Xe tang là một chiếc xe kéo tay. Vải liệm là cái áo mưa cũ mà bà Oberham lấy trong va-li của mình. Nghĩa địa là mảnh đất trong khu vườn của một ngôi nhà hoang.
Chúng tôi chôn cất Lukas như thế. Giống như hồi trước những chủ nhân của ngôi nhà này có thể đã chôn con chó của họ theo yêu cầu của lũ trẻ.
Đây là điều được phép và rất phổ biến. Trong một thành phố tan hoang, nếu những người sống bỏ nhà ra đi thì những xác chết cũng vậy. Chúng không đi về nghĩa địa mà hướng về những công viên công cộng hay những khu vườn tư gia. Đó là khi chúng chưa thối rữa dưới những đống đổ nát.
Được trang bị bằng những chiếc xẻng nhặt được trên phố, chúng tôi đã đào một cái huyệt - những chiếc xẻng này được mài sắc như dao, thường được những gã Ivan dùng làm vũ khí khi cận chiến. Huyệt đào không sâu lắm, đất đào lên có màu đen xỉn, trái với đất trên bề mặt khu vườn được phủ một lớp bụi màu trắng. Nhìn cứ ngỡ là tuyết, tưởng như bây giờ đang là tháng Mười Hai chứ không phải tháng Năm. Những thân cây cũng được phủ lớp bụi trắng lỗ chỗ vết đạn, tựa như chúng bị thương nặng sau các cuộc giao tranh. Bị thương nhưng vẫn đứng thẳng. Vậy mà Lukas, chỉ với một viên đạn, đúng một viên, đã ngã xuống.
Trong lúc này, tôi thấy giận dữ hơn là đau buồn. Tại sao Lukas lại chết? Chết ngay lập tức! Tại sao anh ấy không chỉ bị thương thôi? Tại sao anh ấy không đứng như những cái cây mà lại nằm dài bất động dưới đất?
Anh ấy đã không giữ lời hứa. Chúng tôi phải cùng nhau đi tới Canada hay Úc sau khi chiến tranh kết thúc cơ mà. Anh ấy đã quả quyết với tôi như thế vào buổi sáng chúng tôi cùng nhau hút thuốc trong sân của toà nhà. Thế mà anh ấy đã ra đi một mình.
Anh ấy đã bỏ rơi tôi.
Nhóm nhỏ những người chúng tôi đứng quanh cái huyệt trống hoác. Ngài Hauptman, các bà Betstein, Diesdorf và Evingen, Manfred, Ute và tôi. Giờ là lúc phải đặt Lukas xuống huyệt. Ngài Hauptman ra hiệu bắt đầu, ông ấy túm lấy vai của cái xác, còn bà Oberham thì túm lấy đôi chân.
Tôi đứng im không nhúc nhích. Trái với Manfred và Ute đang vội vàng chạy tới giúp họ, tôi không tham gia. Tôi đã đào huyệt. Tôi đào hùng hục, vừa đào vừa tưởng tượng rằng mỗi nhát xẻng sắc bén cắm xuống đất là một nhát dao cắm ngập vào bụng kẻ đã giết Lukas. Tôi đào hùng hục bởi hoạt động thể lực làm tôi thấy dễ chịu. Giống hồi còn ở Napola, các hoạt động thể lực đã giúp tôi tạm thời xua đi nỗi buồn phiền.
Tôi không muốn đụng vào xác Lukas. Cái xác được quấn lại vội vàng, chằng dây như một xác ướp bằng cái thắt lưng của áo mưa, cái xác đã bắt đầu cứng lại, đó không phải là Lukas nữa. Một vũng máu thấm qua chiếc áo mưa, máu chảy ra từ vết đạn. Cái vũng tròn sẫm, màu nâu đậm, tạo cảm giác như ngực bị thủng một lỗ. Nó làm tôi nhớ tới cái bia mà chúng tôi dùng để tập phi dao ở Napola, hình một gã Do Thái được giáo viên làm từ bìa các-tông, và cuối buổi tập, nó có một lỗ thủng trống hoác ở đúng vị trí quả tim.
Tôi không nhìn vào cái xác đang nằm dưới huyệt. Tôi muốn giữ hình ảnh một Lukas cao lớn, kiêu hãnh, đẹp trai. Ngay cả khi chính điều đó đã làm hại anh ấy.
Bà Oberham đọc một bài điếu văn ngắn gọn. Người quá cố đã thể hiện sự dũng cảm phi thường. Anh ta đã hi sinh tính mạng để bảo vệ Ute... Tiếp theo, ngài Hauptman cầu nguyện. Nó cũng ngắn gọn. Một đoạn kinh cầu nguyện Công giáo. (Theo thoả thuận chung, Ute, Manfred và tôi, chúng tôi đã thống nhất không tiết lộ rằng Lukas là người Do Thái. Quá phức tạp để có thể giải thích rõ ràng. Ai mà biết được những người "hàng xóm trong hầm" của chúng tôi sẽ có phản ứng thế nào? Liệu họ có còn sẵn lòng giúp một tay cho việc chôn cất hay không nếu như họ biết rằng Lukas là người Do Thái? Chưa chắc.)
Lukas bị giết với tư cách là người Đức, anh ấy đã được chôn cất cũng với tư cách đó. Rõ ràng là số phận không buông tha anh ấy. Chắc anh ấy sẽ thích lời cầu nguyện bằng tiếng Hebrew hơn, nhưng suy cho cùng thì việc đó có gì quan trọng? Bây giờ thì chẳng có gì là quan trọng nữa. Liệu những con giun ăn xác anh ấy sẽ nhận ra sự khác biệt hay sao? Phải chăng chúng là những con giun Quốc Xã được lệnh chỉ ăn các xác chết Aryan chứ không được ăn các xác chết Do Thái? Dù sao đi nữa thì lũ giun Quốc Xã cũng đi đời rồi.
Bầu không khí im lặng sau lời cầu nguyện thình lình bị xé tan bởi một loạt tiếng nổ. Chúng tôi chết lặng trong giây lát vì sợ hãi, ngơ ngác không hiểu gì hết. Lại có bắn nhau chăng? Chiến tranh vẫn chưa kết thúc sao? Tới khi ngẩng đầu lên nhìn thì chúng tôi nhận ra đó là những quả pháo sáng nhiều màu sắc mà những người Nga vừa bắn lên tròi để ăn mừng chiến thắng. Nó làm cho đám ma chợt có không khí như lễ hội. Và cũng là một sự khích lệ. Phải làm cho xong việc. Chúng tôi lại cầm xẻng lên, đắp đất phủ kín xác của Lukas rồi rời khỏi khu vườn.
Lễ hội sẽ tiếp tục diễn ra ở nơi khác với một bữa ăn, một bữa ăn thực sự, như thông lệ khi có đám ma trong thời bình. Bởi vì bà Oberham là người đầu tiên nghe được một tin đồn đang lan ra ngoài phố: Những người Nga sẽ tới các ngôi nhà để phát thực phẩm, những tảng thịt mà họ nói là muốn chia sẻ với dân chúng. Họ còn đề nghị chạm cốc vì hoà bình.
Cũng giống như toàn thể dân chúng Berlin, nhóm chúng tôi không cưỡng lại được tiếng gọi của cái dạ dày trống rỗng. Chúng tôi cũng tới đó. Chúng tôi đi lại khép nép bởi vẫn sợ những gã Ivan ăn mừng quá chén sẽ gây sự, nhưng chúng tôi đáp lại lời mời của họ.
Tôi cũng vậy. Tôi đói. Vậy là tôi sắp ăn cùng với những kẻ đã giết Lukas.
Hoà bình là như thế đó.
Trong những ngày sau đó, chúng tôi lấy tin tức qua những tờ báo Nga hay từ chính những người Nga: Các tướng lĩnh đã bị bắt giữ hàng loạt. Mussolini cũng đã bại trận và bị giết bởi những người Ý. Người Nga đã gặp người Mĩ bên bờ sông Elbe và kết thân với họ.
Những chiếc xe gắn động cơ chạy nườm nượp trên phố. Không còn thấy những chiếc xe kéo tay, những con ngựa hay phân ngựa trên mặt đất nữa. Những gã Ivan đã rời đi. Trước đó họ đã nhồi đầy các xe tải của mình với những chiếc gối và chăn bông lấy từ các căn hộ để ngồi cho dễ chịu. Họ sẽ nhường chỗ cho những người đồng hương, những người bên Uỷ ban quân chính.
Những tờ in rô-nê-ô62 được dán khắp nơi trên cửa các toà nhà hay trên các bức tường. "Thông báo cho dân Đức". Tiếp đó là văn bản đầu hàng của chúng tôi.
Phố xá tràn ngập những người lính, đâu đâu cũng thấy họ đang ngồi hay nằm xoài ra trên vỉa hè, vẻ bơ phờ sau nhiều ngày đi bộ. Chúng tôi cũng gặp những người lính khác, những người được các bà các cô che giấu trong những hầm trú ẩn. Bây giờ họ đã chui lên. Ít ra là những người mà các gã Ivan không tìm ra. Họ như những con chuột đánh hơi thấy mùi thức ăn. Cảm giác nhìn thấy Berlin lại có những người đàn ông thật là lạ lùng. Một vài người trong số họ chạy, tất bật. Họ muốn tỏ ra hoạt bát, họ leo lên các căn hộ để tìm kiếm vũ khí. Giờ thì vũ khí còn có ích gì nữa? Quá muộn rồi. Dù sao thì họ cũng chẳng tìm thấy gì ngoài những khẩu súng trường cũ kĩ không còn sử dụng được nữa.
Người dân Berlin dần dần trở về nhà của mình. Những người đàn bà bắt tay vào dọn dẹp và nấu nướng. Khoản nấu nướng thì vẫn còn hạn chế: Người Nga sẽ dành cho dân chúng những khẩu phần lương thực khá hơn, nhưng chúng vẫn chưa được phân phát. Trong khi chờ đợi thì những người đàn bà làm công việc may vá. Họ may những lá cờ bằng các mảnh vải nhặt nhạnh từ khắp nơi. Những lá cờ Quốc Xã sau khi bỏ cái mô-típ đen trắng của hình thập ngoặc sẽ trở thành cờ Nga.63 Đó là những lá cờ dễ làm nhất, chí ít là về màu sắc. Nhưng cũng phải may cả cờ Mỹ, cờ Anh và cờ Pháp. Trong sân của các toà nhà, tiếng máy khâu chạy rộn ràng thay cho tiếng súng.
Tuy còn chưa rõ ràng nhưng tin tức từ đài thu thanh nói rằng từ nay biên giới của nước Nga kéo dài tới tận Holstein, người Anh sẽ nhận vùng Rhin và Rhénanie, người Mỹ lấy vùng Bavière. Người Pháp cũng có phần bánh ga-tô của họ nhưng chưa rõ là vùng nào. Người ta nói rằng hàng nghìn quân Đồng minh đã hạ cánh xuống sân bay. Những lá cờ nhỏ do những người đàn bà làm ra sẽ tung bay bên các cửa sổ vì họ.
Giống như nước Đức, Berlin sẽ bị chia ra làm bốn vùng. Theo lời đồn đại, những khu phía Nam sẽ là của người Mỹ còn những khu phía Tây là của người Anh.
Tôi chẳng hiểu gì về vụ chia chác này cả. Nó sẽ được tiến hành thế nào nhỉ? Những cư dân ở vùng biên sẽ ra sao? Người ta sẽ chặt họ ra thành từng mảnh? Đầu ở phía Bắc còn chân ở phía Nam chăng?
Tôi không biết đi đâu về đâu. Không có Lukas, tôi hoàn toàn lạc lõng. Chính anh ấy là người đưa ra các quyết định từ khi chúng tôi rời Napola. Anh ấy đặt ra các mệnh lệnh. Điều đó từng làm tôi khó chịu, nhưng giờ đây tôi lại nhớ nó da diết. Tôi toàn làm theo các mệnh lệnh từ thuở lọt lòng, vậy mà giờ đây chẳng còn ai ra lệnh cho tôi.
Bắc? Nam? Đông? Tây? Làm sao để chọn bây giờ? Tung đồng xu lên xem sấp ngửa? Lukas thì chẳng đi theo hướng nào trong những hướng đó cả. Anh ấy đi xuống, dưới lòng đất.
Và rồi tôi chợt nhớ đến buổi sáng khi chúng tôi cùng hút thuốc trong sân, anh ấy đã nói với tôi rằng "Phải tìm người Mĩ." Nghe nói người Mĩ ở phía Nam.
Vậy thì Nam tiến nào.
Tôi đi.
Đi mải miết.
Tôi ra đi mà không nói lời tạm biệt với Manfred và Ute. Người thì sống với bà Betstein, người thì sống với bà Oberham trong khi chờ đợi tin tức của cha mẹ họ. Tôi không muốn ở lại.
Điều duy nhất mà tôi muốn làm mỗi khi dừng bước là lăn ra ngủ.
Đó là vì nỗi buồn. Nỗi buồn làm con người ta hao mòn, còn hơn cả thời gian biểu nặng nề mà tôi từng phải theo ở Kalish. Còn hơn cả những môn thể thao hay huấn luyện quân sự ở Napola. Còn hơn cả việc chạy ngược chạy xuôi cùng với Lukas đi tìm thức ăn trong những tháng vừa qua.
Tôi cứ đi, còn sức còn bước. Thỉnh thoảng người ta cho tôi đi nhờ trên một chiếc xe Jeep hoặc tôi nhảy tàu, một trong những chuyến tàu chật ních, vì có hàng trăm người chen chân trên đó nên người ta gọi chúng là "tàu tốc-hành-chuột-đất". Rồi tôi ngủ, ngủ bất cứ chỗ nào. Ngoài trời, trong một toa tàu chỉ còn trơ khung hay một chiếc xe cháy đen. Hoặc trong một ngôi nhà bỏ hoang do tôi ngẫu nhiên lựa chọn.
Tôi không biết tôi đã đi bộ trong bao lầu. Nhiều ngày. Nhiều tuần. Nhiều tháng. Thời gian đã bị xoá bỏ.
Một buổi tối, tôi bước vào một ngôi nhà, tôi nhận ra trong nhà có người. Gia đình chủ nhân của ngôi nhà vẫn còn ở đây, có điều là họ đã chết. Họ tự tử bằng cách uống thuốc độc. (Có rất nhiều vụ tự tử tập thể bằng thuốc độc hoặc treo cổ ỏ Berlin và vùng lân cận.)
Ông bố và bà mẹ ăn mặc rất chỉnh tề. Ông bố mặc bộ quân phục đại tá, đeo thắt lưng và cài cúc đầy đủ. Bà mẹ mặc một cái váy lụa rất đẹp và đi đôi giày đen xinh xắn đánh véc-ni bóng loáng. Họ nằm dài trên chiếc giường trong căn phòng của họ và nắm tay nhau. Trong căn phòng của trẻ con, một cậu bé có lẽ trạc tuổi tôi nằm trên chiếc giường thứ nhất. Cậu ta cũng ăn mặc rất đẹp: quần soóc xanh nước biển, áo sơ-mi xanh ô-liu và đeo cà vạt. Trên chiếc giường thứ hai là một bé gái nhỏ tuổi hơn. Cô bé ôm một con thú bông trong tay. Trong lúc tiếp tục đi xem xét quanh nhà, tôi phát hiện ra còn căn phòng thứ ba với một cái giường trống. Có thể nó là của cậu anh trai lớn tuổi hơn đã chết ngoài mặt trận?... Tôi cũng thế, anh trai của tôi đã chết. Điều đó làm tôi có một điểm chung với cậu con trai và cô bé kia.
Giờ thì tôi là đứa trẻ mồ côi. Tôi cần có một gia đình nhận làm con nuôi. Gia đình này rất hợp với tôi. Không phải vì đấy là một gia đình Quốc Xã, mà bởi nó không còn có thể đặt ra cho tôi bất cứ quy định nào nữa. Đó chính là điều mà tôi cần.
Trên chiếc giường trống có khăn trải giường trắng muốt, một cái chăn ấm áp và sạch sẽ. Tôi sướng run lên, chui tọt vào chăn và ngủ một giấc say như chết.
Không có cơn ác mộng nào hết.
Tôi thậm chí không mơ tới Lukas. Hoàn toàn không. Tôi chìm vào cái lỗ. Một cái vực sâu hun hút, như thể tôi đang ở dưới đấy giống anh ấy. Cùng với anh ấy.
Khi tôi tỉnh dậy - tôi không biết đó là ngày hôm sau hay là hai hôm sau - tôi tự nhủ: "Nào dậy đi chứ! Phải tiếp tục đi, phải tìm tới chỗ người Mỹ!" Nhưng căn nhà mới yên tĩnh làm sao. Những đứa trẻ không thức dậy, cha mẹ chúng cũng vậy. Điều đó có nghĩa là được phép ngủ nướng. Thật tuyệt làm sao, một buổi ngủ nướng. Đã bao lâu rồi tôi chưa có một ngày như thế? Thế là tôi nhắm mắt ngủ tiếp.
Và tôi không mở mắt ra nữa.