Lịch Sử Của Sách

Lượt đọc: 540 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương 4
AI, CÁI GÌ VÀ NHƯ THẾ NÀO?

❊ ❊ ❊

Việc đặt các câu hỏi về “ai”, “cái gì” và “như thế nào” đã củng cố sự phát triển đáng kinh ngạc trong ngành lịch sử của sách hơn 30 năm qua. Tuy nhiên, điều quan trọng là những câu hỏi này đã được đặt ra trong mối quan hệ qua lại để đảm bảo rằng, các tác nhân (agent) và hành động (agency)* có vai trò xác lập, kiểm soát hoạt động sản xuất và truyền tải sẽ không bị phân tích biệt lập. Những người đặt câu hỏi thận trọng, vốn thường chống lại cách xưng danh “nhà nghiên cứu lịch sử của sách”, bảo đảm rằng trọng tâm của nghiên cứu không bị tách rời khỏi hoàn cảnh lịch sử của sản xuất, lưu thông, sử dụng, dù cho trọng tâm đó là việc xác định tác giả và chú thích biên tập hay việc phục hồi chủ ý sáng tác của tác giả, quá trình kiểm duyệt và vi phạm bản quyền, hoặc các quy trình biên mục của một thư viện cổ.

Trong quá trình làm công tác phục hồi văn bản cơ sở đối chiếu của nhà in hay thành lập văn bản cơ sở cho một bản in “lý tưởng” của tác phẩm, phục vụ công tác phê bình văn học, một số ít đã bỏ qua các khả năng mới mẻ cho phép chúng ta có thể hiểu được bối cảnh lịch sử của quá trình sản xuất và tái tạo văn bản. Donald. F. McKenzie và Jerome J. McGann là hai nhà nghiên cứu có ảnh hưởng nhất trong số những người - bằng nhiều cách khác nhau - tìm cách xem xét lại bằng chứng liên hệ đến văn bản vật lý, từ thành phần, trình bày bản in và hình thức vật chất, cho đến hoàn cảnh xã hội, kinh tế và chính trị đằng sau quá trình xuất bản văn bản. Có thể lấy một ví dụ là quá trình McKenzie xây dựng ấn bản biên tập hoàn chỉnh đầu tiên dành cho các công trình của William Congreve*. Trong hoàn cảnh bản thảo gốc của mọi tác phẩm quan trọng do Congreve sáng tác đều không còn, McKenzie đã mô phỏng lại chủ ý của nhà viết kịch bằng việc phân tích chặt chẽ và nghiêm ngặt những bản in đầu tiên, kết hợp với nhiều tư liệu lịch sử thuộc nhiều lĩnh vực. Phương pháp của McKenzie đã truyền cảm hứng cho xu hướng xét lại thư tịch, trong đó không chỉ tập trung vào việc phục hồi các thực hành của những người ghi chép và nhà in, mà còn phục hồi ý nghĩa của văn bản được đặt trong bối cảnh đặc thù cho phép chúng được xuất bản, truyền tải và tiếp nhận. Các công trình sau này của McKenzie tiếp tục phát triển hướng nghiên cứu tiên phong trước đó. Trong các công trình đó, ông phục hồi được cứ liệu chứng minh việc thanh toán cho các thợ sắp chữ và thợ in, cũng như xác định được rằng hình thức in ấn đồng thời - hay là việc sử dụng cùng lúc nhiều máy in và thậm chí nhiều nhà in để có thể hoàn thành một ấn bản - đã được thực hành phổ biến ngay từ giai đoạn Sơ kỳ Cận đại. Hướng nghiên cứu này không chỉ củng cố vai trò quan trọng của tài liệu lưu trữ như là một công cụ bổ trợ cần thiết trong nghiên cứu cuốn sách vật chất, mà còn phát triển lập luận rằng, mọi văn bản đều chịu các hình thức can thiệp vốn không thể và không nên bị loại bỏ bởi các quy trình biên tập hiện đại.

Những góc nhìn mới mẻ này đem lại phương tiện giúp khái niệm hóa quá trình thay đổi theo thời gian: sự thay đổi của vật liệu, của những người tham gia, của các kỹ thuật khác nhau, của quá trình vận chuyển, thu nhận và phản hồi. Việc theo đuổi một chương trình nghiên cứu có tính khoa học lịch sử hơn về các hành động/năng lực chủ thể (agency) và quan hệ nhân quả hiển nhiên thôi thúc nhà nghiên cứu đặt ra câu hỏi mới về điều kiện kinh tế trong sản xuất, cung ứng và đầu tư. Trong đó, đáng chú ý có bao gồm việc bảo vệ sở hữu tác phẩm bằng bản quyền cùng các biện pháp kiểm soát khác như, thanh kiểm tra nội bộ phường hội chẳng hạn. Ví dụ, làm thế nào mà quá trình mở rộng và thu hẹp trong xuất bản lại có liên quan đến sự bảo trợ, thị trường hay điều kiện phân phối, liên quan đến sự can thiệp giám sát bên ngoài dưới hình thức kiểm duyệt trước và sau xuất bản, cấp phép cùng các biện pháp trừng phạt chính trị và tư pháp đối với nội dung tác phẩm?

Vào thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau - đa phần trong số đó không bị ràng buộc bởi các khoa, đơn vị nghiên cứu thuộc đại học - đã bắt đầu xem xét cái mà ngày nay gọi là các câu hỏi về “lịch sử thư tịch”. Chúng được đặt trong mối tương quan với các tác giả, người ghi chép, nhà in và nhà xuất bản tài trợ, cũng như với nhiều loại sản phẩm khác nhau từ xa xỉ và danh tiếng cho đến rẻ tiền hay tạm bợ, bản viết tay hay bản in, tờ rơi, báo chí cho đến các ấn phẩm định kỳ. Nghiên cứu về các nhà phân phối, từ thương nhân, người bán sách cho đến các thủ thư và người cho vay vốn, luôn đi kèm với nghiên cứu về sự can thiệp của phường hội và nhà nước, sự kiểm duyệt, đặc quyền cùng các vấn đề về bản quyền và vi phạm bản quyền.

Kết quả này là một sự tái đánh giá mạnh mẽ về vấn đề thế nào là sách và sách đã có vai trò gì, qua đó hướng tới một chương trình nghiên cứu mới phong phú, đa dạng. David D. Hall và Hugh Amory đã đóng vai trò tiên phong trong hướng nghiên cứu mới về tôn giáo và xuất bản phẩm vùng New England giai đoạn sơ khởi. Trong khi đó, Anthony Grafton và Ian Maclean là những nhà nghiên cứu đã tạo ra bước ngoặt trong nghiên cứu lịch sử tư tưởng và xã hội về học thuật và giáo dục giai đoạn Sơ kỳ Cận đại. Tại Đức, nhiều nhà nghiên cứu văn học đã tập hợp quanh ngành Sozialgeschichte der deutschen Literatur (Lịch sử xã hội về văn chương Đức), trong đó chủ yếu nghiên cứu về quá trình ra đời và tiếp nhận các sách bán chạy (bestseller) cũng như các tác phẩm văn chương phê bình. Phần Danh mục tài liệu tham khảo cuối sách này cũng gợi ý cho bạn đọc những công trình tiêu biểu đã giúp hồi sinh ngành nghiên cứu lịch sử xuất bản thời kỳ Khai sáng tại Pháp và Đức. Với vô số công trình đã công bố đó, các tác giả đã đánh giá lại quyền lực và tính bất ổn định của hoạt động quản lý ấn phẩm và thông tin, viết lại lịch sử xã hội của ấn phẩm rẻ tiền, nghề bán dạo, chính trị và tinh thần mộ đạo bình dân (popular piety), xây dựng lại hiểu biết của chúng ta về quyền tác giả tác phẩm trong mối quan hệ với xuất bản, ấn phẩm, lưu hành bản thảo viết tay cũng như công việc bảo quản. Một số nhà nghiên cứu khác mở rộng hướng nghiên cứu này đến các hoạt động liên quan tới bản quyền, kiểm duyệt, lịch sử chính trị và xã hội của tin tức, nghề làm báo, báo chí và tạp chí.

Ở một góc nhìn mới, các khía cạnh cấu thành ngành kinh doanh sách nhận được sự quan tâm, xem xét từ rất nhiều nhóm nghiên cứu hoạt động xuất bản tại cả địa phương lẫn khu vực đô thị. Hướng nghiên cứu về hoạt động sản xuất và tiếp nhận sách trong thế kỷ XX có phạm vi trải rộng, từ sự nổi lên của các tập đoàn đa quốc gia và các đầu sách bán chạy, cho đến nghiên cứu xã hội học truyền thông điện tử cùng với vô số góc nhìn khác. Một số nhà nghiên cứu khác lại tìm hiểu các vấn đề như, điều kiện kinh tế nền tảng trong thực hành xuất bản thời đại Georgia* và thời đại Victoria*, đồng thời đào sâu nghiên cứu lịch sử hoạt động in ấn, thúc đẩy việc nghiên cứu thư mục trong xuất bản Kinh Thánh cũng như phát triển khái niệm có tính sáng tạo về hoạt động giao dịch giữa nhà sản xuất, nhà tài trợ và người tiếp nhận. Những đánh giá mới về các tuyển tập văn học đi kèm việc đánh giá lại về các hình thức truyền thông trong quá khứ, đặt bên cạnh những đóng góp đa dạng của phụ nữ trong hoạt động viết lách, đánh giá, xuất bản và giao dịch sách. Mặc dù các hoạt động hợp tác nghiên cứu như vậy tập trung nhiều hơn đến ấn phẩm, có nhiều học giả về châu Âu thời Trung cổ vẫn xuất bản hàng loạt công trình có ảnh hưởng nhằm tái định vị hoạt động tạo lập thủ bản chép tay và cổ ngữ học trong các thông số lịch sử rộng hơn; trong khi một số nhà nghiên cứu khác đã làm hồi sinh ngành nghiên cứu sách incunabula.

Đa phần hoạt động kể trên đã mở rộng hoặc tái định hình các nghiên cứu cũ, vốn từng là thành tố cơ hữu trong chương trình học tại các trường đại học. Nó bao gồm những khám phá mới về vấn đề trình độ đọc viết và thực hành đọc viết của tầng lớp lao động, qua đó đánh giá lại từ công trình quan yếu xuất bản vào năm 1957 của Richard D. Altick là The English Common Reader (Độc giả bình dân Anh), cho tới cố gắng điều tra của Peter Blayney, xét lại nhiều công trình nghiên cứu, trong đó đáng kể có công trình của Cyprian Blagden về lịch sử phường hội Stationers’ Company. Một số nghiên cứu cũng đóng góp vào một hướng diễn giải thư mục rất khác biệt so với quan điểm nổi tiếng và tưởng như không thể bị phủ nhận của Ian Watt về “sự trỗi dậy của tiểu thuyết”*, bao gồm cả các nhánh của lý thuyết này phát triển tại Bắc Mỹ. Cũng trên lát cắt nghiên cứu rộng lớn, một thế hệ mới của các nhà thư mục học lịch sử đã xem xét lại lịch sử chính trị, kinh tế và xã xội của hoạt động xuất bản và tái bản ở Hoa Kỳ. Một nhóm các học giả phân tán trong nhiều ngành thuộc nhiều lĩnh vực đã cùng nhau hoàn thiện hướng nghiên cứu về các nhà xuất bản cũng như quan hệ của nhà xuất bản với tác giả, lịch sử các doanh nghiệp in ấn và lịch sử những sản phẩm in ấn quan trọng khác như sách chép nhạc, truyện thơ, sách chapbook, sách thiếu nhi, bản đồ, tranh in và bản nhạc. Những thứ này đang hợp lại với nhau, thay thế nhiều công trình khảo cứu tiêu chuẩn cũ như bộ English Books and Readers (Sách và độc giả Anh) gồm ba tập của H. S. Bennett, xuất bản trong thờỉ gian từ 1952-1970.

Điều đáng chú ý ở đây là sự đa dạng trong hình thức và tiếp cận nghiên cứu, cũng như là các mảng giao thoa nghiên cứu chủ chốt. Peter Komicki là một trong những học giả tiên phong mang hiểu biết về lịch sử sách của Nhật Bản đến với thế giới Anh ngữ - với cái nhìn so sánh sắc sảo. Qua những góc nhìn mới mẻ về lịch sử xuất bản và tiếp nhận văn bản, James Secord và những nhà nghiên cứu khác đã tạo ra dấu ấn mới lên nhận thức về lịch sử khoa học. Những diễn ngôn lịch sử mới về kỹ thuật khắc kẽm, in tinh khắc (intaglio) và khắc ảnh trên bản kẽm (photogravure) đã góp phần hình thành nên những hiểu biết mới về thực hành làm bản đồ, thực hành xuất bản, tiếp nhận ký âm và bản nhạc, minh họa sách, tạp chí và báo giấy. Các nhà lưu trữ và các chuyên gia thư viện tận tụy đã đổi mới triệt để quan điểm nghiên cứu lịch sử thư viện và sưu tầm sách, bổ trợ cho đóng góp tiên phong của các công trình nghiên cứu nhiều tập trong khuôn khổ quốc gia. Đóng góp của Michael Twyman và những người khác cho nghiên cứu về ngành in và in thạch bản cũng như đóng góp của John Bidwell cùng cộng sự cho nghiên cứu về lịch sử của giấy đã củng cố những tiến bộ này. Đáng chú ý, các nhà nghiên cứu và nhà bảo tồn như Nicholas Pickwoad hay Mirjam Foot đã khiến thúc đẩy nhận thức rằng, bìa sách và kỹ thuật đóng sách là một phần không thể thiếu trong lịch sử của sách chứ chỉ không dừng lại là một thú chơi đơn thuần hay một phần của lịch sử nghệ thuật và sưu tầm sách.

Bên cạnh đó, các nhà sử học và xã hội học khác cũng phản hồi nghiên cứu này thông qua nhiều hội thảo lớn hay các nghiên cứu lịch sử nổi bật bàn về hoạt động xuất bản, truyền thông hiện đại, mạng lưới thông tin xuyên đại dương, hoạt động xuất bản các ấn phẩm tín ngưỡng và tôn giáo, dẫn đầu bởi Asa Briggs, Jean-Yves Mollier, John Thompson, Christopher Bayly và Bernard Bailyn cùng nhiều người khác. Cùng với hàng loạt nghiên cứu khác vốn có ảnh hưởng to lớn của mình, Peter Burke, Roger Chartier và Daniel Roche cũng tổ chức những hội thảo mà bằng nhiều phương thức đã hướng đến đề tài lịch sử xã hội của tri thức.

Các nhà nghiên cứu với danh sách dài công trình kể trên dù có nhiều điểm nhấn và cách tiếp cận khác nhau, song lại cùng chia sẻ những mục tiêu chung. Gần như tuyệt đại đa số giới nghiên cứu này đến từ Anh, Pháp và Bắc Mỹ - họ cũng có kết nối độc lập với giới học giả ở những khu vực khác và bản thân họ thường được đào tạo trong các truyền thống thư tịch học và nghiên cứu bảo tồn khác nhau. Tuy nhiên, từ một thập kỷ trở lại đây, đã xuất hiện một khối lượng lớn công trình nghiên cứu gồm các chuyên khảo, tiểu luận của giới nghiên cứu đến từ châu Đại Dương - tiếp thu xuất sắc truyền thống nghiên cứu thư tịch Anh và Pháp, hay từ Nga và Trung Âu. Tiếp nối thành tựu đó là những công trình đáng chú ý từ Ấn Độ, Mexico, Brazil, Nhật Bản và Nam Phi. Bên cạnh đó, hiện nay cũng nổi lên xu hướng trao đổi học thuật với các nhà sử học và các nhà nghiên cứu văn học Trung Quốc và những khu vực khác tại châu Á. Cho đến thập niên 2010, đã có rất nhiều chuyên khảo và bài báo khoa học xuất bản hàng năm với các tác giả và nhà xuất bản ít nhiều gắn bó với chuyên ngành lịch sử của sách. Phần lớn nghiên cứu trong số này vẫn đặt mối quan tâm vào châu Âu và Bắc Mỹ hoặc xoay quanh kỷ nguyên in ấn, tuy nhiên ngày càng có nhiều hơn sự chú ý đến lịch sử thế kỷ XX cũng như vấn đề tương tác giữa bản thảo viết tay và bản in. Như các chương trước đã làm rõ, việc mở rộng phạm vi địa lý của các đề tài nghiên cứu cũng như việc nghiên cứu sâu hơn các hình thức sách cổ thường đòi hỏi việc đặt lại câu hỏi nghiên cứu cơ bản về sự ra đời cũng như mối quan hệ giữa các đối tượng vật chất, nhà sản xuất và phương thức truyền tải của chúng.

Đặc điểm tiến bộ nhất trong các nghiên cứu lịch sử mới kể trên là việc kết hợp nhiều nguồn tư liệu khác nhau với các kỹ năng đặc biệt cho phép nhà nghiên cứu xác định các loại bằng chứng tư liệu mới - phần lớn trong số đó cũng yêu cầu nhà nghiên cứu phải có kỹ thuật mới cùng sự thận trọng khi diễn giải. Việc truy vấn văn bản kết hợp với phân tích mở rộng cận văn bản và tài liệu - hay là việc xem xét biến thể cổ ngữ và thủ bản chép tay, trang trí sách (illumination), đánh dấu (rubrication), phụ lục, chú thích, chỉ mục, dàn trang, minh họa và thiết kế phông chữ, cùng với hình thức, kỹ thuật đóng sách hay nói rộng hơn là các yếu tố vật lý của văn bản. Tuy vậy, việc khai thác rộng hơn các bằng chứng ngoại văn bản, đặc biệt là nghiên cứu xuất xứ, cũng đã đem lại nhiều thành quả có giá trị.

Các diễn ngôn mới về lịch sử thư tịch châu Âu thời Trung cổ đã phân tích nhiều vấn đề thiết yếu về những thay đổi trong hoạt động xuất bản sách, đặc biệt là phân công lao động và sự tham gia của nhiều dạng thợ thủ công khác nhau làm việc với cùng một sản phẩm. Việc sao chép, hay là việc chuyển một văn bản từ bản mẫu ra bản sao (apograph) hoặc bản chép và bắt chước lại nội dung, phong cách chữ viết, bố cục trang là một số công đoạn trong quá trình làm ra một cuốn sách. Tuy nhiên, điều này khác với khái niệm hiện đại và tính chính xác của bản mô phỏng hoặc bản ngụy tạo. Ở châu Âu lục địa, thuật ngữ diplomatic (theo nghĩa cũ dùng để chỉ “văn kiện chính thức”) bao trùm lên toàn bộ các khía cạnh của tài liệu và hồ sơ, không ngoại trừ cả nghiên cứu về tính chính xác của công việc sao chép. Khái niệm Codicology (hay “Khoa nghiên cứu bản thảo chép tay”) đã được áp dụng rộng rãi trên tất cả các phương diện liên quan tới sách chép tay bên cạnh ngành nghiên cứu thủ bút viết tay, dù ở những khu vực nói tiếng Đức thì khái niệm Handschriftenkunde lại được sử dụng phổ biến hơn. Tại Anh Quốc và Hoa Kỳ, Codicology có định nghĩa bao quát hơn. Nghiên cứu về chữ viết tay - hoặc cổ ngữ học theo chiều kích hàn lâm - được kết hợp như một thành tố trong nghiên cứu về dạng sách codex, về phương pháp viết, sửa chữa hiệu đính, chú thích, đánh dấu, đóng sách, dán nhãn sở hữu, các hình thức bổ sung khác nhau và xuất xứ, vốn bao gồm cả hoạt động kinh doanh và biên mục sách.

Việc khôi phục lại các lỗi sao chép hay sửa chữa trong các thủ bản chép tay và các bản in cổ cho ta biết nhiều điều về thói quen đọc viết trong quá khứ. Tuy nhiên, tình trạng tản mát của nhiều bản thảo và bản in còn tồn tại có thể gây bối rối cho nhà nghiên cứu, do đó việc phân loại và ghi chép là rất cần thiết. Tạp chí Revue d’histoire ecclésiastique đã thực hiện công việc này từ năm 1900 và với tạp chí Scriptorium là từ năm 1946. Medioevo Latino, một thư mục xuất bản thường niên kể từ năm 1978, hiện đã chuyển sang hình thức trực tuyến, tập trung vào các văn bản viết bằng tiếng Latinh có niên điểm từ năm 457 đến khoảng đầu thế kỷ XVI. Việc nghiên cứu về mặt kỹ thuật đối với những sách codex cổ còn tồn tại, đa phần trong số đó ở trong tình trạng bảo quản kém và rời rạc, đòi hỏi phải kết hợp nhiều tri thức, phương pháp chuyên ngành rất khác nhau. Hàng loạt tiến bộ mới trong nghiên cứu cổ ngữ học Hy Lạp và Byzantine đã cho phép phục hồi lịch sử truyền tải văn bản thông qua các phương pháp phân loại mới và đối sánh kỹ thuật số. Chẳng hạn, nhiều thủ bản tiếng Hy Lạp hiện lưu trữ tại Paris đã có thể được truy cập qua cổng Gallica; trong khi cơ sở dữ liệu Pinakes đặt tại Paris do Centre National de la Recherche Scientifique (Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia; CNRS) hỗ trợ có tính năng giúp người đọc so sánh các bản số hóa mới của sách codex vốn đang được lưu trữ tại nhiều địa điểm rải rác trên khắp thế giới. Dự án Digita Vaticana Onlus khởi động năm 2013 với mục tiêu số hóa 80.000 thủ bản cùng bản thảo hiện lưu giữ trong Thư viện Vatican là một trong số nhiều dự án số hóa đang được tiến hành trên toàn thế giới.

Tại Anh, việc xác định thủ bút viết tay thuộc các giai đoạn muộn cũng được tạo điều kiện nhờ vào vai trò các bộ sưu tập tài liệu trực tuyến như Late Medieval English Scribes (Văn bản chép tay Anh giai đoạn Hậu kỳ Trung cổ), một bộ thư mục bao gồm tất cả văn bản viết tay trong các thủ bản tác phẩm của năm tác giả Anh ngữ lớn thời Trung cổ. Heather Wolfe và Daniel Bellingradt trong các nghiên cứu của mình đã đánh giá lại tính sẵn có của giấy ở châu Âu thời Trung cổ và Sơ kỳ Cận đại, trong khi Alexandra Gillespie cùng các đồng sự khác lại điều tra lịch sử sản xuất những bộ Sammelbände (loại sách kết hợp hai hay nhiều tác phẩm trong cùng một tập sách). Các cuộc tranh luận vẫn đang tiếp tục xoay quanh vấn đề phân nhóm và tái gộp nhóm với các loại sách trong thời kỳ incunabula và trong giai đoạn đầu thế kỷ XVI, đồng thời cũng xuất hiện thảo luận về việc phong trào cuồng sưu tầm sách cuối thế kỷ XVI đã tập hợp hay hủy hoại những gì. Việc đánh giá sự mất mát một lần nữa lại có vai trò quan trọng. Rosamond McKitterick cùng một số nhà nghiên cứu tìm cách liên hệ các bộ thư mục thư viện châu Âu giai đoạn Sơ kỳ Trung cổ với vấn đề tổ chức sắp xếp tri thức. Trong khi đó, dự án British của Richard Sharpe về các thư mục thư viện Anh Quốc thời Trung cổ lại tiếp tục mở rộng những công trình của Ker, qua đó cho phép xuất bản các thư mục thư viện và danh sách các đầu sách được xác định là còn tồn tại trong các cơ quan tổ chức trên đảo Anh thời Trung cổ. Nỗ lực đó đã làm sáng tỏ phạm vi, lĩnh vực, trình độ của các tác giả và tác phẩm được lưu hành đương thời. Công trình của ông, Handlist of the Latin Writers of Great Britain and Ireland before 1540 (Danh sách các tác gia Latinh tại Anh và Ai-len trước năm 1540) cũng được xây dựng dựa trên sự hiểu biết về các nhà biên mục sách thế kỷ XVI và XVII.

Trong các nghiên cứu này, bằng việc sử dụng một khối lượng lớn tài liệu lưu trữ - cả cổ xưa lẫn hiện đại - thuộc nhiều thể loại, vấn đề “ai” ở đây đã không chỉ liên quan đến danh tính của các nhà sản xuất sách khác nhau, mà còn là liên quan tới cả những người chủ trương tác phẩm hay tác giả tác phẩm. Các diễn ngôn lịch sử của sách gần đây đã xem xét lại hoạt động sản xuất thủ bản, mối quan hệ giữa tác giả - nhà xuất bản, tính ẩn danh (rõ ràng và thường thuộc về phạm trù livres sans auteurs) và danh tính của tác giả, hoạt động dịch thuật và dịch giả, quá trình chuyên môn hóa cùng nhiều khía cạnh khác về bối cảnh lịch sử của quyền tác giả [1]. Sự ra đời ý tưởng về quyền tác giả xuất phát từ các bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn. Việc xác định sự tồn tại của nhiều tác giả phổ biến nhưng không được công nhận chính thống đã thách thức cách định nghĩa về Văn học (với chữ V viết hoa để nhấn mạnh hay phê phán). Cùng với các nghiên cứu mới về các vấn đề trong văn hóa viết tay, bản quyền, tự xuất bản, cơ chế đăng ký mua sách và nhuận bút, nó đã góp phần đánh giá lại cách định nghĩa thế nào là một nhà văn. Các so sánh từ Trung Quốc cũng mời gọi đặt ra những nghi vấn mới về vấn đề tác giả và độc giả. Nhiều tác gia Đông Á đã tự tham gia quá trình sản xuất, phát hành tác phẩm của họ qua hình thức xuất bản tại gia (gia khắc; jiake 家刻) đến một quy mô mà châu Âu giai đoạn Sơ kỳ Cận đại và Cận đại không thể so sánh được. Các tác gia cổ Đông Á cũng thường mang danh tính tập thể, theo nghĩa các văn bản được liên kết với nhau và chỉ đề tên một tác giả. Tuy nhiên, các thực hành này tại Trung Quốc theo nhiều cách cũng tương đồng với hình thức phát tặng các bản chép tay cá nhân tại phương Tây, hay về sau này là hình thức xuất bản tự bỏ vốn để “in riêng cho tác giả”, và ngày nay là hình thức tự xuất bản số hóa. Mặt khác, kỳ vọng về độc giả của các tác gia Đông Á cũng rất khác nhau - cũng như có xu hướng giao thoa theo những cách đặc biệt theo yếu tố giới tính.

Thư từ và ghi chép cá nhân của các tác giả, các bộ thư mục sách và thư viện, quảng cáo của các nhà xuất bản, chỉ dẫn in ấn, hồ sơ đấu giá cùng nhiều ví dụ khác, có thể xác định được trong các bộ thư mục nền tảng đôi khi đến từng tác giả hay thể loại chính. Tuy vậy, ngành nghiên cứu lịch sử của sách vẫn đòi hỏi giới nghiên cứu phải đào sâu khám phá kho lưu trữ, thực hiện các công việc điều tra và tư duy phi tuyến tính (lateral thinking) - vốn là công việc phù hợp hơn với các nhà sử học áp dụng nghiên cứu theo hướng thực nghiệm. Thêm vào đó, các hệ thống truy xuất lưu trữ mới có thể đóng một vai trò quan trọng. Với nhà nghiên cứu, những hồ sơ có giá trị nhất nhưng thường khó nắm bắt nhất chính là các hồ sơ của doanh nghiệp. Trong đó, chúng liệt kê chính xác mọi chi phí sản xuất - về vật tư, nhân công - và về thời gian, tính toán giá thành chi tiết; qua đó một hồ sơ kinh doanh khác, đôi khi mang tính phụ trợ, lại có thể được dùng để tính lương thưởng. Kể từ giai đoạn Sơ kỳ Cận đại, loại hồ sơ thứ hai này thường rất hiếm khi còn tồn tại đến ngày nay. Việc xác định và diễn giải một số lượng lớn các tài liệu lưu trữ khác nhau - đôi khi là tài sản công khai, đôi khi lại thuộc về tư nhân - đã và đang hỗ trợ sự tiến triển trong ngành lịch sử của sách. Những bằng chứng có thể trích từ hồ sơ kinh doanh và sổ cái, hồ sơ học việc, hồ sơ chứng thực, giấy tờ pháp lý, công chứng, hồ sơ cảnh sát và tòa án, văn bản nhà nước, nghị viện hay chính quyền địa phương, hồ sơ tờ khai hải quan và vận chuyển, hồ sơ thuế và điều tra dân số, hồ sơ bảo hiểm, cho thuê cùng các loại hồ sơ tài sản khác và nhiều hơn nữa. Các loại hồ sơ này - đặc biệt là hồ sơ đặc thù đại diện cho các cá nhân, quy trình và địa điểm liên quan, tiếp tục đề cao kỹ năng của nhà nghiên cứu trong việc khôi phục hoạt động lịch sử - giải quyết các vấn đề “ai”, “cái gì”, “như thế nào”, cũng như câu hỏi “ở đâu” và “vì sao”.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

Truyện bạn đang đọc dở dang