Tôi chẳng hề nhận được lời cảm ơn nào từ Lukas khi hai chúng tôi được đưa tới bệnh xá. Mặc dù chính tôi là người đã nhận rất nhiều cú đánh giáng xuống người anh ta. Tôi bị nện một trận ra trò! Mụ giám thị lồng lộn. Trong cơn giận dữ điên cuồng cùng sự phấn khích khi đánh đập người khác, bà ta đã không nhận ra rằng cái đứa đang bị ăn đòn chính là QTĐT. Rằng làn da - trắng toát, hoàn hảo, mẫu da đặc trưng của chủng người thượng đẳng - mà bà ta làm cho rách tươm không thương tiếc là làn da mà hồi xưa chính tay Quốc trưởng đã từng vuốt ve. Ngay cả bác sĩ Ebner cũng khó khăn lắm mới nhận ra tôi. (Vì tôi đã kín đáo chuồn sang phòng bên cạnh ngắm lũ con gái nên ông ta tưởng rằng tôi về ngủ từ lâu rồi.)
Trút đòn lên người QTĐT.
Đó là một tội ác!
QTĐT đã rất đau đớn. QTĐT đã ngất đi. QTĐT nghĩ rằng mình sẽ chết.
Lukas không hề mở mồm khi ở trong bệnh xá sau khi anh ta và tôi tỉnh lại, nằm sấp trên giường, không thể nhúc nhích mà không có cảm giác như lưng sắp vỡ tan ra thành hàng nghìn mảnh. Chúng tôi chẳng nói được gì ngoài những câu than thở không ngớt, những tiếng rên rỉ thảm hại. Chẳng khác gì hai lão già nằm liệt giường.
Cả khi chúng tôi rời bệnh xá, tình hình cũng không khá hơn. Lukas quay về với nhóm những đứa lớn tuổi hơn, tôi quay lại với lũ bạn của mình. Ít ra thì lũ bạn cũng đón tiếp tôi như người hùng.
"Hoan hô, Konrad! Cậu thật dũng cảm! Bé Konrad mạnh mẽ làm sao! Rõ ràng là rất, rất khoẻ để không bị chết dưới làn roi của đồ giám thị chó chết!"
Phải lúc khác thì những lời đó của chúng hẳn làm tôi sướng phổng mũi. Nhưng giờ thì không. Tôi không cần sự khen ngợi của chúng. Cái tôi cần là sự thừa nhận của Lukas cơ. Anh ta không cần nói lời cảm ơn, cái đó có thể cho qua. (Người Ba Lan quả đúng là lũ lợn vì đã dạy dỗ bọn trẻ con tồi tệ đến vậy!) Nhưng ít ra anh ta cũng nên trò chuyện với tôi. Anh ta nên nói gì đó với tôi, bất cứ điều gì. Thậm chí là "Gơvono" ("Mẹ kiếp!"). Tôi đã thử bắt chuyện với anh ta trong những ngày tiếp theo nhưng vô ích, thậm chí anh ta còn làm như chẳng nhìn thấy tôi. Ánh mắt của anh ta lướt qua tôi như thể tôi chỉ là một thứ gì đó đặt trên đường anh ta đi, một hòn sỏi, một cục đá, một chướng ngại vật cần tránh. Anh ta cũng xử sự như vậy với tất cả mọi người. Điều này ít ra làm tôi thấy yên tâm, được an ủi rằng dù sao anh ta cũng không có tư thù gì với cá nhân tôi cả. Không một ai cùng phòng hay cùng lớp có thể làm quen với anh ta. Cứ như là mồm anh ta đã bị niêm phong lại.
Tuy thế cũng có những lúc anh ta mở nó ra, cái mồm ấy. Nói nhiều hẳn hoi!
Ví như một buổi sáng nọ trong giờ học lịch sử, anh ta nhìn thẳng vào mắt cô giáo và tuyên bố rằng quyết định tham chiến của người Mĩ sẽ làm thay đổi cục diện chiến tranh và khi đã liên minh với người châu Âu, họ sẽ bắt nước Đức phải quy hàng. Anh ta khẳng định nước Đức sẽ không bao giờ chiếm được nước Nga. (Cô giáo suýt lăn đùng ra vì đứt mạch máu não, ứ họng không trả lời được anh ta.) Thay vì đọc những từ vựng tiếng Đức thì anh ta dịch chúng sang tiếng Ba Lan. Anh ta bướng bỉnh xưng tên cũ của mình, Lucjan. Anh ta không chịu diễu binh kiểu chân ngỗng. Tóm lại là anh ta vi phạm một cách có hệ thống, một cách cố ý những điều cấm kị nhất bất cứ khi nào có dịp.
Anh ta bị bắt làm các công việc nặng nhọc, phải chịu sự trừng phạt, bị đánh đập. Anh ta hầu như không tới lớp vào buổi sáng nữa, những khi không oằn mình dưới sức nặng của các thùng các-tông đựng đồ tiếp tế mà anh ta phải bốc dỡ một mình với một họng súng lúc nào cũng chĩa vào người thì anh ta làm công việc giội rửa nhà vệ sinh và các thùng rác. Anh ta bị xích vào cái cột trong sân thường xuyên đến nỗi người ta tưởng rằng từ nay trở đi nó sẽ thành của riêng anh ta. Tương tự với nhà thờ, đó là nơi anh ta qua đêm còn thường xuyên hơn ở trong phòng.
Thoạt đầu tôi thấy anh ta là người dũng cảm khiến tôi rất nể phục. Có thể nói là anh ta có sự liều lĩnh và táo bạo rất đáng biểu dương. Nhưng dần dà thì nó không phải dũng cảm nữa mà là sự điên rồ. Cứ như vậy anh ta làm phiền đến cả tôi. Buổi tối, khi tôi đã nằm dài trên giường còn anh ta suốt từ sáng vẫn đang bị trói vào cái cột, lạnh cóng, đói lả, bị bỏ rơi như một con chó mà trời thì đã khuya rồi, tôi thường tự nhủ: "Quên hắn đi! Kệ cho hắn chết! Hãy xuống nhà ăn lấy suất ăn thêm, hãy ăn ngấu nghiến để quên thời gian, rồi đi ngủ! Vào sáng sớm mai thì xác của hắn cũng đã biến mất rồi..." Nhưng tôi không thể làm khác, tôi ngồi dậy, rời khỏi phòng ngủ đi cởi trói cho anh ta. Tôi giúp anh ta đi qua sân, bước lên bậc thang rồi về phòng ngủ. Tôi đem đồ ăn cho anh ta - khẩu phần ăn thêm của tôi. Tôi đỡ anh ta như ôm một đứa bé và ở lại bên anh ta cho tới khi anh ta mệt quá ngủ thiếp đi.
Vậy mà anh ta vẫn không chịu nói gì với tôi.
Tôi không thể làm khác đi bởi tôi biết rằng nếu để anh ta chết, tôi vẫn sẽ bị cái bệnh đau-bụng-do-rối-loạn-tâm-lí chó chết này hành hạ. Đó sẽ là một cơn đau bụng khủng khiếp, và lần này thì tôi sẽ không khỏi được nữa, nó sẽ quật ngã tôi.
Vài hôm sau, Lukas lấy lại sức và anh ta lại tiếp diễn những trò đó. Thế là tôi lại phải làm cái công việc vất vả kia. Sáng sớm tôi ba chân bốn cẳng chạy tới nhà thờ sau khi người giám thị đã bắt anh ta không được nhúc nhích suốt buổi đêm, nện cho anh ta một trận rồi bỏ mặc anh ta mê man trên nền nhà lạnh cóng.
Lúc này anh ta không còn cái vẻ bất cần đời thường thấy nữa. Đầu hâm hấp sốt, run rẩy vì lạnh, rên rỉ vì đau đớn, anh ta quá yếu để có thể vùng ra khỏi tay tôi. Vậy là tôi tranh thủ cho anh ta uống một bát súp nóng, từ từ, từng ngụm nhỏ một, hoặc tôi móm cho anh ta những mẩu bánh mì mà tôi đã nhai cho chúng mềm ra. Vai vế bây giờ bị đảo lộn. Tôi là người anh lớn, còn anh ta là đứa em bé bỏng yếu ớt, và đang khóc lóc. Dĩ nhiên là anh ấy khóc rồi, các bạn nghĩ gì vậy? Con người ta không thể bị đánh chửi mãi mà không suy sụp, không khóc cạn nước mắt. Khi anh ta rên rỉ, vừa mũi dãi lòng thòng vừa khóc rưng rức, hay khi cơn sốt làm anh ta mê man và rốt cuộc cũng chịu nói với tôi vài câu rời rạc, phều phào, tôi liền động viên anh ta và bảo:
"Đừng lo! Có em đây! Sẽ ổn thôi! Sẽ ổn thôi! Chỉ cần làm những gì họ bảo và họ sẽ để anh yên thân!"
Tôi nói thêm rằng lúc đầu tôi cũng rất nhớ mẹ (bốc phét!), nhưng rồi tôi cam chịu số phận. Tôi kể cho anh ta nghe câu chuyện tránh bom trong căn hầm ở Warsaw, những ngày mà tôi đã trải qua trong vòng tay của người mẹ đã chết. Anh ta vừa lắng nghe vừa nhìn tôi không rời bằng đôi mắt màu xanh đầy thảng thốt, anh ta siết tay tôi rất mạnh. Tôi nghĩ rằng thế là mình đã thành công. Tôi tin chắc rằng vậy là xong, tình bạn, tình anh em của chúng tôi cuối cùng cũng được gắn kết lại... Nhưng vừa đỡ sốt là y như rằng anh ta trở lại với nụ cười ranh mãnh và giễu cợt. Tôi giận sôi lên, tôi rất muốn chộp lấy cái roi mà bà giám thị vứt lại trên mặt đất và quất vào mồm anh ta một cái để cho tịt cái nụ cười khốn kiếp đó đi.
"Họ sẽ giết anh! Anh biết thế đúng không?" Một hôm tôi gào lên với anh ta. "Họ sẽ giết anh! Họ đã từng giết người vì những lỗi nhẹ hơn nhiều."
Quả đúng như vậy. Điều đó có thể xảy ra với anh ta và cả với tôi.
Các bạn có lí khi cho rằng nếu tôi cởi trói cho anh ta khỏi cái cột, nếu tôi đến tìm anh ta ở nhà thờ, nếu tôi đem thức ăn cho anh ta trong khi anh ta đáng ra phải bị bỏ đói, thì không chỉ đơn thuần nhờ vào tư cách QTĐT của tôi. Đó là vì bác sĩ Ebner đã ra lệnh cho những người khác nhắm mắt làm ngơ đấy. Ông ta muốn biết khả năng chịu đựng của Lukas đến đâu. Như một bài kiểm tra, thử nghiệm về sự dẻo dai của một thiếu niên. Để phòng sau này những người lính trẻ tuổi nhất của chúng tôi đến lúc phải ra trận.
Sau sự cố trận đòn vào đêm diễn ra cuộc xét tuyển, Ebner đã gọi tôi lên gặp ông ta ngay khi tôi rời bệnh xá. Ông ta yêu cầu tôi giải thích lí do cho hành động của tôi, vì hậu quả của nó có thể sẽ rất nghiêm trọng. (Ông ta nhấn mạnh từ này.) Một học sinh gương mẫu của Kalish dám phản kháng. Thật mỉa mai làm sao!
Tôi thổ lộ hết với ông ta những điều làm tôi day dứt. Không đắn đo, không ngại ngùng. Kalish đã dạy tôi trở nên mạnh mẽ hơn, táo bạo hơn. Hay có khi đơn giản là vì tôi đã lớn rồi.
Tôi nói với Ebner rằng tôi không có người mẹ nào ngoài nước Đức, không có người cha nào ngoài Quốc trưởng - điệp khúc quen thuộc - ngoại trừ việc tôi đã thêm vào một đoạn mang tính cá nhân: tôi muốn có một người anh. Tôi có quyền có một người anh bằng xương bằng thịt. Và đó là Lukas.
Ebner trầm ngâm hồi lâu, ngón tay trỏ xoa xoa lên tĩnh mạch đang giật giật trên thái dương của ông ta.
"Đồng ý, Konrad, đồng ý!" Ông ta nói. "Tôi rất muốn cho cậu người anh đó. Cậu hoàn toàn có lí, Lukas là một bản mẫu tuyệt vời. Một hạt giống có chất lượng tuyệt hảo đã không được gieo đúng chỗ và chúng ta phải thu hồi lại. Thời gian của cậu ở Kalish sẽ chấm dứt sau ba tuần nữa. Sau đó cậu sẽ tới một nơi mà tôi sẽ cho cậu biết vào thời điểm thuận lợi. Lukas có thể đi cùng cậu với điều kiện là từ giờ tới lúc đó cậu phải biến cậu ta thành một người Đức thực thụ. Cậu có đúng ba tuần không hơn dù chỉ một ngày!"
Sau ba tuần thì tôi cũng đạt mục đích, tôi sắp thành công và thắng cuộc. Sau mười lần bị trói vào cột và năm đêm ngủ ở nhà thờ - một kỉ lục thực sự - Lukas có vẻ như đã biết điều hơn.
Anh ta vẫn không chịu nói chuyện với tôi hay bất kì ai khác, nhưng anh ta không còn gây ra phiền phức nào nữa. Anh ta không còn vi phạm nội quy. Thậm chí có một buổi sáng anh ta còn chấp nhận tham gia diễu binh kiểu chân ngỗng. Với vóc người ấn tượng và vẻ thanh tú trời phú, sự dũng mãnh toát lên từ dáng điệu của anh ta, dù vẫn còn xanh xao nhưng anh ta vẫn thu hút sự chú ý, kể cả Johanna Sander, bà ta còn khen anh ta mấy câu, một ngoại lệ vô cùng hiếm hoi.
Nhưng đó chỉ là kế nghi binh. Một màn kịch dối trá.
Ngay tối hôm đó, anh ta lừa tôi một cú cuối cùng.
Anh ta bỏ trốn.
Không ai biết bằng cách nào anh ta lọt qua được sự canh phòng cẩn mật của lính gác và những con chó, làm thế nào anh ta trèo qua được bức tường bao mà không bị mắc vào hàng rào kẽm gai. Có lẽ ngoài tôi ra chẳng ai tự đặt ra mấy câu hỏi đó cả. Vấn đề quan trọng nhất bây giờ là phải tìm cho ra anh ta, một cuộc săn người thực sự đã được tổ chức để bắt anh ta lại. Cuộc săn lùng diễn ra ba ngày ba đêm tại các vùng phụ cận nhưng vô ích. Lính tráng và chó săn trở về hoàn toàn trắng tay.
Đó là ba đêm trắng đối với tôi, ba đêm đầy ác mộng. Tôi mơ thấy lũ chó săn tìm thấy Lukas và xé xác anh ta thành từng mảnh. Chúng ăn xác anh ta như đang ngấu nghiến một súc thịt tầm thường. Tôi thấy mình chỉ còn là một bóng ma vật vờ. Một khi Lukas đã chết thì tôi không tồn tại nữa, tôi bị chặt hết tứ chi, chỉ là kẻ què cụt chẳng có chân tay, chỉ còn cái bụng đang quằn quại, một cơn-quặn-ruột-gây-đau-đớn-tột-cùng.
Đến ngày thứ tư, vào buổi sáng khi chúng tôi đang tập trung trong sân trường để điểm danh thì một vật màu sẫm rơi bịch từ trên cành cây xuống nền gạch. Cái gì thế nhỉ? Một con quạ? Một con mèo chết? Một quả bom sắp nổ và xé chúng tôi thành từng mảnh?... Không phải quạ cũng chẳng phải mèo chết, mà là một thứ giống bom, vâng. Chính là anh ta, Lukas. Sau khi lần mò quanh Kalish mà không tìm ra lối nào để lủi ra xa và tiến hành chạy trốn, anh ta leo lên nấp trên một cái cây, cho tới khi kiệt sức và ngủ thiếp đi vì đói và khát.
Bà hiệu trưởng Johanna Sander cũng có mặt trong buổi điểm danh sáng hôm đó, và số phận muốn Lukas rơi xuống ngay dưới chân bà ta. (Tôi tự hỏi liệu có phải anh ta cố ý làm thế không, phải chăng anh ta đã tính toán hạ gục hiệu trưởng bằng cách rơi đúng vào đầu mụ.) Bà ta giật mình lùi lại, định thần rồi nhìn cái vật đang nằm trên mặt đất với vẻ ghê tởm, như thể đang nhìn một quả cà chua to bị thối khi rơi xuống sẽ làm vấy bẩn bộ quân phục chỉnh tề của mình. Cái cục rác rưởi dưới đất kia nhìn chẳng giống cậu thiếu niên bà ta từng xuýt xoa mấy hôm trước về vẻ ngoài đầy ấn tượng khi duyệt binh kiểu chân ngỗng chút nào. Nó chỉ còn là một túi rác mà bà ta phải đem bỏ đi. Giờ thì những mệnh lệnh của Ebner đối với bà ta chẳng có ý nghĩa gì hết, bà ta là hiệu trưởng của Kalish, bà ta muốn chứng minh điều đó, và bà ta cũng chán ngấy cái đứa Ba Lan chó chết bẩn thỉu đã gây ra biết bao rắc rối ở trong trường.
Bà ta đưa tay rút khẩu Luger đeo ở thắt lưng ra.
"Không!"
Tiếng kêu bật ra từ cổ họng tôi, một tiếng kêu mạnh mẽ, âm vang phá vỡ sự im lặng. Chẳng giống chút nào với giọng nói yếu ớt dùng để chào bà Sander ngày tôi mới tới. Bản thân tôi cũng rất ngạc nhiên vì điều này. Sững sờ trước sự hỗn xược đó, bà Sander ngừng phắt lại, còn tôi thì bước về phía bà ta với những bước chân đầy quả quyết và tự tin. Những bước chân rất đều nhịp, đúng như điều bà ta muốn. Tôi rập chân đứng nghiêm và nói với bà ta:
"Cháu muốn tự tay giết nó!"
Cái nhìn của bà Sander dịu xuống, mới vài giây truớc, cái nhìn đó còn đầy giận dữ do bà ta nghe thấy tiếng kêu phản đối mà không biết tác giả là ai. Bà ta không chỉ nhận ra QTĐT, mà còn ý thức được rằng, qua lời khẩn cầu này, tôi đã quyết định tháo bỏ mặt nạ trước tất cả những đứa được gọi là "bạn bè" và bộc lộ khí chất của bản thân. Nó là đứa sắt đá nhất. Kiên cường hơn hết thảy.
Những đứa trẻ của Quốc trưởng không ngại chuyện giết chóc cho dù ở độ tuổi nào.
Bà ta không nhầm đâu. Tôi sẵn sàng làm tới cùng. Tôi sẵn sàng giết chết Lukas. Tôi phải làm việc này. Nếu phải chết, bởi đó là điều anh ta muốn, thì anh ta phải chết dưới tay tôi. Nếu tôi là người giết Lukas thì tôi sẽ không đau khổ nữa, tôi sẽ không bị ám ảnh, tôi không bị đau bụng. Đời tôi sẽ không bao giờ còn đau bụng nữa. Tôi sẽ tự chế cho mình một tấm áo giáp thực thụ bằng thép Krupp.
Đã tới lúc QTĐT cần trải qua một lễ rửa tội mới. Lễ rửa tội bằng máu.
Tôi cầm lấy khẩu Luger mà bà Sander tươi cười đưa cho mình. Tôi quay về phía Lukas và ngắm bắn. Đầu. Trán. Như với Wolfgang. Ngay chỗ hai lông mày chạm vào nhau đối với đám người đồng hương bẩn thỉu của anh ta - ở trường hợp của anh ta thì không, bởi vì, có giời mới biết tại sao, anh ta có tất cả các nét đặc trưng của một người thuần Bắc Âu chính cống. Chỉ một cái lỗ bé xíu thôi là tất cả sẽ chấm dứt, với anh ta cũng như với tôi. Tôi chưa bao giờ bắn bằng một khẩu súng thật, từ trước tới giờ tôi mới chỉ chơi trò thiện xạ bắn tỉa, nhưng tôi sẽ không bắn trượt đâu, tôi biết trước điều đó, mục tiêu rất gần. Việc đó dễ như trò chơi trẻ con.
Về phần Lukas, sau cơn choáng vì cú ngã, anh ta hé mắt ra nhìn tôi bằng đôi mắt xanh rất nhạt vẫn loé lên tia giễu cợt.
"Mày không dám đâu!" Đôi mắt đó nói với tôi.
Dĩ nhiên là tôi dám. Tôi cũng vậy, không thể chấp nhận vô thời hạn sự khinh miệt và chống đối mà Lukas bắt tôi phải chịu đựng từ khi anh ta tới. Đã đến lúc phải chấm dứt điều đó rồi.
Anh ta nhận ra sự quyết tâm của tôi, những ngón tay của tôi đã ở vị trí sẵn sàng và anh ta hiểu rằng tôi sẽ siết cò. Anh ta liền vùng dậy rất nhanh, lăn một vòng và túm lấy chân tôi để làm tôi mất thăng bằng. Viên đạn bay ra khỏi nòng súng ngay trước khi tôi ngã xuống đất. Nó bay vào không trung? Vào một đứa trẻ? Một người lính? Hay trúng ngay vào bà Sander?... Tôi không có thời gian để kiểm tra nữa. Hai chúng tôi lăn trên mặt đất và đánh nhau như những con chó. Các cú đạp chân, các cú lên gối, các cú đấm, các miếng cắn, tất cả các ngón đòn đều được sử dụng. Bình thường thì Lukas có lợi thế hơn tôi, nhưng anh ta đã kiệt sức vì đói, vì những hình phạt mà người ta bắt anh ta trải qua, vì ba ngày lẩn trốn. Tôi nghi là khi rơi từ trên cây xuống anh ta đã bị gãy cánh tay phải. Tôi nhận ra điều đó qua tiếng kêu đau đớn của anh ta mỗi khi cánh tay ấy chạm xuống đất. Vậy là tôi lợi dụng nó, cứ mỗi khi có cơ hội là tôi lại nhắm vào cánh tay bị gãy kia. Nếu xương của anh ta đã gãy thì tôi sẽ nghiền vụn chúng ra. Tôi có một điểm yếu là thấp hơn anh ta, tuy thế tôi tận dụng nó bằng cách cúi gập người xuống để tránh các cú đấm, để thúc đầu vào bụng đối thủ, tôi vùng dậy nhanh hơn và nhảy bổ lên người anh ta. Thời gian gần đây anh ta thiếu ăn đến mức trọng lượng của chúng tôi gần như ngang nhau. Khi tôi ngồi xổm trên người anh ta, tôi đè thật lực lên ngực để làm anh ta ngạt thở, tôi siết chân quanh bụng để kẹp anh ta trong một cái ê-tô. Tôi cào rách mặt anh ta bằng móng tay, tôi tìm cách móc mắt. Tôi túm chặt mái tóc vàng của anh ta, tôi có cảm giác là tôi có thể bứt nó ra như lột một miếng da đầu. Tôi say sưa đấm anh ta. Hiệu ứng tấm gương mà tôi cảm nhận được vào buổi tối hôm tôi nhìn thấy anh ta lần đầu tiên tăng lên gấp bội. Tôi đấm vỡ gương mặt thiên thần của anh ta. Tôi đang đấm vỡ gương mặt thiên thần của tôi. Đó là gương mặt mà các khâu của chương trình Lebensborn đã tốn rất nhiều công sức để tạo ra qua các cuộc xét tuyển, các phương pháp đo đạc, các tính toán, các tấm ảnh... về phần mình thì Lukas tìm cách đưa tay lên siết cổ tôi. Có lúc tưởng chừng như anh ta đã đạt được mục đích, các ngón tay của anh ta túm đúng chỗ, nhưng cánh tay gãy khiến anh ta không thể nào siết đủ mạnh để làm tôi ngạt thở. Và các bạn biết gì không? Cuối cùng tôi cũng đã cạy được mồm anh ta ra! Anh ta nói với tôi, lại còn bằng tiếng Đức hẳn hoi.
"Thằng nhãi ranh người Đức khốn kiếp!" Anh ta rít lên bên tai tôi. (Mặt tôi đang dí sát vào mặt anh ta, má tôi ép lên má anh ta, tôi đang tìm cách cắn anh ta.) "Mày đếch phải người Ba Lan. Mày là đứa con cưng của bọn phát xít chó chết này! Mày và đồng bọn của mày, chúng mày đã giết gia đình tao!"
"Đúng, dĩ nhiên tao là người Đức rồi!" Tôi trả lời. (Và tôi nhổ một bãi nước bọt lên mặt anh ta, đúng vào mắt để làm anh ta mù mắt, để làm bẩn đôi mắt không xứng đáng có màu xanh.) "Tao thuộc dòng dõi của chủng người cao quý! Tao là đứa trẻ được Quốc trưởng yêu quý nhất! Gia đình mày chết đi là đáng đời lắm! Hãy cảm ơn tao vì tao sẽ giúp mày đi gặp họ!"
Sau đó thì tôi không còn nghe được anh ta nói gì với tôi nữa. Quá nhiều tiếng ồn ào, sân trường vang lên những tiếng la ó. Mọi người đều ở đây, xung quanh chúng tôi, đang nhìn chúng tôi. Sự cuồng điên đang bao trùm lên chúng tôi, Lukas và tôi, đã lan sang những người khác. Chẳng ai đếm xỉa gì tới các quy định nữa. Bọn trẻ con chạy ùa tới vây quanh hai chúng tôi, đứa này cổ vũ Lukas, đứa khác thì cổ vũ tôi. Nhiều đứa, nhất là những đứa bé nhất thì khóc lóc và cầu xin chúng tôi dừng lại. Lũ chó được xích chặt lại, những người lính không hề can thiệp để tách chúng tôi ra. Trái lại, họ cũng chọn và cổ vũ đấu sĩ ưa thích của mình trong trận đấu sinh tử này. Bởi vì nếu tôi không giết được Lukas thì chính họ sẽ làm điều đó.
Có một người duy nhất không hề nhúc nhích, cũng không nói năng gì. Mà người đó đứng ngay ở hàng đầu tiên. Qua đám mây màu đỏ do máu chảy từ trên đầu xuống tràn vào mắt khi tôi sức cùng lực kiệt đổ gục xuống cơ thể đã bất động của Lukas, tôi lờ mờ nhận ra người đó. Ngài bác sĩ Ebner. Ông ta cũng có mặt ở đây ngay từ đầu.
Ông ta đã ở đó khi tôi chào đời. Ông ta đã đỡ đẻ tôi. Ông ta là người đầu tiên tôi nhìn thấy khi mở mắt ra. Giờ thì ông ta là người cuối cùng tôi nhìn thấy trước khi nhắm mắt. Một vòng tròn khép kín.
Tôi đã giết Lukas và tôi đang hấp hối.