Max, Bi Kịch Chủng Thượng Đẳng

Lượt đọc: 118 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương 33

❊ ❊ ❊

Đêm của những gã Ivan.

Đêm không ngủ.

Mọi người trở lại chỗ của mình trong căn hầm, chỉ khác một điều là những chiếc va-li không còn được dùng để phân chia ranh giới nữa. Chúng tôi có nhu cầu cảm nhận sự tiếp xúc với người bên cạnh, hơi ấm, hơi thở... cả sự run rẩy của người ấy. Những chiếc va-li được đặt trước cửa ra vào để làm rào cản. Một rào cản thô sơ. Nó chỉ có tác dụng đơn thuần về mặt tâm lí, nhưng dẫu sao nó cũng làm chúng tôi thấy yên tâm hơn phần nào.

Một ý nghĩ cứ lởn vởn trong đầu tôi. Hôm nay là 27 tháng Tư năm 1945, tôi đã tròn chín tuổi từ một tuần nay. Món quà sinh nhật đến hơi muộn, đó chính là sự xuất hiện của những gã Ivan.

Ban đêm rất yên tĩnh. Quá yên tĩnh. Họa hoằn mới có tiếng bom nổ. Những bức tường không còn rung nữa, nhưng chúng tôi thì đang run rẩy. Không có tiếng nói chuyện, không có tiếng xì xào. Im lặng tuyệt đối. Mỗi người tự hình dung ra một kịch bản khác nhau về điều đang chờ đợi mình. Bà Diesdorf có vẻ trăn trở suy tư rất ghê dưới cái khăn tắm. Bà Evingen thì ôm thật chặt lấy cái chân giả. Bà Betstein không ngừng vuốt tóc Manfred. Bà mẹ to béo và Ute ôm chặt lấy nhau. Còn ngài Hauptman tuy đang ngồi nhưng điệu bộ thì như đang đứng nghiêm, người thẳng đo như một quả đạn pháo. Lukas không rời mắt khỏi tôi, mỉm cười với tôi bằng nụ cười khích lệ. Có vẻ anh ta lo lắng cho tôi hơn là cho Ute. Bà tóc vàng thì không rời mắt khỏi tấm ảnh như thường lệ.

Tôi nghĩ là những kịch bản mà mỗi người trong chúng tôi tự dựng lên cho mình cũng không khác gì nhau: Chúng tôi sẽ chết. Tất cả, có thể là trừ Lukas bởi vì anh ta không phải người Đức.

Vào năm giờ sáng, đột nhiên trần nhà bắt đầu rung chuyển, xua tan bầu không khí đờ đẫn mà chúng tôi đang lịm dần trong đó. Có tiếng gầm rú của những cỗ xe gắn động cơ. Chúng dừng lại, có lẽ đang đỗ dọc theo vỉa hè. Mùi xăng nồng nặc xộc tới tận chỗ chúng tôi đang ngồi. Sau đó, sự im ắng quay trở lại.

Bà Diesdorf là người đầu tiên lên tiếng.

"Tôi sẽ ra xem có chuyện gì!"

Bà ta đứng dậy, không quên bỏ cái khăn tắm trên đầu ra, đây là lần đầu tiên bà ấy làm như vậy. Một động tác làm đỏm dành cho cư dân ở đây chăng? Hay bà ta tính chuyện tự tử bằng cách phơi cái đầu trần ra hứng những quả bom? Bà ta đi ra ngoài khoảng mười lăm phút, rồi chúng tôi nghe thấy tiếng chân bà ta hối hả bước xuống cầu thang. Bà ta đóng cánh cửa sau lưng lại, vặn ổ khoá, vội vàng xếp lại cái rào chắn bằng những chiếc va-li.

"Thế nào?" Những người đàn bà khác đồng thanh.

"Họ đang ở ngoài kia! Họ đã vào căn hầm bên cạnh. Tôi nghĩ rằng... rằng... có chuyện chẳng lành."

"Họ trông thế nào?" Bà Betstein hỏi.

"Tôi không rõ. Tôi thấy hai người trong số họ, từ sau lưng thôi. Họ... cao to, mặc áo vét bằng da, ủng da cao tới đầu gối... Con bé!" Đột nhiên bà ta chỉ vào Ute, "nhất định không được để họ thấy con bé! Phải giấu nó đi! Nhanh! Nhanh!"

Vào vị trí chiến đấu. Những người đàn bà lục tung các va-li lấy ra tất cả những bộ quần áo có trong đó rồi gom chúng lại chất thành một đống dưới chân bức tường ở cuối căn hầm rồi giấu chị ta vào đó. Bà Oberham ngồi trước đống quần áo để che và bảo Lukas ngồi cạnh bà ta nhằm nguy trang tốt hơn. Anh ta răm rắp vâng lời.

Thế còn chúng tôi thì sao? Không cần nguỵ trang cho chúng tôi, những đứa trẻ à? Sao chỉ có Ute?

Manfred nhìn tôi với cái nhìn đầy lo lắng và khẩn cầu, như bảo tôi hãy can thiệp, hãy làm cái gì đó để cho những người đàn bà kia chịu giấu cả chúng tôi nữa.

Lại im lặng. Tiếp tục chờ đợi. Một giờ sau - hoặc hai, hoặc ba giờ, gì thì gì nhưng chắc chắn không phải chỉ một phút - có tiếng chân bước vang lên trên cầu thang. Những cú đập cửa rầm rầm rất mạnh. Cái khoá cửa không chịu được lâu, cả đống va-li cũng vậy. Cánh cửa đầu hàng, mở toang ra và một luồng ánh sáng đèn pin quét khắp lượt căn hầm, nó dừng lại trên từng khuôn mặt của chúng tôi. Chúng tôi nheo mắt lại vì bị loá và không nhìn thấy gì cả, cứ thế lần lượt từng người một, khi luồng ánh sáng rời đi để chiếu lên mặt người bên cạnh, chúng tôi lờ mờ thấy đôi ủng, hai cái đầu gối, một thân hình - to lớn như bà Diesdorf nói - và sau cùng một khuôn mặt đầy râu ria, mái tóc dài và quăn màu hung. Hai gò má hồng hồng và cái mũi đỏ sậm. Đôi mắt đen với cái nhìn của một con diều hâu.

"Ouri! Ouri!" Gã Ivan vừa bước vào kêu lên.

Không còn nghi ngờ, đúng là họ rồi. Gã cao to đến nỗi phải cúi người về phía trước để khỏi va đầu vào trần. Tôi có cảm giác gã giống như một con quái vật. Gã ta sẽ ăn thịt tất cả chúng tôi!

Chúng tôi nhìn nhau dò hỏi. Có ai biết tiếng Nga không nhỉ? ít ra là một từ, cái từ mà gã đang nhắc đi nhắc lại ấy, mà gã thì càng lúc càng khó chịu vì sự im lặng và bất động của chúng tôi.

Gã duỗi tay ra, xắn tay áo lên rồi vừa lặp lại câu nói đó vừa đập đập vào cổ tay:

"Ouri! Ouri!"

Chẳng có gì hiệu quả hơn là ngôn ngữ của cử chỉ. Giờ thì hiểu rồi. "Ouri" là một cách nói của "Uhr", "Đồng hồ". Gã muốn những chiếc đồng hồ của chúng tôi. Những người đàn bà và ngài Hauptman nhanh chóng tháo đồng hồ của họ ra và ném vào cái túi của gã, gã gom chúng lại với giọng hồ hởi "Ya! Ya!". Gã đi qua trước mặt Manfred và tôi mà không dừng lại, chắc bởi nghĩ rằng chúng tôi còn quá nhỏ để đeo đồng hồ. Trái lại, gã túm tay Lukas, tay phải, tay trái, vén tay áo lên để chắc chắn rằng anh ta không giấu giếm thứ gì. Rồi phát hiện ra đống quần áo ở chân tường, gã chiếu chiếc đèn pin vào đó.

"Keine Uhr hie!"54 Lukas lập tức kêu lên. "Ouri, niet! Niet!"

Buồn cười chưa kìa. Lukas diễn đạt rất tự nhiên bằng tiếng Đức, trong khi đó thì gã Ivan kia là bạn, là đồng minh của anh ta cơ mà? Bây giờ chính là lúc để từ bỏ cái ngôn ngữ mà anh ta luôn luôn căm ghét, hoặc không bao giờ. Tại sao Lukas không nói rằng anh ta là người Ba Lan, lại còn Do Thái nữa? Tại sao anh ta không tận dụng thời cơ để rời khỏi cái địa ngục này?... Vì Ute chăng? Anh ấy mê chị ta đến vậy sao?

Gã Ivan không có vẻ gì là hiểu những điều Lukas nói với gã. Vẻ cương quyết, gã lầu bầu vài câu bằng tiếng Nga, vung tay lên chỉ vào cổ, vào tai và các ngón tay. Những người đàn bà hiểu ra rằng gã đòi những món đồ trang sức. Một người nhanh chóng tháo chiếc nhẫn ra, người khác thì một chiếc vòng, một sợi dây chuyền. Sau khi đã hài lòng với những món đồ trong túi, gã Ivan bỏ đi.

Thế thôi à? Gã chỉ muốn mỗi đồng hồ và đồ trang sức thôi sao?

Tiếng thở phào nhẹ nhõm lan ra khắp căn hầm. Chúng tôi thoát chết một cách khá dễ dàng. Chúng tôi đã không bị giết!

Những tiếng cười đã trở lại, sự căng thẳng dần tiêu tan. Bà Betstein tuyên bố với giọng có vẻ vui mừng nhưng vẫn còn hơi run run rằng đã tới giờ ăn sáng. Bà còn một ổ bánh mì trong va-li và bà sẽ chia sẻ nó với tất cả mọi người, có thể bà sẽ pha một ít trà nóng nữa.

Nhưng bữa ăn sáng đã tuột mất ngay trước mắt chúng tôi, chúng tôi đã vui mừng quá sớm. Bà Betstein còn chưa kịp mở chiếc va-li ra thì gã Ivan đã quay lại cùng hai người lính nữa. Lần này gã còn cầm trên tay một khẩu súng ngắn.

Gã chĩa súng về phía bà tóc vàng, khoát tay ra lệnh cho bà đứng dậy và bước lên cầu thang. Bà ấy làm theo một cách bình tĩnh. Mặt bà không có vẻ gì ngạc nhiên. Sau khi bước lên cầu thang vài bước, mặc cho gã Ivan đang dí sát nòng súng vào lưng để đẩy bà lên, bà dừng lại, quay về phía tôi, nhìn tôi một lần cuối trước khi đi khuất. Cái nhìn thật kì lạ, nó bám chặt lấy tôi đúng theo nghĩa đen. Dù bà ấy không còn ở đó nữa nhưng tôi vẫn cảm nhận thấy cái nhìn của bà. Tựa như nó sẽ không bao giờ rời tôi ra nữa. Đột nhiên tôi thấy bụng râm rẩm đau. Cả tim cũng nhói lên.

Hai người lính còn lại giải tất cả những người đàn bà ra khỏi hầm bằng cách tương tự. Bọn họ đi khỏi và để chúng tôi lại trong căn hầm, Lukas, Manfred, ngài Hauptman, tôi và Ute, chị ta vẫn đang trốn kĩ dưới đống quần áo.

Sau đó chúng tôi nghe thấy những tiếng kêu thất thanh.

Chúng tôi đã trải qua sự sợ hãi tột độ vào đêm hôm đó. Sau đó thì thấy bình thường. Chúng tôi nhanh chóng hiểu ra vai trò của những gã Ivan và những điều ám ảnh của họ. Họ có ba điều ám ảnh.

Điều thứ nhất: "Ouri! Ouri!" Có vẻ như họ rắp tâm vơ vét hết đồng hồ trong thành phố. Bất cứ đồng hồ gì, kể cả những chiếc rẻ tiền nhất với mặt đồng hồ được trang trí bằng những bức ảnh nho nhỏ. Nhiều gã Ivan đeo cả chục cái đồng hồ trên mỗi cánh tay, túi thì chật ních những chiếc đồng hồ bấm giờ.55 Có lẽ là họ gửi chúng về nhà làm quà. Hình như ở quê hương họ thì đồng hồ tượng trưng cho sự giàu có.

Điều ám ảnh thứ hai, đó là câu hỏi mà họ đặt ra với bất cứ người đàn ông nào mà họ gặp, bất kể tuổi tác: "Du, SS?" Khôn hồn thì trả lời là không phải, nếu không họ bắn chết ngay không báo trước.

Cuối cùng, ám ảnh thứ ba và là cái quan trọng nhất: Đàn bà. Vâng, những người phải chịu nhiều thiệt thòi nhất khi những gã Ivan tới, đó là những người đàn bà.

Họ bị làm nhục. Tất cả, không trừ một ai.

Ô! Tất nhiên những gã Ivan thích các cô gái trẻ, nhưng tin tức lan truyền nhanh chóng và hầu hết các cô gái trẻ được đem đi cất giấu. Có những người như Ute thì trốn dưới đống quần áo, người thì trốn trên gác xép. Đó là những ngăn thường được làm trên trần của nhà bếp, nơi vốn được dùng để cất những chiếc va-li. Nghe nói là vào thế kỉ trước, những người hầu gái thường ngủ trong các căn gác xép đó. Một nữ bác sĩ đã bố trí một căn phòng trong một boong-ke tránh bom và dán một áp phích lớn lên cửa: "Chú ý! Nguy cơ nhiễm bệnh! Nơi dành cho người nhiễm bệnh sốt chấy rận". Đó là nơi trú ẩn được cho là an toàn nhất ở Berlin, các bà mẹ tranh nhau giành lấy một chỗ ở đó cho con gái của họ.

Do không tìm được gái trẻ, những gã Ivan đành bằng lòng với những gì họ kiếm được. Kể cả những bà năm mươi tuổi hay những bà xấu xí họ cũng không tha. Nhất là càng béo họ càng thích, cứ như là những bà to béo sẽ làm họ quên đi những thiếu thốn mà họ phải chịu đựng. Như thể ngoài tình dục ra thì họ còn là một tủ đựng thức ăn. Bà Oberham, bà mẹ to béo trong căn hầm của chúng tôi là người bị quấy rầy thường xuyên hơn những người khác.

Manfred và Lukas đã bị sốc khi lần đầu họ thấy những người đàn bà dưới hầm trở lại trong tình trạng thảm thương, mắt đỏ quạch vì khóc lóc, quần tất tụt xuống mắt cá chân, áo xống tơi tả.

"Họ làm sao vậy? Người ta đã làm gì họ?" Manfred hốt hoảng kêu lên.

"Tao đã hi vọng là họ sẽ không làm điều đó, bọn họ ấy!" Lukas thốt lên, đầu lúc lắc từ bên nọ sang bên kia như một ông cụ.

"Nhưng làm gì cơ? Người ta đã làm gì họ?" Manfred nài nỉ nhưng không một ai trả lời, kể cả người đàn bà hàng xóm của cậu ta.

Thay vì ngồi cạnh cậu ta như mọi khi, bà ta ngồi riêng ra một chỗ và vừa sụt sịt vừa vặn người để kéo cái quần lót lên.

Manfred bắt đầu khóc thút thít. Tôi đành nói với cậu ta để cậu ta thôi trò hề của mình đi.

"Không có gì đâu! Người ta không làm điều gì xấu với họ đâu! Tớ sẽ giải thích cho cậu sau! Cậu còn quá bé để có thể hiểu được."

Ngài Hauptman thì chỉ nói được một câu: "Can đảm lên nào, các bà các cô! Can đảm lên!"

Cuối cùng thì chỉ có mỗi tôi là không bị sốc. Tuy nhỏ tuổi nhưng tôi đã có kha khá kinh nghiệm. Tôi vẫn nhớ khá rõ về những gì tôi từng chứng kiến hồi còn ở Poznan, về cái việc những người lính Đức đã làm với những người đàn bà Ba Lan.

Tôi nghĩ rằng bị làm nhục là cuộc chiến của những người đàn bà. Bây giờ chính là lúc họ ra trận.

Dù sao đi nữa thì việc đó vẫn còn dễ chịu hơn là bị giết.

Dần dà thì những người đàn bà cũng đành chấp nhận thực tế đó. Họ truyền tai nhau một câu nói: "Thà bị người Nga nằm trên bụng còn hơn là bị người Mĩ ngồi lên đầu."

Vả lại, những gã Ivan không phải những người luôn hung hãn. Không phải lúc nào họ cũng kéo những người đàn bà đi với một khẩu súng ngắn. Đôi khi họ hỏi một cách lịch sự:

"Cô có chồng chưa?"

Nếu cô ta trả lời chưa thì cô ta phải đi theo gã Ivan. Nếu cô ta trả lời có thì phải nói rõ chồng mình đang ở đâu. Thường là anh ta đang ở ngoài mặt trận chưa về, vậy thì... cô ta cũng vẫn sẽ phải đi theo gã Ivan.

Rốt cuộc thì tất cả mọi người đều cam chịu với số phận.

Thật là buồn cười bởi vì chúng ta thích nghi với mọi thứ. Trước khi những người Nga tới, chúng tôi đã run sợ. Chúng tôi hình dung ra những con quái vật. Tuy nhiên họ cũng chỉ là những người đàn ông. (Nói cho cùng thì có lẽ "đàn ông" và "quái vật" cũng chỉ là một?) Giờ thì các Ivan đang ở đây, đành chấp nhận thôi, họ dần hoà nhập vào khung cảnh xung quanh chúng tôi. Giữa những khu vực tan hoang, những toà nhà bị hư hỏng và cháy đen, những đống gạch ngói vỡ, bụi bặm và những cột khói từ các đám cháy, giờ còn có thêm những chiếc xe và những con ngựa của họ. Những cái xô của "những người đàn bà trên đống đổ nát" vốn dùng để đựng gạch đá rác rưởi thì giờ được dùng làm xô đựng nước uống. Những chiếc thùng đựng cỏ khô và hạt yến mạch được chất đống trên các vỉa hè. Phân ngựa rải rác khắp nơi. Mùi của những con vật đó len lỏi tới tận các căn hộ. Những khẩu pháo phòng không Nga cao như những cái tháp được đặt ở góc phố bất giác đập vào mắt chúng tôi. Khi những gã Ivan tới, nắng tháng Tư nóng như nắng tháng Tám. Giờ thì gió đông đang thổi, tựa như những người Nga đã đem nó theo trong hành lí của mình. Nhưng mỗi khi họ dùng những thanh ghế gãy đốt một đống lửa trên vỉa hè thì họ để chúng tôi lại gần doanh trại ngoài trời của họ để sưởi ấm chân tay. Ngoài những cái đó ra thì chiến tranh vẫn đang tiếp diễn ở phía Tây. Những trận pháo kích (phía Đức bắn trả đũa), những cảnh báo, tiếng hú còi báo động vẫn kéo dài không dứt. Và hiển nhiên việc chui xuống hầm là bắt buộc.

Trong căn hầm của chúng tôi, mọi người quay về với nếp sinh hoạt cũ của mình. Nhất là vào buổi sáng, đó là khoảng thời gian bình yên nhất trong ngày vì những gã Ivan sau khi uống say bí tỉ suốt buổi đêm đã tản về các căn hộ bỏ không rồi lăn ra giường và ngáy như kéo gỗ. Chúng tôi có thể ra phố hít thở không khí mà không sợ nguy hiểm. Ute chui ra khỏi đống quần áo để thư giãn đôi chân.

Manfred không còn khiếp sợ mỗi khi những người đàn bà trở về sau buổi tối với những người Nga nữa. Cực chẳng đã tôi phải giải thích cho cậu ta về cái việc mà họ làm với những người lính ở trên kia, cốt để từ nay trở đi cậu ta đừng làm phiền tôi nữa.

"Thôi được, nó diễn ra như thế này nhé: các bà ấy nằm dài ra, trên giường, trên bàn, dưới đất, điều đó không quan trọng, rồi những gã Ivan nhét của quý của họ vào cái khe của các bà ấy. Nhưng các bà ấy được sinh ra chỉ để phục vụ quân SS mà thôi, mọi việc diễn ra không thuận lợi, thế nên các bà ấy mới gào thét và khóc lóc."

"Ghê quá!" Manfred thốt lên, mắt tròn xoe.

"Nó chỉ ghê khi chỗ tiếp nhận và thứ được tiếp nhận không tương thích! Còn thì đó là điều bình thường, chính bằng cách đó mà người ta sinh ra bọn trẻ con. Cậu không biết cha mẹ cậu cũng làm như thế để sinh ra cậu à?"

Tôi lảng ra xa để chấm dứt cuộc trò chuyện. Sự đần độn của Manfred làm tôi khó chịu. Nhất là khi tôi nghĩ cậu ta từng là học sinh của một trường Napola! Mẹ kiếp, cậu ta mơ mộng cái gì trong giờ sinh vật? Rõ ràng người ta đã giảng cho chúng tôi về sự quan trọng của việc giao phối giữa những người thuộc cùng một chủng tộc cơ mà!

Căn hầm của chúng tôi dù sao cũng có thay đổi, nó thiếu mất một người. Đó là bà tóc vàng.

Bà ấy đã không quay trở lại sau cái đêm đầu tiên ra đi với những gã Ivan. Kể cũng lạ, không một ai nhắc tới sự vắng mặt của bà ấy. Như thể bà ấy chưa từng tồn tại.

Tôi đem chuyện đó nói với Lukas.

"Hừm... tại mày hỏi đấy nhé..."

Anh ta có vẻ lúng túng. Mà anh ta chưa bao giờ lúng túng trước mặt tôi. Điều này rõ ràng không bình thường.

"Bà ấy ở đâu? Anh có biết không?"

Anh ta lưỡng lự không trả lời, cúi gằm mặt nhìn vào hai bàn tay mà anh ta đang xoa vào nhau như thể đột nhiên muốn gột sạch lớp ghét cáu bẩn của chúng.

"Người ta đã tìm thấy..."

"Tìm thấy gì cơ?"

Anh ta làm tôi bực với kiểu mỗi phút lại rặn ra một câu này.

"Xác của bà ấy. Người ta tìm thấy xác của bà ấy trên phố. Những người Nga đã giết bà ấy. Tao rất lấy làm tiếc, Konrad ạ, thực sự lấy làm tiếc." Anh ta nói và nắm lấy tay tôi.

Konrad. Liệu tôi đang mơ hay quả thực anh ta vừa mới gọi tôi bằng tên thay vì "Đầu lâu"? Anh ta nói anh ta lấy làm tiếc. Anh ta nắm tay tôi, anh ta đã có một cử chỉ trìu mến với tôi. Anh ta bị làm sao thế nhỉ?... Tôi không hiểu gì hết.

"Họ đã giết bà ấy bởi vì bà ấy không làm theo ý họ?" Tôi hỏi anh ta.

Tôi không ngạc nhiên vì điều đó. Bà ấy có vẻ can đảm, bà ấy rất hiên ngang. Dịu dàng nhưng hiên ngang. Một người đàn bà Đức thực thụ.

"Không, tao nghĩ rằng họ thậm chí còn không định cưỡng bức bà ấy. Họ giết bà ấy vì tấm ảnh. Mày còn nhớ chứ, tấm ảnh mà bà ấy giữ khư khư ấy? Nhẽ ra bà ấy nên huỷ nó đi như bà Oberham từng khuyên nhủ. Chính nó đã làm hại bà ấy."

Anh ta ngừng lại, có vẻ như còn lúng túng hơn cả hồi nãy mặc dù đã tiết lộ tất cả. Song anh ta thấy rõ ràng là tôi đã không oà lên khóc. Tính tôi là như thế! Đúng, bà tóc vàng đã chết. Đó là điều đáng buồn, tôi thừa nhận điều đó. Bà ấy để lại một sự trống vắng trong căn hầm. Tôi rất thích khi bà ấy cười với tôi. Không phải thường xuyên, mà đôi khi. Nhưng những người chết thì đã có nhiều và sẽ còn có nhiều hơn nữa.

"Có gì trong tấm ảnh chết tiệt đó?"

Lần này thì tôi cảm thấy mình đã đặt một câu hỏi thích hợp. Đúng ra thì không phù hợp theo quan điểm của Lukas. Nó chính là câu hỏi mà anh ta muốn tránh.

"Lại gần hơn một chút!" Anh ta nói với tôi sau một hồi suy nghĩ.

Anh ta kéo tôi ra nơi vắng vẻ, chỗ chân cầu thang rồi thò tay vào túi lấy tấm ảnh ra. Tôi vừa định cầm lấy nó thì anh ta giơ tay lên cao không cho tôi động vào.

"Tao cho mày xem thật nhanh, nhưng sau đó, phải đốt nó đi, nhất trí chứ? Rất nguy hiểm nếu như họ thấy chúng ta với tấm ảnh, họ có thể giết chúng ta như bà ấy!"

Anh ta hạ cánh tay xuống, vẻ vẫn còn lưỡng lự.

"Thế nào, anh có cho em xem nó hay không? Anh phải quyết định đi chứ!"

Anh ta quyết định cho tôi xem ảnh.

Trong tấm ảnh, người đàn bà tóc vàng chụp chung với Quốc trưởng. Đích thân Quốc trưởng! Những người Nga hẳn không thích thú gì. Bà ấy nhìn trẻ hơn. Bà ăn mặc rất đẹp, vẻ mặt tươi tắn. Bà bế một đứa bé trên tay. Tôi tự hỏi bà ấy là ai. Một nữ diễn viên nổi tiếng? Phu nhân Quốc trưởng?... Và đứa bé? Đó là con trai của Quốc trưởng?... Không đúng. Nếu Quốc trưởng có một đứa con trai thì chắc chắn chúng tôi phải biết. Tôi để ý thấy ở góc dưới cùng bên phải của tấm ảnh có một chữ kí không lẫn vào đâu được: Adolf Hitler. Một tấm ảnh được kí tặng! Càng thêm lí do để bị các gã Ivan giết chết.

"Phải công nhận là bà ấy thật can đảm!" Tôi nói với Lukas và trả lại tấm ảnh cho anh ta. "Bà ấy hẳn phải rất yêu quý Quốc trưởng! Không như những người khác chẳng thèm quan tâm tới điều gì xảy ra với ông ta."

Quả vậy. Chúng tôi đều biết rằng Quốc trưởng đang ở trong boong-ke của ông ấy, nhưng ngoài ra thì không có gì khác. Và nói chung là mọi người đều thờ ơ. Khi mọi người muốn nói về ông ta, họ nói là "cái người đó". Chúng tôi không biết ông ta xoay xở thế nào khi những gã Ivan kéo vào Berlin, khi lá cờ Nga được cắm trên nóc Reichstag56... Thế nên dù sao thì bà tóc vàng đáng được biểu dương gấp đôi vì sự trung thành với ông ta.

"Mày biết không," Lukas nói, "tao thì tao nghĩ rằng không phải Quốc trưởng là người mà bà ta yêu quý đâu. Mà chính là đứa con của bà ấy."

Có thể. Vâng. Cứ cho là thế đi. Tôi bắt đầu thấy chán cuộc nói chuyện chẳng có gì hay ho này.

Lukas thận trọng cầm tấm ảnh mà tôi đưa trả, lưỡng lự đôi chút rồi lật tấm ảnh lại. Rồi anh ta dùng ngón tay chỉ cho tôi thấy dòng chữ viết trên mặt sau.

Konrad von Kebnersol. Steinhöring. Tháng Sáu năm 1936.

Chữ "Konrad" bị gạch ngang và thay bằng một cái tên khác được viết bằng nét chữ khác: Max.

Tôi lật đi lật lại tấm ảnh nhiều lần cho tới khi bộ não của tôi có thể thực hiện xong các kết nối cần thiết, thiết lập được mối liên quan giữa đứa bé trong vòng tay của người đàn bà tóc vàng và dòng chữ viết ở mặt sau của tấm ảnh.

Cái tên đầu tiên. Konrad. Tên của tôi.

Họ. Cũng của tôi.

Ngày tháng. Là ngày Namensgeburg. Ngày làm lễ đặt tên của tôi.

Điều đó có nghĩa đứa bé đó chính là tôi. QTĐT. Được đặt tên bởi đích thân Quốc trưởng.

Còn về cái tên Max... Nó vọng đi vọng lại trong đầu tôi khi tôi thì thầm nhắc lại cái tên đó nhiều lần. Nó vang lên giống như... như một nốt nhạc. Nó làm tôi nhớ đến một cái gì đó, nhưng tôi không biết là cái gì.

"Tao nghĩ rằng... đó là mẹ của mày," Lukas khẽ nói

với giọng nghèn nghẹn. "Tao... tao rất tiếc."

"..."

Tôi nghĩ ngợi. Tôi có thấy buồn không?

Không.

Các bà mẹ, họ đều chết! Những người đã nuôi nấng con của mình, như Lukas và Manfred, và những người đã bị bắt mất con của mình.

Những người mẹ đều chết!

Chiến tranh là thế đó.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 6 năm 2026