Max, Bi Kịch Chủng Thượng Đẳng

Lượt đọc: 126 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
PHẦN HAI
11.

❊ ❊ ❊

Tôi đi bằng xe Mercedes, một chiếc xe đẹp và lớn màu đen được hộ tống bởi những chiếc mô-tô chạy trước mở đường giúp chúng tôi có thể di chuyển nhanh nhất có thể. Chuyến đi kéo dài hai ngày, bao gồm cả một đêm nghỉ ngơi giữa đường tại nhà của một quan chức cao cấp của đảng, đồng nghiệp của bác sĩ Ebner.

Munich, Ingolstadt, Nuremberg, Bayreuth, Leipzig, Dessau, Potsdam. Hãy thử hình dung ra sự ngạc nhiên của tôi. Tôi, người chưa từng ra khỏi hàng rào là những hàng dương ngăn cách Heim với vùng đồng quê ở Steinhöring, giờ đây đang đi qua những thành phố lớn nhất của nước Đức. Cuối cùng tôi cũng được khám phá Tổ quốc của mình. Tôi mê mẩn cả người, mắt mở to hết cỡ để ngắm nhìn phong cảnh đang trôi vùn vụt qua cửa kính của chiếc xe hơi. Tôi rất muốn xuống xe đi dạo một vòng những thành phố đó, nhưng tôi hiểu rằng không có cuộc thăm thú nào nằm trong chương trình cả. Đây hoàn toàn không phải là một chuyến du lịch thông thường. Một vài lần dừng xe để đi vệ sinh, không nhiều, và chỉ có vậy thôi. (Tôi cố nhịn để không làm ướt cái quần của mình, một việc không phải lúc nào cũng dễ dàng.) Dù sao đi nữa thì khi xe chạy về phía Đông, phong cảnh bắt đầu thay đổi, càng lúc càng có vẻ kém thiện cảm hơn và hứng thú đi dạo của tôi cũng dần nguội tắt.

Khi chúng tôi vượt qua biên giới với Ba Lan thì chỉ còn những đống đổ nát trải dài ngút tầm mắt. Những ngôi nhà bị trúng bom, đổ sập, khối từ các đám cháy, những người bị thương và những xác chết nằm la liệt trên cánh đồng hay trên đường, những đoàn xe được áp tải bởi những người lính Đức đang nối đuôi nhau. Nhiều khi, dù vượt qua đoàn xe đó với tốc độ cao, tôi cũng kịp thoáng thấy một gương mặt, xanh xao, mệt mỏi, thất thần vì sợ hãi.

Những người Ba Lan. Những tù nhân.

Tôi đi chuyến này với toàn người lớn, và toàn những nhân vật quan trọng. Thái độ của tôi không chê vào đâu được. Tôi rất ngoan, ngồi ngay ngắn và luôn giơ thẳng tay lên chào những nhân vật mà chúng tôi gặp gỡ trong suốt chuyến đi. Tôi tự kiềm chế không đặt ra các câu hỏi mặc cho sự tò mò làm tôi bứt rứt không yên.

Ngoài bác sĩ Ebner và ngài Sollmann, giám đốc điều hành của chương trình Lebensborn vốn thường tới thăm Heim thì tôi không biết ai khác. Josefa không tham gia chuyến đi, điều đó (nói nhỏ với các bạn thôi nhé) làm tôi rất mừng. Tôi cần sự thay đổi, sẽ rất buồn chán nếu như lại có cô ta kè kè bên cạnh. Từ nay trở đi cô ta đã thuộc về quá khứ và tôi cần phải quên cô ta đi. Cô ta ôm chặt tôi vào lòng, thậm chí đưa tay lên lau nước mắt khi chia tay. Đồ giả dối! Thực tế thì cô ta rất hài lòng vì đã được giải thoát khỏi tôi. Tôi tin rằng nước mắt đó là dành cho bác sĩ Ebner. Cô ta thầm yêu ông ấy. Còn tôi thì nhanh chóng tìm cách thoát ra khỏi vòng tay của cô ta.

Tchüss!29 Chào! Hẹn gặp lại! Cảm ơn vì tất cả! Hi vọng chúng ta sẽ sớm gặp lại!

Ngồi cạnh Ebner và Sollmann là ngài Tesch, một luật gia. Khi tới Berlin thì có một chiếc xe hơi thứ hai gia nhập với chúng tôi, trên xe là một nhóm những người đàn bà. Họ có bốn người tất cả. Trong suốt chuyến đi những người đàn ông và đàn bà thay phiên nhau đổi xe để trao đổi với bác sĩ Ebner cùng ngài Sollmann. Những lúc tôi không quá mệt mỏi hay không ngủ thiếp đi thì tôi thường giỏng tai lên nghe những gì họ nói. Toàn những điều rất quan trọng.

Quả vậy, họ làm việc không ngừng, trong hoàn cảnh hiện tại, chiếc xe Mercedes chính là phòng họp. Họ nghiên cứu các tập hồ sơ, các lá thư, các công văn từ Thống chế Himmler. Họ lập các báo cáo, tính toán chi phí dự trù cho những đoàn tàu và đoàn xe sẽ phải chạy tới chỗ này hay chỗ kia - những địa danh bằng tiếng Ba Lan, đối với tôi chúng quá phức tạp để ghi nhớ.

Sếp của nhóm những người đàn bà là bà Inge Viermetz, trợ lí thứ nhất của ngài Sollmann. Nhiệm vụ của bà ta là đại diện cho những chuyên gia "nhân diện học". Đó là những người có khả năng nhận ra trong nháy mắt liệu một người nào đó có thuộc chủng người Bắc Âu hay không. Dưới quyền của bà ta có cô Müller của cơ quan NSV (National Socialistische Volkwohlfahrt), một cơ quan phụ trách quỹ phúc lợi Quốc Xã. Sau cùng là cô Kruger, đại diện của Jugendamt, Cơ quan phụ trách thanh thiếu niên. Những người đàn bà này đều đeo phù hiệu trên áo, chính vì thế mà tôi có thể đoán được ai thuộc cơ quan nào. Hiện giờ tôi đang là quán quân về khả năng nhận biết quân hàm và phù hiệu. Về phần người đàn bà cuối cùng, bà ta nói mình là đại diện cho các “Braune Schxvester".

Các "nữ tu áo nâu". Tôi chưa từng nghe nói tới họ. Sdnoester, tôi biết rằng đó là một mật ngữ, nó chẳng phải "nữ tu" hay "y tá" gì hết. Các y tá, họ là những cô gái được dùng cho việc sinh nở, những người thụ thai và mang thai những đứa trẻ của tương lai như tôi. Nhưng các y tá có tóc vàng chứ không phải tóc nâu. Họ cũng thường trẻ và xinh đẹp. Còn người đàn bà ngồi cùng xe với chúng tôi lại vừa già vừa xấu. Nếu không muốn nói là nhìn phát khiếp lên được.

Các "nữ tu áo nâu", tôi cần thêm thời gian trước khi có thể bổ sung cụm từ này vào danh sách các mật ngữ của mình.

Thích nhất là trong lúc tôi giả vờ ngủ và bọn họ nói chuyện với nhau mà không nghi ngại gì, tôi nghe lỏm được rằng người ta sẽ giao cho tôi - Konrad von Kebnersol, bốn tuổi - một nhiệm vụ có mật danh là "Chiến dịch...". Đáng tiếc thay, tôi chẳng biết nó là "chiến dịch" quái gì bởi vì mấy từ cuối cùng bị át đi bởi tiếng bàn tán xôn xao.

Nhiệm vụ bí mật này là gì nhỉ? Dù đã vận dụng hết công suất của bộ não siêu-thông-minh của mình tôi vẫn không tài nào đoán ra được. Các bạn không hình dung được là sự tò mò của tôi đã lên đến đỉnh điểm thế nào đâu.

Poznan. Đích đến của chuyến đi.

Chúng tôi trú tại một trong số những ngôi nhà hiếm hoi còn đứng vững ở gần toà thị chính. Toà thị chính đã bị bác sĩ Ebner và ê kíp của ông ta trưng dụng. Ban ngày họ có mặt ở đó và làm việc liên tục không nghỉ. Nhiều nhân vật khác đã có mặt ở đây từ trước khi chúng tôi tới cũng tham gia với họ. Người qua kẻ lại tấp nập suốt ngày.

Ngôi nhà rất đẹp, rộng rãi và đồ đạc được bày biện đẹp mắt. Những người chủ cũ hẳn phải rất giàu có. Chúng tôi sống ở tầng trệt bởi các trận ném bom đã làm hư hỏng những tầng phía trên. Tôi thừa hưởng căn phòng của một trong số những đứa trẻ. Mọi thứ vẫn y nguyên, cậu bé đã rời đi mà không đem theo thứ gì: quần áo vẫn vắt trên lưng ghế, trong tủ đầy đồ đạc và các món đồ chơi vương vãi trên sàn nhà. Theo tôi thì hoặc cậu ta đã chết hoặc bị bắt làm tù nhân.

Tôi không thích ru rú trong căn phòng này chút nào, tôi muốn đi thám hiểm các tầng nhà, giữa đống đổ nát, gạch vữa, những sàn nhà bị sập. Tôi sẽ chơi đùa nhảy từ chỗ này sang chỗ khác, qua miệng một cái hố, ngồi thụp dưới một cái cửa sổ vỡ kính như một xạ thủ bắn tỉa đang ngắm mục tiêu trước khi nhả cò. Toàn những trò tuyệt vời để rèn luyện sự liều lĩnh, táo bạo của tôi. Hay hơn hẳn cái trò tô màu mà cô Lotte, nữ tu áo nâu đảm nhận việc chăm sóc tôi vẫn gọi ý. Đây không phải là người từng ngồi cùng xe với chúng tôi, nhưng cô ta cũng xấu và già chẳng kém. Còn thêm khoản ngớ ngẩn. Tô màu! Cô ta nghĩ tôi là gì chứ? Tôi đã biết đọc và biết đếm! Josefa là người đã dạy tôi. Thậm chí tôi còn làm được các phép tính. Ví dụ như: một cái túi đựng ba mươi cái kẹo, một tên Do Thái ăn cắp mất hai mươi lăm cái, hỏi còn bao nhiêu kẹo trong túi? số kẹo còn lại là 30 - 25 = 5. Quá đơn giản!

Cô Lotte hao hao giống Josefa. Lúc nào cũng nghiêm trang trong bộ đồng phục của mình, luôn theo dõi và uốn nắn tôi. Tôi kính trọng cô ta, tôi phải làm thế, nhưng trong thâm tâm tôi rất bực bội. Tôi chán bị vây quanh bởi những người đàn bà lắm rồi. Nhất là tôi từng nghĩ rằng chuyến đi Ba Lan này sẽ thay đổi mọi thứ. Tôi không còn là một đứa bé nữa, tôi đã là một cậu con trai. Vì thế, tôi muốn có những người bạn bằng vai phải lứa với mình.

Có một điều làm tôi nguôi ngoai, đó là Lotte không chỉ cho tôi ăn, giúp tôi mặc quần áo và tắm cho tôi - những việc từ nay trở đi tôi sẽ tự làm - mà còn giúp tôi sẵn sàng cho nhiệm vụ. Nhiệm vụ mà tôi phải hoàn thành để phụng sự Quốc trưởng và hữu ích với Tổ quốc. Khâu đầu tiên của việc chuẩn bị này là học một số câu tiếng Ba Lan và phát âm sao cho ít pha giọng nhất có thể. Thoạt đầu tôi gặp nhiều khó khăn, đó là thứ ngôn ngữ mọi rợ, nhưng tôi chăm chỉ luyện tập hằng ngày và ngày càng tiến bộ. Tôi đã biết hai câu đầy đủ và có thể đọc lại trơn tru, không vấp váp, hệt như một đứa bé Ba Lan thực thụ:

"Dzien dobry! Mam na imie Konrad. A ty? Chcesz sie ze mna pobawic?" Có nghĩa là: "Chào bạn, tên tớ là Konrad. Tên bạn là gì? Bạn có muốn chơi cùng tớ không?"

Trong những ngày tới, tôi sẽ phải học nói: "Tớ bốn tuổi. Thế còn bạn? Bạn có anh chị em không? Nhà bạn ở đâu? Bạn sống một mình với mẹ à?" Rồi nhiều câu khác nữa. Tôi rất bận. Nhưng tôi thích công việc này, với lại... tôi không phải đứa ngốc. Mặc dù cô Lotte nhất quyết không chịu nói gì thêm về nhiệm vụ của tôi, nhưng dường như chủ yếu là đi gặp gỡ bọn trẻ con.

Tôi rất háo hức.

Đến lúc rồi! Đi nào!

Hôm nay là ngày tôi bắt đầu làm nhiệm vụ. Cô Lotte đưa cho tôi quần áo ấm để mặc, cùng đôi giày kiểu nhà binh to đùng. Ngoài kia, trời rất lạnh. Tuyết đang rơi, gió thổi hun hút làm rối tung mái tóc vàng của tôi. về phần Lotte, cô ta mặc một cái váy dài màu nâu sậm nhìn giống cái túi đựng khoai tây, với cổ áo rộng màu trắng và hai cổ tay áo cũng trắng. Bên ngoài váy, cô ta choàng một chiếc tạp dề xám có một cái túi lớn, trong đó cô ta để đầy kẹo, các thanh sô-cô-la và những chiếc bánh mì tròn. (Giờ thì tôi đã hiểu ý nghĩa của tên gọi này, "nữ tu áo nâu". Nó có liên quan tới bộ đồng phục. Những người đàn bà đóng giả thành các nữ tu thực thụ, những người theo đạo, trong khi thực tế thì hoàn toàn không phải vậy. Để làm gì nhỉ? Điều này vẫn là một ẩn số.)

Chúng tôi không dùng xe Mercesdes mà tất cả leo lên một chiếc Volkswagen màu đen, một chiếc xe với vẻ ngoài bình dân hơn và thích hợp hơn cho nhiệm vụ bí mật của chúng tôi. Có một nữ tu nữa với trang phục y chang đi cùng, bà ta xách theo một cái giỏ lớn đầy ắp kẹo và đeo một cái xắc-cốt30 bên trong có một tập dày các tấm thẻ bìa. Lái xe là một trung sĩ quân đội.

Chúng tôi đánh xe ra vùng ven của Poznan và đi qua một số ngôi làng nhỏ. Phần lớn trong số chúng đã bị đốt cháy hay bị ném bom. Các trang trại hầu như không còn gì, chuồng trại, nhà kho chỉ còn là những đống cháy đen. Các nhà thờ cũng chịu chung số phận. Mùi thịt bị đốt cháy thoang thoảng trong không khí.

Khi chúng tôi tới một ngôi làng có vẻ còn khá nguyên vẹn, người đàn bà ra lệnh cho người lính giảm tốc độ, mở cửa sổ trời và cho xe chạy chầm chậm. Trong điều kiện thời tiết này, ý tưởng mở cửa sổ trời thật buồn cười, nhưng cũng rất thú vị, tôi thích thú với cảm giác cái giá lạnh mơn man trên mặt, và những bông tuyết đang tan ra trên mái tóc bạch kim. Tuyết rơi chồng lên tuyết...

Xe lăn bánh chậm rãi trong im lặng, cho tới khi đến cổng một trường học, nó dừng lại. Chúng tôi đỗ xe cách cổng trường vài mét, chiếc xe được che khuất bởi một lùm cây. Im lặng tuyệt đối. Không ai xuống xe. Không ai động đậy. Người ta chờ... cái gì nhỉ? Dừng xe mà không được xuống đi dạo thì phỏng có ích gì? Các nữ tu ra lệnh cho tôi phải kiên nhẫn và ngồi ngoan. Một lát sau có một số người đàn bà tới đứng chờ trước cổng trường.

Suỵt! Tôi hiểu rằng tôi phải ngồi im không động đậy, gần như nín thở. Chúng tôi nhìn thấy những người đàn bà kia đang tán gẫu với nhau nhưng họ lại không mảy may biết đến sự hiện diện của chúng tôi. Hoạt động gián điệp theo kiểu trốn tìm này buồn cười thật.

Lát sau có tiếng chuông vang lên và cánh cửa trường học mở toang, một bầy học sinh chạy ào ra như ong vỡ tổ. Một số đứa chạy tới chỗ mẹ của chúng và đi cùng với họ, số khác thì tụ tập lại thành từng nhóm hai hay ba người rồi cùng ra về, một vài đứa đi về một mình theo những hướng khác nhau. Chính những đứa trẻ đi một mình này thu hút sự chú ý của các nữ tu. Họ chăm chú quan sát chúng, nheo mắt lại để nhìn cho thật rõ, khiến các vết nhăn hằn sâu thêm trên khuôn mặt. Trông họ giống như những con kền kền hay chó rừng đang theo dõi con mồi. Theo hướng nhìn của họ, tôi nhận ra rằng họ chỉ để ý đến những đứa bé có mái tóc vàng. Có không ít những đứa như vậy, điều đó khiến tôi ngạc nhiên. Sao lại thế được nhỉ? Không phải là chỉ có người Đức và người Na Uy mới có tóc vàng hay sao?

"Thằng nhóc này được đấy!" Cô Lotte lên tiếng.

"Không, nó có đôi mắt giống mắt người Slav."

"Thế còn thằng nhóc kia thì sao?"

"Trán nó không đủ cao!... Kia kìa, cái đứa đi về hướng bên phải đó!"

Cô Lotte lập tức xuống xe và đi theo đứa bé mà đồng sự của mình chỉ định, trong khi bà này vẫn ngồi im tại chỗ. Bà ta nắm chặt lấy tay tôi ngầm ra lệnh cho tôi cũng ngồi im như vậy. Tôi tuân lệnh như thường lệ. Tôi sinh ra là để phục tùng mệnh lệnh, nhưng chân tay tôi bồn chồn không yên. Kiên nhẫn, kiên nhẫn! Linh cảm cho thấy rằng sẽ sớm tới lượt tôi hành động.

Lotte tiến tới gần đứa bé. Cô ta vỗ lên vai của cậu ta để cậu ta quay dẫu lại, rồi cô ta lùa tay vào mái tóc của cậu ta giống như một cử chỉ thân mật, nhưng đó chỉ là động tác giả. Người ta không làm thế với tôi, tôi đoán rằng cô ta làm thế bởi muốn kiểm tra xem đầu của cậu bé Ba Lan kia có dài không. Nhìn từ xa, qua cử chỉ của môi và động tác của tay, tôi thấy rằng cô ta đang nói với cậu bé đó, đặt ra những câu hỏi với cậu. Cô ta cố gắng bắt chuyện nhưng rõ ràng điều đó là vô ích. Cậu ta đứng chôn chân trên vỉa hè, không nói không rằng. Cô ta cho cậu bé xem cái túi lớn đầy ắp bánh kẹo của mình và bảo cậu ta chọn một vài thứ trong đó nhưng cũng chẳng ăn thua. Cậu bé có vẻ vừa sợ vừa thèm thuồng. Cậu ấy sợ cô ta - điều này tôi không lấy làm lạ, trong trang phục đó, cô ta nhìn giống như một con bù nhìn, nụ cười giả tạo bất động trên môi làm khuôn mặt cô ta nhăn nhúm. Nhưng những thứ đựng trong túi hấp dẫn cậu ta. Nào kẹo, nào bánh bích quy, nào bánh mì, cậu ta nhìn chúng chằm chằm bằng đôi mắt - màu xanh, một sự ngạc nhiên nữa đối với tôi - đang mở to tưởng như sắp lồi ra khỏi hốc mắt. Tôi tự hỏi rằng liệu cái gì sẽ thắng: Nỗi sợ hay cái đói?

Nỗi sợ đã mạnh hơn. Cậu ta bắt đầu lảng ra, chân bước đi giống như một con cua đang bò ngang, trong khi mắt vẫn không rời đống bánh kẹo. Chỉ vài giây nữa thôi là cậu ta sẽ vắt chân lên cổ bỏ chạy.

Đây chính là lúc tôi vào cuộc.

"Hãy nhớ những gì cháu đã học! Làm đi!" Người đàn bà vẫn ngồi cùng tôi trong xe nói.

Tối lập tức xuống xe và chạy tới chỗ cậu bé Ba Lan, vừa đi vừa nhảy với vẻ hết sức thoải mái. Tôi cất tiếng chào cô Lotte như thể cũng chỉ vừa mới gặp cô ta, và sau khi xin phép (bằng tiếng Ba Lan), tôi thọc tay vào túi của cái tạp dề rồi lôi ra một thanh sô-cô-la và cắn miếng rõ to. Sau đó, tôi quay sang cậu bé Ba Lan lúc này đang nhìn tôi bằng ánh mắt thèm thuồng, đưa thanh sô-cô-la cho cậu ta kèm theo một nụ cười rất tươi. (Đáng nói nhất là nụ cười của tôi không hề giả tạo. Nó làm tôi nhìn càng thêm đẹp trai là đằng khác.)

Cậu bé Ba Lan chộp lấy thanh sô-cô-la rồi ăn ngấu ăn nghiến. Sau đó cậu ta chén thêm bánh bích quy và kẹo. Từ giờ phút này trở đi thì mọi việc dễ như trở bàn tay, tôi chỉ còn mỗi việc nhắc lại những câu tiếng Ba Lan: "Xin chào, bạn tên là gì? Nhà bạn ở đâu? Bạn mấy tuổi? Vân vân và vân vân." Cậu ta trả lời tôi không chút ngại ngùng trong khi mồm vẫn nhai nhồm nhoàm. Cậu ta kể với tôi là cậu ta năm tuổi, sống một mình với mẹ, cha cậu ta đã chết, cậu ta có hai anh trai tám và sáu tuổi, sau cùng cậu ta cho tôi địa chỉ. Cô Lotte ghi chép tỉ mỉ tất cả những thông tin này vào một tấm phiếu, rồi cô ta xoa đầu chúng tôi lần nữa và chào tạm biệt chúng tôi. Tôi nhoẻn cười để làm ra vẻ thích thú - một hành động giả vờ, tôi không thích người ta sờ vào người, tôi ghét nhất hành động này, cứ như vuốt ve một con chó. Tôi đi cùng một đoạn đường với cậu ta, kẻ mà một khi đã mở mồm thì không thể khép lại được. Một đứa bé thực sự lắm mồm. Tôi chẳng hiểu cậu ta lải nhải những gì, vốn tiếng Ba Lan của tôi bị giới hạn ở những câu mà tôi đã học thuộc lòng, dù vậy tôi vẫn gật lia lịa ra vẻ hiểu hết. Một lát sau tôi viện cớ nhà mình ở hướng ngược lại với hướng đi của cậu ta để kín đáo chuồn về chỗ chiếc xe nơi các nữ tu đang đợi.

"Do widzenia!" "Tạm biệt!"

Giá như tôi được ở lại với cậu ta thì hay biết mấy, cậu ta thân thiện hơn các nữ tu. Tiếc thay nhiệm vụ đang vẫy gọi tôi.

Phần còn lại của buổi sáng diễn ra tương tự như vậy: tìm kiếm một hay nhiều đứa trẻ tóc vàng mắt xanh ở gần một trường học, làm quen, trò chuyện, vân vân. Buổi chiều chúng tôi chạy lòng vòng quanh các vườn trẻ, các công viên trong thành phố - đúng ra là những gì còn sót lại sau các trận ném bom. Và cứ như thế cho tới khi màn đêm buông xuống.

Khỏi cần nói là lúc về tôi mệt mỏi thế nào. Tôi thậm chí chẳng buồn chơi với cái búa của thần Thor hay trò xạ thủ bắn tỉa ở các tầng trên của ngôi nhà. Tôi ăn qua loa chút đỉnh, bụng vẫn căng phồng vì ăn nhiều sô-cô-la và kẹo.

Ngày hôm sau lại đi một vòng như vậy.

Rồi những hôm sau nữa. Và cứ như thế trong nhiều tuần liên tục.

Dĩ nhiên là trong thời gian đó, tôi đã tìm hiểu nhiều thứ, bằng cách nghe lỏm từ phía sau cánh cửa văn phòng của ngài Ebner, nơi ông ta tổ chức các cuộc họp để bàn bạc công việc vào buổi tối. Giờ thì tôi đã biết vai trò của tôi là gì, và nhất là tôi biết được số phận của những đứa bé mà người ta dụ dỗ với tôi làm trung gian.

Ra là thế này: cuối ngày các nữ tu tập họp các tấm thẻ với danh sách các địa chỉ và đưa chúng cho một đơn vị đặc biệt gồm toàn lính SS, họ sẽ đảm nhận việc đi tìm bắt các đứa trẻ. Không chỉ những đứa mà tôi nói chuyện với chúng ngày hôm đó mà cả anh chị em của chúng nếu bọn chúng dưới sáu tuổi và đáp ứng các tiêu chuẩn quan trọng: tóc vàng, mắt xanh. Tôi tin chắc là họ dùng vũ lực để bắt chúng.

Ra thế, đó chính là cái "chiến dịch" gì đó mà tôi là một trong những diễn viên chính: đánh cắp những đứa trẻ Ba Lan ưu tú nhất để biến chúng thành những đứa bé Đức cũng hoàn hảo như những đứa bé, giống như tôi, được sinh ra từ chương trình Lebensborn.

Đó là ý tưởng của Thống chế Himmler: "Bằng mọi cách, chúng ta phải biến những đứa trẻ ngoại quốc thuộc chủng người phù hợp thành người Đức," ông ta tuyên bố, "kể cả khi chúng ta phải đánh cắp chúng. Chúng ta phải tiếp nhận những tinh hoa từ lứa hậu duệ của kẻ thù."

Đó là một chiến dịch có quy mô lớn. Đội quân thanh thiếu niên Đức sẽ được nhân lên gấp đôi, gấp ba, gấp bốn lần, sẽ vô địch về quân số. Các bà mẹ trong các nhà hộ sinh không đủ nữa. Cả các cô gái Na Uy và Đan Mạch mới được bổ sung cũng không đáp ứng kịp, trừ phi mỗi người trong số họ phải sinh từ hai mươi tới bốn mươi đứa con, một điều bất khả thi. Bởi vậy nếu dùng luôn những đứa trẻ đã có sẵn thì mọi viễn cảnh sẽ không có giới hạn. Quả là một ý tưởng thiên tài. Giống như sự truyền máu vậy. Chúng ta truyền cho nước Đức dòng máu tươi mới và làm suy yếu kẻ thù.

Viễn cảnh có đông đảo bạn bè cùng lứa làm tôi phấn chấn và càng hăng say với nhiệm vụ của mình. Bác sĩ Ebner rất hài lòng về công việc của tôi và không ngớt lời khen ngợi, làm cho tư cách biểu tượng may mắn của tôi càng được củng cố thêm. Nhờ có tôi mà "Chiến dịch những người bạn" - tôi bịa ra mật danh theo ý mình - vốn đang dậm chân tại chỗ đã có nhiều biến chuyển tích cực. Người ta từng điều chỉnh lại hoạt động của chiến dịch này một lần. Ban đầu chỉ có những người lính SS tham gia, họ bắt những đứa trẻ bất cứ chỗ nào, giật chúng khỏi tay của các bà mẹ, điều đó rốt cuộc đã gây ra nỗi kinh hoàng tột độ. Vì thế người ta tăng cường thêm các "nữ tu áo nâu" để dỗ dành bọn trẻ. Tình hình có khá hơn một chút, nhưng dần dần thì cũng vẫn thế, người ta hiểu ra rằng các "nữ tu áo nẫu" là những con chim báo điềm gở. Hễ một đứa bé thoáng thấy bóng họ là sẽ co giò bỏ chạy ngay.

Trong khi đó thì tôi, với dáng vẻ thiên thần của mình, không những không làm bọn chúng bỏ chạy mà còn cuốn hút chúng lại gần. Tất cả bọn chúng đều muốn làm bạn với tôi.

Nhiều tháng trôi qua như vậy. Đáng tiếc thay là bắt đầu có những lời xì xào bàn tán. Người ta bắt đầu gán ghép tôi với các "nữ tu áo nâu". Điều này làm tôi rất bực mình. (Họ không chỉ xấu mà còn là những con đĩ thực thụ!) Nhất là, có thể tôi sẽ không còn làm việc được hiệu quả như cũ nữa.

Nhưng bác sĩ Ebner, người bảo hộ của tôi, không bao giờ thiếu ý tưởng.

Vậy tạm biệt các "nữ tu áo nâu", từ giờ trở đi tôi sẽ làm việc với Bibiana.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 6 năm 2026