phân tích trong công trình của Robert Borofsky, ‘Cook, Lono, Obeyesekere, and Sahlins’, Current Anthropology, 38: 2 (1997): 255-82.

[8]

McKenzie, ‘History of the Book’, tr. 301.

Mặc dù sự xuất hiện của cái sau không nhất thiết đồng nghĩa với sự triệt tiêu của cái trước.

Phát minh kỹ thuật in sử dụng con chữ rời của Johannes Gutenberg (người Đức) vào giữa thế kỷ XV cho phép việc in ấn trở nên dễ dàng hơn, năng suất cao hơn và chất lượng tốt hơn. Từ đó, nó mở ra cuộc cách mạng in ấn, thúc đẩy nền văn minh châu Âu thời đại Phục Hưng và Cải cách tôn giáo. Và nhờ sự phổ biến của sách vở, tri thức lý tính, phát minh này đã khởi đầu kỷ nguyên in ấn hay thời kỳ hiện đại trong lịch sử nhân loại. (Biên tập viên chú - BTV).

Mục đích luận (Teleology): Thuyết cho rằng mọi sự kiện và bước tiến lịch sử đều có một mục đích cuối cùng và tồn tại vì mục đích đó (BTV).

Chủ nghĩa Whig: Quan điểm xem lịch sử đi theo con đường phát triển tiến bộ không ngừng, không thể đảo ngược, trong đó con người nhìn nhận, đánh giá quá khứ bằng các tiêu chuẩn và giá trị của thời hiện đại (BTV).

Theo Thống kê về tiêu chuẩn hóa quốc tế liên quan đến hoạt động sản xuất và xuất bản định kỳ, UNESCO đã định nghĩa pamphlet là: “Ấn phẩm in không định kỳ, gồm ít nhất 5 trang và không vượt quá 48 trang, không gồm trang bìa, được xuất bản ở một quốc gia cụ thể và được cung cấp cho công chúng. Nhờ ưu thế dễ sản xuất và giá thành rẻ, pamphlet từng thay thế chức năng của các bài viết có nội dung phổ biến ý tưởng chính trị hay tôn giáo trên báo hoặc tạp chí cho tới giữa thế kỷ XIX (BTV).

Trang gấp đính kèm (Fold-out panorama): Chỉ các tranh, ảnh, hình minh họa khổ lớn được gấp lại, đính kèm trong sách (BTV).

Mẫu chữ thêu tay (Embroidered text of sampler): Tấm thêu mẫu trên đó có chữ/văn bản là một hình thức thêu mẫu, thường để thể hiện trình độ tay nghề của người thêu. Loại hình này phổ biến ở châu Âu trong khoảng thế kỷ XVI - XVII khi ngành dệt hiện đại chưa ra đời. Tấm thêu chữ xuất hiện nhiều trong các cộng đồng Tin Lành, thường thêu các đoạn trích dẫn từ Kinh Thánh (BTV).

Người Sinhala hay Singhala là sắc tộc thuộc nhóm Ấn - Âu cư trú chủ yếu trên đảo Sri Lanka. Cư dân tộc Sinhala theo Phật giáo Theravada và là nhóm cư dân có lịch sử phát triển lâu đời nhất tại Sri Lanka (BTV).

Bản gốc tác giả viết là 納馬祖 ( ナマズ工 ) là chưa chính xác. Ba ký tự đầu tiên phiên âm Hán Việt là “Nạp mã tổ” phải viết theo Kanji là 鯰絵. Tương tự, bản gốc dùng Katakana ナマズ工 để phiên âm “namazu-e” cũng chưa đảm bảo chính xác với bối cảnh thời đại của thế kỷ XIX. Do đó xin sửa lại theo đúng Kanji và phiên âm Hiragana của từ gốc là: 鯰絵 ( なまずえ )(Người hiệu đính chú - HĐ).

Ý này của Barthes được trích từ bài tiểu luận De L’oeuvre au texte, bản gốc đăng trên Revue d’Esthetique, số 3,1971, tr.225-232. Tuyển tập tiểu luận của ông được dịch từ tiếng Pháp ra tiếng Anh bởi Stephen Heath, New York: NXB Hill and Wang, 1977. Tuy nhiên, ở đây có thể James Raven đã trích dẫn chưa đúng theo nguyên bản tiếng Anh: “(…) the text is held in language, only exists in the movement of a discourse“. Trong khi đó, ông lại dẫn là “(…) the text is held in language, only exists in the movement of a language“. Bản dịch của Lý Thơ Phức có tham khảo bản tiếng Anh của Heath dịch như sau:”(…) tác phẩm thì ở trong tay, còn văn bản nằm trong ngôn ngữ: nó chỉ tồn tại trong một diễn ngôn” (HĐ).

Nghiên cứu minh văn hay Minh văn học (Epigraphical study) là ngành nghiên cứu và diễn giải các bia ký cổ đại (BTV).

Ngôn ngữ Aramaic xuất hiện vào khoảng thế kỷ XI TCN ở khu vực Tây Bắc của vùng Trung Đông, có quan hệ gần gũi với các ngôn ngữ Hebrew, Syriac, Phoenician. Ngôn ngữ Aramaic từng gắn liền với sự bành trướng của nhiều đế chế lớn tại Lưỡng Hà cổ đại như Assyria hay Hittite (BTV).

Cuộc khai quật được nhắc tới ở đây là cuộc khai quật khu mộ cổ Mã Vương Đôi thuộc thành phố Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Có nhiều hiện vật đặc biệt quý hiếm từ đời Hán đã được tìm thấy trong di chỉ mộ táng này (BTV).

Thái Luân giã nát hỗn hợp đó bằng dụng cụ gỗ, sau đó hỗn hợp được đổ lên tấm vải căng phẳng và trải mỏng để ráo nước. Khi đã khô, ông khám phá ra là có thể viết lên đó rất dễ dàng. Đó là sự ra đời của giấy thời Đông Hán. Cuộc cách mạng trong việc sản xuất giấy giá thành rẻ hơn đã giúp giấy trở nên phổ biến hơn (BTV).

Người Mughal ở đây là cách mà người Ấn Độ gọi người Mông cổ trong đội quân Mông cổ từng xâm nhập vào Ấn Độ để truy kích tàn quân của Đế quốc Hồi giáo Khwarezmia đầu thế kỷ XIII, không phải Vương triều Mughal thành lập tại Bắc Ấn vào năm 1526 (BTV).

Danh pháp khoa học là Betula, tên gọi ở Việt Nam là cây bu-lô hoặc gỗ phong bàn. Trong kinh điển Phật giáo nó được gọi là “cây hoa” (BTV).

Cây gỗ trăn thuộc chi Tống quán sủ (danh pháp khoa học là Alnus) là chi thực vật có hoa họ Bạch dương (BTV).

Chi tiết này có lẽ tác giả nhầm. Theo bài viết có tên “Oldest Writing the New World” đăng trên tạp chí Science 313(5793), số tháng 10-2006, tr.1610-4 ghi rõ là phiến đá chỉ nặng 12kg. Tham khảo về bài viết nói trên tại địa chi: DOI: 10.1126/science.ll31492 (HĐ).

Flavius Cassiodorus (490 - 585) là sử gia, chính khách người Ý, từng giữ các chức vụ quan trọng dưới thời kỳ người rợ Ostrogoth cai trị bán đảo Ý. Năm 540, ông về hưu và thành lập một tu viện có tên Vivarium với mục đích bảo tồn văn hóa La Mã. Ông từng yêu cầu các tu sĩ thu thập bản thảo và sao chép các trước tác của nhiều tác gia dị giáo và Cơ Đốc giáo, nhờ đó lưu giữ được nhiều văn bản kinh điển quan trọng thời cổ đại (BTV).

Gaius Valerius Catullus (84 - 54 TCN) nhà thơ thời Hậu kỳ Cộng hòa La Mã, người sở hữu những bài thơ được xem như kiệt tác thơ trữ tình thời La Mã cổ đại. Trong 25 bài thơ của mình, ông chủ yếu đề cập tới chủ đề tình yêu của một người phụ nữ tên là Lesbia. Những bài thơ khác của ông lại bộ lộ sự khinh bỉ đối với Tổng tài Julius Caesar đang thao túng nền Cộng hòa (BTV).

Galen hay Galenos trong tiếng Hy Lạp (129 - 216) là triết gia, nhà văn và thầy thuốc vĩ đại người La Mã gốc Hy Lạp, có ảnh hưởng rất lớn tới phương diện lý thuyết và thực hành y tế của châu Âu suốt thời Trung cổ. Ông đề xuất quan điểm “thầy thuốc giỏi cũng là nhà triết học” và đã thực hành y tế dựa trên hiểu biết về triết học (BTV).

ligua franca: Có thể gọi là “ngôn ngữ cầu nối”, dùng để chỉ các ngôn ngữ được sử dụng để giao tiếp giữa các nhóm người hay cộng đồng không có chung ngôn ngữ mẹ đẻ (BTV).

Vua Triều Tiên Thái Tông (1367 - 1422), húy là Lý Phương Viễn, vua thứ ba của nhà Triều Tiên. Ông là người tàn bạo nhưng có năng lực trong việc cai trị, có nhiều đóng góp nổi bật trong lịch sử Triều Tiên (BTV).

Lưu Hâm (50 TCN- 23) tự là Tử Tuấn, người Kinh Triệu, Trường An, con trai của kinh học gia Lưu Hướng thời Tây Hán. Ông từng có thời gian vào Thiên Lộc Các, phụ trách hiệu đính chỉnh lý tàng thư quốc gia và cùng với Lưu Hướng biên tập lại Sơn Hải Kinh (BTV).

Ezra còn gọi là Ezra thầy tế lễ hay Ezra người ghi chép, là một nhân vật trong Kinh Cựu Ước của người Do Thái (BTV).

Thomas Hobbes (1588 -1679) là tác gia và triết gia người Anh, nổi tiếng với tác phẩm Levithan (1651), trong đó ông trình bày quan điểm của mình về thuyết Khế ước xã hội. Ông được coi là một trong những người khai sinh triết học chính trị hiện đại (BTV).

Cadmus là nhân vật trong thần thoại Hy Lạp, vua đầu tiên của thành bang Thebes và cũng là anh hùng Hy Lạp đầu tiên. Sử gia cổ Hy Lạp Herodotus (khoảng 484 - 825 TCN) cho rằng, Cadmus đã phát minh ra bảng chữ cái Phoenicia, tiền thân của bảng chữ cái Hy Lạp cổ đại (BTV).

René Wellek (1903 - 1995), nhà phê bình văn học người Mỹ gốc Séc, được xem là nhà nghiên cứu lỗi lạc kế thừa truyền thống văn chương Trung Âu. Có một giải thưởng vinh danh ông - Giải thưởng René Wellek -trao tặng cho các công trình xuất sắc trong lĩnh vực văn học so sánh (BTV).

John Leland (1503 - 1552), là một quản thủ dưới triều vua Henry VIII (trị vì 1509 — 1547). Dưới sự cho phép của nhà vua, từ năm 1534 hoặc từ năm 1536 đến 1542, ông tổ chức các chuyến du hành dọc vương quốc Anh và xứ Wales để thu thập các hiện vật và sách cổ từ các tu viện trong cả nước sau khi chúng bị buộc phải đóng cửa do chính sách tôn giáo mới của vua Henry VIII. Thành quả của ông là một danh mục thư tịch lớn, sau này được tiếp tục nghiên cứu bởi John Bale (1495-1563) (BTV).

Hàm ý chỉ việc cất giữ sách quá kỹ lưỡng trong thư viện, không để cho người khác đọc sẽ giết chết sức sống và giá trị của sách. Đây là tinh thần tôn vinh, tụng ca việc đọc sách (HĐ).

Gottfried Wilhelm Leibniz (1646 - 1716): triết gia, nhà toán học kiêm cố vấn chính trị nổi tiếng người Đức. Sự nghiệp của ông trải khắp châu Âu và để lại ảnh hưởng to lớn với khoa học và văn hóa phương Tây (BTV).

Nguyên gốc là “popular encyclopaedias”. Từ này có thể chỉ dạng văn bản có tên “Nhật dụng loại thư”, dù bình thường “Nhật dụng loại thư” được dịch sát nghĩa là “encyclopedia for daily use” (HĐ).

Gabriel Naudé (1600 -1653) là nhà vật lý, nhà thư viện học người Pháp, được coi là người khai sinh lý thuyết tổ chức thư viện hiện đại. Cuốn sách Advis pour dresser une bibliothèque (Lời khuyên về tổ chức một thư viện) được xem là công trình sớm nhất về khoa học thư viện (BTV).

Laurens Janszoon Coster (khoảng 1370 - 1440) là một thợ in người Hà Lan. Sống cùng thời với Gutenberg, ông được một số người cho là người đầu tiên phát minh ra kỹ thuật in con chữ rời ở châu Âu, dù cho các bằng chứng không đủ xác tín (BTV).

Samuel Pepys (1633-1703) là tác gia, viên chức Hải quân và nghị viên người Anh. Ông được biết nhiều nhất nhờ cuốn nhật ký từ năm 1660 đến năm 1669 ghi chép nhiều sự kiện lớn xảy ra thời điểm đó, trong đó có vụ cháy thành London năm 1666 (BTV).

Joseph Ames (1689-1759) là một nhà sưu tầm cổ vật và nhà thư tịch học người Anh. Ông nổi tiếng với tác phẩm Typographical Antiquities (1749) nghiên cứu lịch sử thư tịch in ấn tại Anh từ năm 1471 đến năm 1600 (BTV).

Nhóm Bách khoa Toàn thư là một nhóm biên soạn gồm các nhà trí thức Pháp thế kỷ XVIII đứng đầu bởi Denis Diderot (1713-1784) và Jean le Rond d’Alembert (1717-1783), có ảnh hưởng lớn đến Cách mạng Pháp (BTV).

Nguyên văn “in the pink parts of the globe”: Chỉ việc các bản đồ phổ biến tại Anh thời Victoria thường tô màu các lãnh thổ thuộc Đế quốc Anh bằng màu hồng đỏ. Về sau nó trở thành thành ngữ để chỉ Đế quốc Anh nói chung (HĐ).

Tại các nước Anh-Mỹ, “bibliography” được hiểu là một ngành khoa học về sách và hoạt động sản xuất sách, nên hiểu đúng phải là “thư tịch học” và nghiên cứu về sách cổ. Trong khi tại Việt Nam, “thư mục học” thiên về khoa học biên thư mục. Cách sử dụng lẫn lộn của “thư mục học” và “thư tịch học” đã diễn ra nhiều năm nay trong ngành thông tin thư viện tại cả Anh-Mỹ cũng như Việt Nam. Cách dịch nghĩa ngành này ở Việt Nam cũng rất đa dạng, từ “thư mục học”, “thư tịch học” hay xưa hơn ta có “mục lục học” hay “kinh tịch chí” (với tư liệu Hán Nôm, cách dùng của Trần Văn Giáp) (BTV).

Bản sách được dùng là cơ sở chính để xây dựng ấn bản san định (critical edition) (BTV).

Thư viện John Rylands được thành lập năm 1900 để tưởng niệm doanh nhân và triệu phú người Anh thế kỷ XIX John Rylands. Thư viện sở hữu một trong những bộ sưu tập sách cổ lớn nhất nước Anh (BTV).

Phường hội các nhà Văn phòng phẩm (Stationers’ Company) là tên một phường hội của các nhà xuất bản sách báo được thành lập tại thành phố London năm 1403 và được Hoàng gia công nhận năm 1557. Cho đến khi Đạo luật Bản quyền năm 1710 ra đời thì tổ chức này vẫn nắm độc quyền xuất bản và quản lý hoạt động xuất bản tại Anh (BTV).

Bài này có tên Tiêu hiên kim ngữ bình (鞘轩今语评) trích trong quyển 4 của sách Dực giáo tùng biên (翼教叢) của Tô Dư 苏舆. Do chưa tiếp cận được bản gốc chữ Hán nên chứng tôi tạm thời sử dụng bản dịch tiếng Anh của sách này (HĐ).

Ronald Brunlees McKerrow (1872 - 1940) là một trong những nhà thư mục học lỗi lạc và học giả hàng đầu về Shakespeare trong thế kỷ XX. Ông từng đảm nhiệm vị trí Thư ký danh dự của Hiệp hội thư tịch Anh Quốc. Công trình quan trọng của ông trong lĩnh vực thư mục học văn bản và thư mục học lịch sử là An Introduction to Bibliography for Literary Students (Nhập môn Thư mục học dành cho sinh viên ngành văn chương) xuất bản lần đầu năm 1927 (BTV).

Palimpsest: văn bản chép tay trên giấy da đã được cạo bỏ hoặc rửa sạch chữ để sử dụng lại cho văn bản mới (BTV).

Bộ sưu tập Truyền đơn Nội chiến Anh của Thomason (Thomason Collection of Civil War Tracts) là một bộ sưu tập gồm 22.000 tờ rơi, áp phích, bản chép tay, sách và báo chí được in và phát hành tại London thời kỳ Nội chiến cách mạng Anh. Bộ sưu tập do một chủ nhà in là George Thomason (?-1666) sưu tầm trong khoảng 20 năm từ năm 1640 đến năm 1661. Đây là một kho tư liệu vô giá về tình hình chính trị, xã hội, tôn giáo tại Anh từ Nội chiến cho đến khi tái lập nền quân chủ (BTV).

Biên mục đọc máy (machine-readable cataloguing): quá trình biên mục tài liệu để máy tính có thể đọc được (BTV).

Ephemera: khái niệm chỉ các loại tài liệu in hoặc chép tay có giá trị sử dụng ngắn hạn, bao gồm giấy ghi chú, bưu thiếp, thiệp mời, hóa đơn, vé, tờ chương trình, bích chương v.v… (BTV).

Slip-song: Văn bản có lời bài hát, thường được in trên một tờ giấy hẹp dài, không in kèm khuông nhạc và các ký hiệu âm nhạc như một bản nhạc thông thường (HĐ).

Trade sale: Khái niệm cũ chỉ hoạt động đấu giá trong nội bộ một ngành kinh doanh, chẳng hạn như việc đấu giá quyền xuất bản sách giữa các nhà xuất bản với nhau (BTV).

Chapbook: Một loại tập sách mỏng, giá rẻ, độ dài chỉ thường từ 16 đến 24 trang. Các chapbook in truyện, thơ, bài ca hay nghị luận và được bán bởi những người bán hàng rong (hay chapman) khắp các vùng nông thôn các nước Anh-Mỹ từ thế kỷ XVII-XIX (BTV).

Vùng Flanders là vùng nói tiếng Hà Lan thuộc Bỉ, một trong ba vùng ngôn ngữ (Pháp, Hà Lan, Đức) được công nhận tại Vương quốc Bỉ hiện nay (BTV).

Đây là hai cách viết chữ in thường kiểu cũ phổ biến trong sách vở dùng ký tự Latinh từ thế kỷ XIX trở về trước. Chữ “f thấp” là cách viết [ ʄ ] đuôi dài xuống dưới, đầu có móc. Chữ “s dài” được viết [ ʃ ] khác chữ [ s ] tròn, chỉ sử dụng trong một số trường hợp nhất định. Hai cách viết này có dạng gần giống nhau nên dễ gây nhầm lẫn (HĐ).

Xem Franco Moretti. Atlas of the European Novel: 1800-1900. London: Verso, 1997. Moretti dành nửa sau của nghiên cứu để xem xét sự truyền bá các tác phẩm văn học từ trung tâm (cụ thể là Anh và Pháp) ra các khu vực ngoại vi (như nội lục địa châu Âu hay các thuộc địa). Tác giả cố gắng dùng thống kê thư mục chứng minh rằng, quá trình xuất khẩu văn học dịch này là động lực có tính bảo thủ vì nó ngăn chặn sự phát triển của văn học bản địa (BTV).

Elizabeth Eisenstein (1923 - 2016) là sử gia người Mỹ nghiên cứu về cách mạng Pháp và châu Âu giai đoạn Sơ kỳ Cận đại. Công trình nổi tiếng thế giới của bà là The Printing Press as an Agent of Change ấn hành lần đầu năm 1980, đề cập tới lịch sử in ấn giai đoạn hậu Gutenberg, sự chuyển đổi trên phương tiện truyền thông giữa kỷ nguyên văn hóa viết tay và văn hóa in ấn cũng như vai trò của báo in trong quá trình thay đổi diện mạo nền văn minh phương Tây (BTV).

Lịch sử vi mô hay vi lịch sử: một hướng nghiên cứu lịch sử lấy đối tượng là các đơn vị nghiên cứu nhỏ, chẳng hạn như một sự kiện, cộng đồng, cá nhân hoặc một khu định cư. Vi lịch sử xuất hiện đầu tiên ở Ý vào cuối thập niên 1970. Những người ủng hộ vi lịch sử công kích mạnh mẽ các phương pháp nghiên cứu lịch sử tập trung vào đối tượng có biên độ thời gian lớn và việc sử dụng phổ biến phương pháp nghiên cứu định lượng như Trường phái Annales (Pháp), Nhóm nghiên cứu dân số của Cambridge (Anh), Nhóm Lịch sử trắc lượng kinh tế học ở Hoa Kỳ (BTV).

Trong hệ thống đại học Anh thì Readership là một học vị có vị trí trên vị trí Giảng viên chính (Senior Lecturer) và dưới bậc Giáo sư (Professor), tại một số nước tạm dịch là Phó Giáo sư. Lưu ý là trong so sánh với hệ thống học hàm tại Mỹ, Professor và Reader đều ngang hàng với bậc Giáo sư. Điểm khác ở đây là Reader là giáo sư không có vị trí chair - là vị trí được bổ nhiệm riêng bởi các trường đại học cho các học giả có thâm niên và đóng góp xuất sắc trong ngành mình nghiên cứu (BTV).

Mô tả một khung trang trí, ở giữa có chữ cái in thường. Đây là một hình thức giống cách làm chữ cái trang trí đầu chương sách mà không cần phải đúc riêng một con chữ mới (BTV).

Typography chỉ nghệ thuật thiết kế và trình bày bản in; kỹ thuật in hoạt bản, in typô; hay các thực hành in ấn nói chung tùy vào ngữ cảnh (BTV).

Jobbing printing có thể tạm dịch là in vặt (xét theo sản phẩm in) hay in đơn chiếc (xét theo kỹ thuật in), chỉ một hình thức in đột bản (in trên khuôn kim loại nổi) các ấn phẩm có kích cỡ nhỏ, chỉ in một lần với số lượng ít như sổ tay, tờ rơi, thiệp mời, danh thiếp cá nhân… In vặt khác với in báo (in một lần với kích thước lớn) hay in sách (in nhiều lần). Kỹ thuật in này hầu như đã bị thay thế bởi máy in điện tử hiện đại (BTV).

Khái niệm habitus chỉ “toàn thể thói quen và tâm thế hành vi của một văn hóa hoặc của một môi trường thẩm thấu vào cá nhân trong quá trình xã hội hóa”. Khái niệm này được đưa ra nhằm giải quyết tranh chấp giữa hai chủ thuyết khách quan và chủ quan trong xã hội học (BTV).

Lý thuyết chủ thể-mạng lưới: Là một tiếp cận lý thuyết và phương pháp luận đối với lý thuyết về xã hội; trong đó mọi thứ thuộc về thế giới tự nhiên và xã hội đều tồn tại trong những mạng lưới quan hệ liên tục dịch chuyển. Khi giới nghiên cứu khoa học công nghệ (STS) cùng nhà xã hội học John Law phát triển lý thuyết này, về mặt kỹ thuật, ANT cho phép lập bản đồ các quan hệ vật chất (giữa các sự vật) và ký hiệu (giữa các khái niệm) và giả định nhiều quan hệ vừa thuộc quan hệ vật chất, vừa thuộc quan hệ ký hiệu (BTV).

Immanuel Wallerstein (1930 - 2019) là nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế người Mỹ, người đề xướng lý thuyết Hệ thống thế giới hiện đại và lý thuyết Trung tâm - Ngoại vi. Theo đó, hệ thống thế giới là tập hợp các quốc gia-dân tộc khác biệt nhau nhưng lại có quan hệ hữu cơ thông qua bóc lột, bất bình đẳng, cạnh tranh, giành giật vị thế trung tâm - ngoại vi (BTV).

Khái niệm “hành động” (agency) xuất phát từ song đề cấu trúc - hành động (structure - agency) vốn gây tranh luận và chia rẽ các nhà xã hội học cổ điển trong một thời gian dài. Xem thêm các lý thuyết Cấu trúc hóa (Structuration) của nhà xã hội học Anh Anthony Giddens và Cấu trúc thiết kế luận (Constructivist Structuralism) của nhà xã hội học, triết gia Pháp Pierre Bourdieu như là nỗ lực vượt qua song đề này (BTV).

William Congreve (1670-1729), nhà viết kịch, nhà thơ người Anh, nổi tiếng nhờ thể loại hài kịch (BTV).

Thời đại Georgia (Georgian Era) là tên gọi chỉ thời kỳ lịch sử kéo dài từ năm 1714 đến năm 1837, được đặt theo tên hiệu của các vua Anh gốc Hanover (Đức), từ George I đến George IV. Trong thời gian này, nước Anh chứng kiến sự bùng nổ của “phong trào rào đất”, cuộc Cách mạng công nghiệp cùng sự nở rộ của thi ca Lãng mạn chủ nghĩa (BTV).

Thời đại Victoria (Victorian Era) gắn liền với 63 năm trị vì từ năm 1837 đến năm 1901 của Nữ hoàng Victoria là giai đoạn nước Anh chứng kiến vô số thay đổi trong đời sống văn hóa, xã hội, kinh tế. Đế chế Anh được mở rộng đến đỉnh điểm, bao trùm Ấn Độ, Ai Cập, Canada, Úc, New Zealand, Nam Phi. Đường sắt, điện tín, điện thoại, các nhà máy cùng lối sống thành thị bùng nổ. Văn hóa đại chúng, thời trang, văn chương, nghệ thuật thời kỳ này tạo nên dấu ấn sâu đậm trong lịch sử Anh Quốc (BTV).

Quan điểm về “Sự trỗi dậy của tiểu thuyết” của Ian Watt (1917-1999) - nhà phê bình văn học và sử gia văn học người Anh - được lấy từ công trình cùng tên của ông, xuất bản năm 1957. Trong đó, tác giả xem xét sự phát triển của thể loại tiểu thuyết từ dạng văn bản giải trí bình dân trở thành một hình thức văn học được coi trọng trong bối cảnh xã hội đổi thay ở châu Âu thời Sơ kỳ Cận đại (BTV).

Kỹ thuật in đúc chì (stereotyping) ra đời vào thế kỷ XVIII, trong đó, chữ in và hình ảnh được sắp sẵn thành form trang trước khi được dặp bởi một khuôn đúc ướt (gọi là matrix, hay mat). Sau khi khô, nó được dùng để đúc khuôn in chính bằng kim loại (thường là chì), gọi là stereotype, sử dụng trong quá trình in trên giấy. Khuôn đúc có đặc điểm bền và chắc hơn so với khuôn in hoạt bản, do đó phù hợp với việc in báo chí hay các ấn phẩm đòi hỏi cường độ in lớn (BTV).

Jürgen Habermas là nhà triết gia người Đức có ảnh hưởng bậc nhất thời hiện đại, đại diện tiêu biểu của trường phái lý thuyết phê bình Frankfurt. Trung tâm trong các nghiên cứu và thảo luận của ông là vấn đề tính hợp lý trong thông đạt và vấn đề khu vực công cộng. Khái niệm “khu vực công cộng” có nguồn gốc từ thế kỷ XVII gắn liền với triết gia I. Kant, F. Hegel, K. Marx nhưng được Habermas phân tích sâu sắc trong công trình của ông xuất bản năm 1962 có tên Sự chuyển đổi cấu trúc của khu vực cống cộng: Một nghiên cứu về phạm trù xã hội dân sự (BTV).

Uẩn Châu (1771-1833) là nhà thơ nữ nổi tiếng thời Thanh. Bà là người sưu tầm và biên soạn thơ của hàng trăm tác gia nữ trong 17 năm, tập hợp thành bộ Quốc triều khuê tú chính thí lục 國朝閨秀正始集 (BTV).

Thành phố được thành lập bởi Hoàng đế La Mã Constantine Đại đế vào năm 330, từng là kinh đô của đế chế Đông La Mã/Byzantine trong hơn 1.000 năm và sau này trung tâm quyền lực của đế chế Ottoman. Ngày nay là thành phố Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) (BTV).

Tiếng Syriac là một nhánh của ngôn ngữ Aramaic, phổ biến trong các cộng đồng Kitô giáo tại Syria và Cận Đông thời kỳ Trung cổ. Ngày nay ngôn ngữ này chỉ được sử dụng cho các mục đích tôn giáo (BTV).

Vùng Đất thấp chỉ vùng lãnh thổ chủ yếu thuộc hai nước Hà Lan và Bỉ ngày nay. Đầu thế kỷ XVI, Vùng Đất thấp vẫn nằm dưới sự cai quản của vương triều Habsburg và sự bảo trợ của Giáo hội Công giáo La Mã (BTV).

Văn bản này được ban hành bởi Giáo hoàng Paul IV (1555 - 1559) và do Thánh Bộ Tòa án Dị giáo La Mã (tiền thân của Thánh Bộ Giáo lý Đức tin) biên soạn. Mục đích là ngăn chặn các tín hữu Cơ Đốc tiếp cận những văn bản, sách vở đi ngược lại thần học cũng như đạo đức tôn giáo (BTV).

Thượng Hội đồng Brabant (Brabant Council) là cơ quan tư pháp tối cao của Công quốc Brabant (miền Bắc nước Bỉ ngày nay), từ năm 1430 đến năm 1794 (BTV).

Danh mục sách bán (booksellers catalogue) là loại danh mục trong đó người bán sách liệt kê các đầu sách mới, sách cũ và sách hiếm, đi cùng với các thông tin mô tả sách, số lượng tồn kho và giá (BTV).

Reconquista chỉ quá trình lịch sử phức tạp kéo dài khoảng 700 năm, từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XV, trong đó lực lượng Cơ Đốc giáo hoàn tất việc tái chiếm bán đảo Iberia từ tay người Hồi giáo. Năm 1492, việc người Moor thuộc Trấn (Emirate) Granada đầu hàng quân Tây Ban Nha đã kết thúc kỷ nguyên cai trị Hồi giáo ở Iberia (BTV).

Chính sách Thế tục hóa tại các tiểu quốc Đức cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX diễn ra trong 2 giai đoạn. Joseph II trong những năm 1780 đã thi hành chính sách tịch thu tài sản và cắt giảm một nửa số tu viện trong lãnh thổ Đế chế La Mã thần thánh. Từ năm 1794, nước Pháp cách mạng và sau đó là Napoleon đã tiến hành đóng cửa và sung công tài sản toàn bộ các tu viện trong vùng. Áp lực từ Napoleon sau đó buộc Đế chế La Mã thần thánh thực hiện chính sách này trong biện pháp tái tổ chức lãnh thổ Đế chế từ 1802-1803 (BTV).

Joseph II (1741-1790) là Hoàng đế nhà Habsburg của đế quốc La Mã Thần thánh từ năm 1765 đến năm 1790. Ông được biết đến là một vị Hoàng đế Khai sáng qua việc thực hiện một số cải cách hành chính, luật pháp, kinh tế và tôn giáo, gọi chung là Chủ nghĩa Joseph (Josephinism) (BTV).

Tiếng Latinh, chỉ các cuốn sách in giai đoạn sơ kỳ bằng kỹ thuật in hoạt bản, chủ yếu in trước năm 1501 (BTV).

Mechanics’ institute là một dạng cơ sở giáo dục thường xuyên dành cho tầng lớp lao động (thường là nam giới) xuất hiện ở các nước Anh-Mỹ từ đầu thế kỷ XIX. Thành lập bởi các nhà tư bản công nghiệp, mục tiêu của các trung tâm này là nâng cao trình độ văn hóa, tay nghề cho lao động thông qua hoạt động đọc và cho mượn sách (BTV).

Ashurbanipal là vị vua thứ tư của vương triều Sargon, vương quốc Tân Assyria (thế kỷ X - VII TCN) ở Lưỡng Hà. Dưới thời kỳ trị vì của ông, Assyria bành trướng tới cực thịnh và kinh đô Nineveh trở thành thành phố lớn nhất thế giới (BTV).

Veda được xem là kinh điển cốt tủy của Hindu giáo, bao gồm 4 bộ kinh Rig, Sama, Yajur, Arthava ca tụng thần linh và sức sống vĩnh hằng của vũ trụ. Sutra tập hợp lời thuyết giảng của Đức Phật với các đệ tử trong tăng đoàn trước khi Ngài nhập diệt. Các nội dung này sau đó được ghi chép lại, tạo nên phần Kinh tạng (trong Tam tạng - Tripitaka). Các kinh điển của đạo Jaina chứa đựng các bài giảng của Đức Mahavira và được các tín đồ đạo này thuộc lòng (BTV).

Theo biên niên sử Ấn Độ, vào năm 350 từng xảy ra một nạn đói diện rộng, nhiều nạn nhân là nhà tu hành của đạo Jaina và đạo Phật, chôn vùi phần lớn tri thức truyền miệng lúc bấy giờ của hai tôn giáo (BTV).

Mu’izz ad-Din Muhammad Ghori (1149-1205) là Sultan của Ghorid, một Hồi quốc gốc Ba Tư thành lập ở miền Trung Afghanistan ngày nay. Ông là người đã mở các cuộc xâm lược vào miền Tây Bắc và Bắc Ấn Độ cuối thế kỷ XII, qua đó mở đường cho sự bành trướng của Hồi giáo vào Tiểu lục địa Ấn Độ (BTV).

Kumarapala là vua của vương triều Chaulukya (Solanki) ở xứ Gujarat miền Tây Ấn Độ. Dưới thời kỳ ông cai trị, Kỳ Na giáo được tiếp nhận và coi trọng, bản thân nhà vua cũng là đệ tử của học giả Kỳ Na giáo He-machandra (BTV).

Giấy xá tội (indulgence) gắn liền với tuyên truyền của chức sắc trong Giáo hội Công giáo La Mã về việc tín đồ khi sở hữu giấy này sẽ tránh khỏi việc phải ăn năn hối cải về những sai lầm trong quá khứ, đồng thời có thể rút ngắn thời gian phải trải qua nơi luyện ngục. Giấy xá tội được mua bán công khai, trở thành cơ sở ra đời của 95 luận đề nổi tiếng của nhà Thần học Martin Luther (BTV).

Chỉ hệ thống ký lục, thư lại và thông ngôn từ cấp bình dân làm việc ở các chợ (hay bazaar), cho đến những người làm việc trong các hiệu buôn và chính quyền địa phương. Họ đóng vai trò chính trong việc phiên dịch, ghi chép và trao đổi văn bản, do đó rất quan trọng với chính quyền thuộc địa. Vấn đề này được Christopher Bayly chỉ ra trong công trình Empire and Information: Intelligence Gathering and Social Communication in India, 1780-1870 (Đế chế và Thông tin: Thu thập thông tin và Giao tiêp xã hội tại Ấn Độ, giai đoạn 1780-1870), xuất bản năm 1997 (BTV).

“Ecumene” là khái niệm trong tiếng Hy Lạp cổ mang nghĩa “thế giới văn minh hay “được con người cư trú”, về sau trở thành khái niệm trong Kitô giáo chỉ một thế giới văn minh có chung “tín ngưỡng, quyền lợi và nghĩa vụ”, hay còn gọi là “Công đồng Đại kết”. Bayly mở rộng khái niệm này để mô tả các hình thức “cộng đồng chính trị và văn hóa” tồn tại trước khi kỹ thuật in ấn du nhập (BTV).

Bennedict Anderson (1936 - 2015) là giáo sư ngành Nghiên cứu quốc tế và nghiên cứu châu Á của Đại học Cornell. Ông nổi tiếng trên khắp thế giới với công trình xuất bản thành sách năm 1983 - Những cộng đồng tưởng tượng: Một số suy ngẫm về nguồn gốc và sự lan tỏa của chủ nghĩa dân tộc. Trong cuốn sách, ông đã nêu ra giả thuyết về sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa dân tộc thế kỷ XVIII - XIX, đặc biệt ở châu Mỹ và ông quan niệm “quốc gia” như là một “cộng đồng tưởng tượng” (BTV).

Chân trời (Horizon): khái niệm chỉ ranh giới và phạm vi của nhận thức, một khái niệm quan trọng trong Thông diễn học (hermeneutics). Khái niệm này liên quan tới điều kiện, giới hạn, hệ quả của hoạt động hiểu. (BTV).

Thuyết sử luận hay Thuyết duy lịch sử được hiểu theo 2 nghĩa: (a) Lý thuyết cho rằng các sự kiện được xác định hoặc chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện cũng như quá trình cố hữu vượt ngoài tầm kiểm soát của con người; (b) Quan điểm cho rằng nhận thức lịch sử là rất quan trọng cho sự hiểu biết thấu đáo về một lĩnh vực chung hoặc lĩnh vực cụ thể. Các thành tố của thuyết sử luận từng xuất hiện trong các tác phẩm của Montaigne, Vico, Hegel, Marx, Boas và từng ảnh hưởng tại phương Tây trong nhiều thế kỷ. Năm 1957, công trình The Poverty of Historicim (Sự nghèo nàn của Thuyết sử luận) của triết gia Karl Popper đã chỉ trích và tuyên bố về sự phá sản của thuyết này (BTV).

Lý thuyết này còn có tên gọi là Phê bình phản hồi độc giả, trở nên nổi tiếng vào cuối những năm 1960, tập trung vào phản ứng của độc giả hay khán giả đối với một văn bản cụ thể hơn là với chính văn bản đó. Khác với lý thuyết Phê bình mới, Phê bình phản hồi độc giả lập luận rằng, một văn bản không có ý nghĩa trước khi độc giả trải nghiệm - đọc văn bản đó. Lý thuyết này phổ biến tại Hoa Kỳ và Đức với các lý thuyết gia chủ yếu gồm Stanley Fish, David Bleich và Wolfgang Iser (BTV).

Nhà văn, nhà nghiên cứu triết học người Pháp, Giám đốc nghiên cứu tại Trường Cao đẳng thực hành và Khoa học xã hội ở Paris. Tác phẩm nổi bật nhất của ông là The Practice of Everyday Life (Sự Thực hành của đời sống thường nhật) xuất bản lần đầu bằng tiếng Pháp năm 1980, nghiên cứu cách con người cá nhân hóa văn hóa đại chúng, thay thế mọi thứ xung quanh để biến chúng thành cái của mình (BTV).

Hans Robert Jauss (1921 -1997) là người sáng lập và là thành viên chủ chốt của trường phái Mỹ học tiếp nhận Konstanz, vốn ảnh hưởng lớn tới hoạt động phê bình văn học Anh - Mỹ. Hai công trình nổi bật của ông là Toward an Aesthetic Reception (Hướng tới một nền Mỹ học tiếp nhận, 1982) và Aesthetic Experience and Literary Hermeneutics (Trải nghiệm Mỹ học và Thông diễn học văn học; 1982) (BTV).

Part-issue là dạng ấn phẩm phát hành dài kỳ có đánh số, xuất hiện rất phổ biến từ thế kỷ XVII. Đây là một hiện tượng, thú vị, sau này phát triển thành một trào lưu xuất bản, theo đó các tác giả sẽ chia nhỏ cuốn sách của mình để đăng dần dần trên các tờ báo chẳng hạn. Mục đích là để lôi kéo sự theo dõi liên tục từ độc giả (BTV).

Kathryn Sutherland là giáo sư ngành Văn chương và Ngôn ngữ Anh tại Đại học Oxford, từng nghiên cứu quá trình biên tập và in ấn các tác phẩm của nhà văn Anh nổi tiếng Jane Austen, tác giả của Kiêu hãnh và định kiến. Trong một nghiên cứu của mình, Sutherland chỉ ra bằng chứng cho thấy có đầy rẫy những lỗi chính tả, ngữ pháp tiếng Anh trong bản thảo của Jane Austen và những áng văn mượt mà của tác phẩm thực ra đến từ nỗ lực của biên tập viên William Gifford tại nhà xuất bản John Murray, nơi xuất bản các tác phẩm của Jane Austen (BTV).

Sa quốc Muscovy là giai đoạn tập quyền hóa, tiền đề để hình thành Đế quốc Nga Sa Hoàng sau này. Khởi đầu với việc Ivan IV “Hung bạo” tuyên xưng Sa hoàng (Tsar), tự nhận kế thừa Đế quốc La Mã năm 1547 và kết thúc khi Pyotr Đại đế tuyên xưng Hoàng đế của Đế quốc Nga năm 1721, Sa quốc Muscovy đánh dấu sự bành trướng mạnh mẽ của người Nga về phía Đông, tạo nên lãnh thổ trải dài từ châu Âu sang châu Á (BTV).

Hookham and Carpenter là tên cửa hiệu kinh doanh trên phố New Bond của ông Thomas Hookham (1739 - 1819). Thomas Hookham vừa làm in ấn, vừa xuất bản, đóng gói, phụ trách phát hành và kinh doanh của thương hiệu Hookham and Carpenter. Khách hàng của cửa hiệu chủ yếu thuộc tầng lớp quý tộc và loại sách họ mua nhiều nhất là tiểu thuyết. Cháu trai của ông, William Hookham Carpenter là giám tuyển, có trách nhiệm tuyển chọn, bảo quản các bức vẽ và tư liệu in ấn của Bảo tàng Anh Quốc trong những năm 1845 -1866 (BTV).

Trạng thái này được hiểu như là cố gắng tách mình khỏi các yếu tố thuộc thực hành công cộng, gia tăng những độc thoại hoặc giao tiếp với thế lực siêu nhiên hoặc giữ bản thân trong yên lặng. Có thể đọc thêm về điều này qua trường hợp của Tôn ông Thomas More trong Dying for Ideas: The Dangerous Lives of the Philosophers của Costica Bradatan (BTV).

Có thể kể đến hệ thống các sách học dành cho sĩ tử, bao gồm hệ thống sách Ước giải, sách Đại toàn, sách Tiết yếu. (BTV).

Lý thuyết giao dịch trong thực hành đọc xuất hiện lần đầu khoảng năm 1938, gắn liền với tên tuổi của L.M. Rosenblatt trong công trình đầu tay Literature as Exploration (Văn học như là sự khám phá) và chính thức trở thành lý thuyết năm 1969 với bài báo Toward a Transactional Theory of Reading (Hướng tới một lý thuyết giao dịch trong thực hành đọc). Lý thuyết này cho rằng, cả người đọc và văn bản đều đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ý nghĩa. Ý nghĩa được tạo ra từ giao dịch liên tục giữa độc giả và văn bản (BTV).

Stephen Orgel hiện là giáo sư ngành Ngôn ngữ Anh tại Đại học Stanford, học giả hàng đầu về Shakespeare. Nghiên cứu của ông hướng vào các khía cạnh lịch sử và chính trị của văn chương, sân khấu thời kỳ Phục Hưng, lịch sử nghệ thuật, lịch sử của sách. Năm 2015, ông xuất bản tựa The Reader in the Book: A Study of Spaces and Traces (Độc giả ở trong sách: Một nghiên cứu về các chỉ dấu và các không gian) thuộc series sách tiếp cận văn bản của Nhà xuất bản Đại học Oxford (BTV).

“Ngợp ấn phẩm” (deluge of print) là hiện tượng một người có quá nhiều giấy tờ và ấn phẩm in như thư từ, quảng cáo, hóa đơn, báo chí và sách vở đến mức cảm thấy khổ sở vì không thể tiếp thu nổi (BTV).

(Tiếng Pháp) tạm dịch là: Cách trí của sự đọc (HĐ).

Vật dụng gồm những thanh gỗ hoặc kim loại được gia công, xếp cài vào nhau tạo thành hình chữ X, dùng để đặt bức vẽ, tranh ảnh hoặc sách khổ lớn, sách mở rộng trang với mục đích rất rõ ràng là trưng bày (BTV).

Makerspace trong trường hợp này được hiểu là Library Makerspace, chỉ một loại không gian trong thư viện, cung cấp cho các độc giả hoặc khách tham quan cơ hội tạo ra các dạng tài liệu hữu hình hoặc vô hình thông qua khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên tại chỗ của thư viện như máy tính, máy in 3-D, công cụ thu và chỉnh sửa video, bản thu âm, phương tiện sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ và nghệ thuật truyền thống (BTV).

Nguyên văn: “whiggish” là khái niệm chỉ quan điểm tin rằng lịch sử đi theo con đường tiến bộ không ngừng và qua đó có thể lấy hiện tại để đánh giá quá khứ. Khái niệm này không có liên hệ với đảng Whig (một chính đảng tồn tại ở Anh từ thế kỷ XVII-XIX) hay các tư tưởng mà đảng này đại diện(BTV).

Giải lãnh thổ hóa hay Phi lãnh thổ hóa (deterritorialization) là khái niệm được nêu ra lần đầu tiên bởi hai triết gia Pháp là Gilles Deleuze và Felix Guattari trong cuốn Anti-Oedipus (Phản Oedipus) xuất bản năm 1972 và sau đó là cuốn Kafka: Pour une literature mineure (Kafka: Vì một nền văn học thiểu số) xuất bản năm 1975. Hiểu đơn giản Deterritorialization là sự ly dị giữa yếu tố văn hóa và các yếu tố địa lý hay xã hội, ở nhiều phạm vi khác nhau như ngôn ngữ, văn học, văn hóa và ở nhiều cấp độ cá nhân, cộng đồng, quốc gia; bản thân nó gắn liền với khái niệm toàn cầu hóa (BTV).

Domenico Scandella (1532 -1599) bị Tòa án dị giáo Rome xét xử vì cáo buộc phản bội đức tin Cơ đốc và tư tưởng tà đạo, bị xử tử bằng cách thiêu sống vào năm 1599. Trước khi bị bắt, ông từng dành thời gian học để có thể đọc và từng đọc sách vở đương thời viết về lịch sử, tôn giáo; do đó ông không hoàn toàn tin những lời rao giảng của Giáo hội Công giáo La Mã. Cuộc đời cũng như phiên xét xử ông được sử gia người Ý Carlo Ginzburg thể hiện trong chuyên khảo The Cheese and the Worms (Pho-mát và Giun) xuất bản năm 1976 (BTV).

Nam tước Keith Sinjohn Joseph (1918 -1994) là chính trị gia người Anh, thành viên Đảng Bảo thủ, phục vụ trong Nội các của 4 vị Thủ tướng Anh, trải dài từ Harold Macmillan đến Margaret Thatcher. Ông được xem là kiến trúc sư của chủ nghĩa Thatcher (Thatcherism). Ông là người đồng sáng lập Trưng tâm Nghiên cứu chính sách Anh Quốc và là người đầu tiên giới thiệu khái niệm “kinh tế thị trường xã hội” vào nước này (BTV).

Tâm lý tập thể là khái niệm thuộc ngành Tâm lý học xã hội, được hiểu là “các trạng thái cảm xúc, trạng thái tinh thần và quá trình đặc trưng của các cá nhân khi đặt cá nhân đó trong những nhóm (xã hội) như hội đoàn, đoàn người, đám đông, khán thính giả, phong trào xã hội” (BTV).

Cặp phạm trù công cộng - riêng tư xuất hiện vào thế kỷ XVII, song người ta có thể truy nguyên về hai từ Hy Lạp là polis (dành cho công dân tự do, có phẩm hạnh, không ràng buộc vật chất) và oikos (dành cho việc sản xuất, lao động tay chân) (BTV).

Henry Louis Gates là một nhà nghiên cứu văn học, nhà sử học người Mỹ gốc Phi nghiên cứu về văn học người Mỹ gốc Phi. Ông là một nhân vật gây tranh cãi và từng bị phê phán vì các quan điểm biện hộ cho chế độ nô lệ và phân biệt chủng tộc tại Mỹ (BTV).

James Cook (1728 - 1779) là thuyền trưởng của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc, từng hai lần đi vòng quanh thế giới bằng đường biển. Năm 1778, khi đoàn tàu của Cook tới đảo Kealakekua của quần đảo Hawaii, ông cùng thủy thủ đoàn được thổ dân chào đón như những vị thần và người Anh đã lợi dụng điều đó. Tuy nhiên, xích mích vào năm 1779 đã khiến Cook thiệt mạng khi đụng độ với thổ dân (BTV).

Podcast, nói chung là netcast, là một chuỗi các tập tin âm thanh hay video số mà người dùng có thể tải về và nghe, được phân phối theo dạng đăng ký. Các tập tin phân phối ở dạng âm thanh, nhưng đôi khi có cả định dạng PDF hay EPUB. Podcast được ghép bởi 2 từ “iPod” (một nhãn hiệu máy phát nhạc) và “broadcast” (phát sóng) (BTV).

Nhân văn số thức là lĩnh vực giao thoa giữa khoa học máy tính với các ngành khoa học nhân văn. Nó mang tới công cụ và phương pháp kỹ thuật số cho việc nghiên cứu nhân văn với quan niệm văn bản giấy không còn là phương tiện chính sản sinh và phổ biến tri thức (BTV).

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026