Tôi vẫn nghĩ rằng anh ta sẽ trở về hoàn toàn mạnh khoẻ. Về đến nơi hẳn anh ta sẽ vội vàng thông báo với tôi những tin xấu về tình hình bên ngoài - tin xấu đối với tôi, nhưng là tin vui đối với anh ta - như là việc tiến quân của phe Đồng minh, mối đe dọa thất bại đối với Đế chế. Tôi cũng đã chuẩn bị những câu phản biện của mình bằng cách dẫn chứng sức mạnh của đội quân mới gồm lực lượng dân quân tự vệ.
Tôi vẫn tin chắc rằng khi trở về anh ta sẽ làm nổ tung đầu toàn bộ học sinh trong lớp của mình. Rằng anh ta thậm chí sẽ chẳng thèm sắp đặt những vụ án mạng hoàn hảo như hai vụ vừa qua, mà lợi dụng tình trạng lỏng lẻo của Napola để mặc sức tung hoành.
Nhưng tôi hoàn toàn sai lầm.
Anh ta trở về và hoàn toàn thay đổi sau sáu tháng thực tập. Đó là một Lukas khác mà tôi khó khăn lắm mói nhận ra. Gầy rộc, vàng võ, đôi vai so lại, vẻ mặt ngơ ngác và hớt hải, anh ta nhìn giống như Lucjan ở Kalish. Không, cũng không được như vậy! Lucjan ở Kalish tràn đầy kiêu hãnh. Lucjan ở Kalish có ánh mắt của một chiến binh.
Tôi tới gặp anh ta một cách thường xuyên nhất có thể nhưng vẫn không tài nào bắt chuyện được với anh ta.
"Lukas, ổn chứ?"
Im lặng.
"Họ là người thế nào, những lao động người Nga ấy? Anh đã làm gì ở nhà máy?"
"..."
"Anh có đem sô-cô-la về không? Có mứt quả không?
Hay xúc xích? Em thèm xúc xích quá đi mất!"
"..."
"Nói đi, có phải ở ngoài kia cấp bách lắm phải không? Còn ở trong này chán lắm."
"..."
"Thế tóm lại là anh có chuyện gì vậy?"
Bực mình vì sự câm lặng ấy, tôi tới đứng trước mặt anh ta. Trực diện, mặt đối mặt. Anh ta nhìn lướt qua đầu tôi như một người mù. Tôi kéo tay áo, tôi lay anh ta, tôi tát anh ta. Anh ta phản ứng chẳng khác gì một con rối. Tôi chửi rủa anh ta, gọi anh ta bằng tất cả các tên gọi. Điều đó chẳng làm anh ta chớp mắt. Anh ta ở đó, bất động, ủ dột, mắt dán vào một điểm ở phía xa, một con ma mà anh ta là người duy nhất nhìn thấy và tìm cách tiếp xúc với nó.
Lúc ở nhà ăn, khi hiệu trưởng nói về dân quân tự vệ, tôi để ý thấy anh ta đứng có vẻ khó khăn, một người bạn phải giúp anh ta đứng nghiêm, nếu không có lẽ anh ta đã đổ phịch xuống ghế. Sau đó anh ta không ăn uống gì, anh bạn ngồi cùng bàn đã chén bay suất ăn của anh ta mà anh ta cũng chẳng hề phản đối.
Tôi chạy vù đi tìm anh ta lúc rời khỏi nhà ăn, lúc anh ta hút thuốc, ít ra thì thói quen này vẫn không thay đổi. Thực ra thì cũng có, anh ta hút nhiều hơn hồi trước. Anh ta châm hết điếu này tới điếu khác với một nghi thức kì lạ. Mỗi lần hút anh ta rít một hơi thật dài để hít vào thật nhiều khói thuốc, sau đó anh ta đưa mắt ngắm những vòng khói đang bay ra từ miệng. Rồi anh ta thận trọng bước vài bước, như thể muốn đi theo một lối đi được các đụn khói thuốc tạo ra. Anh ta làm những động tác kì cục, đưa cánh tay ra, khép bàn tay lại để chộp lấy khói thuốc, mở bàn tay ra và nhìn lòng bàn tay rỗng không của mình... Chưa hết. Thay vì búng tàn thuốc lá xuống đất thì anh ta gom chúng lại một cách thận trọng rồi cho vào một cái hộp nhỏ bằng gỗ. (Hẳn là anh ta đã tự chế tạo cái hộp này. Cái hộp có hình thuôn dài cùng một cái nắp trượt để đóng kín lại. Nhìn nó giống như một cái quan tài tí hon.) Sau khi hút xong khoảng chục điếu thuốc lá và cái hộp gỗ đã đầy tàn thuốc, Lukas đóng nắp của nó lại, quỳ xuống và cào cào trên mặt đất để khoét một cái hố. Anh ta chôn cái hộp xuống dưới đó. Cuối cùng, sau khi đặt một chiếc khăn mùi soa lên đầu, anh ta đọc một tràng dài kì lạ bằng thứ ngôn ngữ khó hiểu, man rợ. Tôi tin chắc đó là tiếng Do Thái. Và tôi cũng tin rằng đó là một đoạn kinh cầu nguyện.
Khéo anh ta hoàn toàn bị điên rồi!
Nếu như tôi thử ngăn cản anh ta, anh ta sẽ lập tức sực tỉnh rồi chẳng nói chẳng rằng quật tôi ngã xuống đất. Vì vậy tôi tự bằng lòng với việc canh chừng để không ai làm phiền tới anh ta.
Ngày hôm sau mọi việc lại lặp lại. Một bao thuốc lá khác. Một cái hộp bằng gỗ khác mà anh ta đã kịp chế ra vào giữa khoảng thời gian đó. Một bài kinh cầu nguyện khác bằng tiếng Do Thái.
Chắc chắn có điều gì đó đã xảy ra trong đợt thực tập chết tiệt này. Hay có khi không phải một đợt thực tập mà là một nhiệm vụ biệt kích? Phải chăng Lukas đã rơi vào giữa một trận đánh khốc liệt? Một quả lựu đạn, hay tệ hơn thế, một quả bom đã nổ gần chỗ anh ta? Anh ta tuy không mất mạng nhung cú sốc đã gây chấn động và làm anh ta phát rồ hả?
Anh ta chẳng còn bộ não nữa. Anh ta là một thằng ngớ ngẩn.
Tôi dò hỏi những người bạn của anh ta, họ hoàn toàn chẳng có vẻ gì là bị chấn động cả. Họ bác bỏ giả thuyết của tôi. Quả thực là họ đã đi thực tập ở nhà máy. Đúng là đợt thực tập đã bị rút ngắn lại vì những trận ném bom, nhưng nhà máy không bị trúng quả bom nào. Mặt khác, ban đầu mọi chuyện đều diễn ra tốt đẹp với Lukas, anh ta làm quen với người sĩ quan SS phụ trách việc giám sát các tù binh. Hai người thường xuyên đi cùng nhau, cùng cười nói, bông đùa, rồi đột nhiên Lukas thay đổi. Những người bạn của anh ta kết luận rằng nguyên nhân là do cái chết của Herman. Đôi khi phải mất một thời gian người ta mới ý thức được một cách đầy đủ về cái chết của một người bạn. Cái chết của Herman xảy ra ngay trước khi lên đường đi thực tập, nó đã làm Lukas mất thăng bằng. Sau đó anh ta mới hoàn toàn nhận thức được điều ấy. Tội nghiệp! Hai người bạn thân nhất ra đi chỉ cách nhau vài tháng, dù sao thì đó cũng là điều rất đau lòng.
Lời giải thích của họ chẳng đáng tin cậy chút nào cả. Họ đã sai lầm hoàn toàn, tới một mức độ họ không tài nào tưởng tượng nổi.
Có điều gì đó đã xảy ra.
Và cái điều đã xảy ra đó, cuối cùng tôi cũng được biết vào một buổi đêm.
Tôi bị đánh thức bởi mùi khói. Tôi mệt mỏi và buồn ngủ, khó khăn lắm tôi mới hé được hai mí mắt ra. Sau khi mở mắt, tôi nhận ra có một làn khói đen đặc đang vây kín lấy mình. Chuyện gì xảy ra vậy? Một đám cháy đã bùng lên? Mà tôi lại chẳng nghe thấy tiêng chuông báo động? Tôi đã tỉnh thật chưa hay vẫn đang ngủ và mơ tới đám cháy?
Không phải tôi đang mơ, đúng là có khói thật, nó len lỏi vào lỗ mũi của tôi và làm tôi bật ra những tiếng ho. Bằng một cố gắng phi thường, tôi mở hẳn mắt ra và nhấc đầu lên khỏi cái gối. Thế rồi, tôi thấy Lukas đang ngồi trên giường của tôi, ngả người vắt chéo qua người tôi. Anh ta cầm cái hộp đựng tàn thuốc và mồm đang phì phèo điếu thuốc. Chắc cũng khá lâu rồi bởi khi ngồi dậy tôi nhìn thấy ba mẩu thuốc trên sàn nhà. Ánh trăng lọt qua cửa sổ chiếu lên khuôn mặt của anh ta làm nó nhìn càng thêm xanh xao nhợt nhạt, đến nỗi cái đầu của anh ta như đang bay lơ lửng chứ không hề gắn với cơ thể nữa. Khi mắt đã quen với bóng tối thì tôi nhìn anh ta rõ hơn. Không, đầu anh ta không bay lơ lửng trong không khí mà nó vẫn được gắn vào cơ thể. Một cơ thể mặc một bộ pijama sọc vằn nhìn chẳng giống tí nào với áo may ô và quần đùi thường được dùng vào ban đêm theo quy định tại các phòng ngủ của Napola. Đó là... Đó là đồng phục tù nhân của các trại tập trung.
Tôi liếc mắt nhìn xung quanh để chắc chắn rằng không có ai thức dậy.
"Điên hay sao mà lại hút thuốc ở đây? Và bộ quần áo cải trang này là thế nào? Anh bị thần kinh à?"
Tôi giật phắt điếu thuốc mà Lukas đang ngậm trên môi xuống rồi dập tắt nó đi. Anh ta không phản kháng, nhưng tôi vừa định mở mồm đòi anh ta giải thích thì anh ta đặt ngón tay lên miệng bắt tôi im lặng, tới lượt anh ta đảo mắt một vòng để đảm bảo rằng không có ai đang nghe trộm chúng tôi.
Cuối cùng thì anh ta sẽ nói, hoặc viết ra giấy điều bí mật mà anh ta có ý định tiết lộ cho tôi biết, như anh ta từng làm trong phòng học sau cái chết của Gunter. (Anh ta tới đây tìm tôi vào nửa đêm, điều đó có nghĩa chuyện anh ta sắp nói với tôi hẳn phải cực kì quan trọng.) Thế nhưng anh ta vẫn ngồi im như phỗng. Tôi chờ đợi mà không giục giã, bởi vì tuy vẫn bất động nhưng anh ta không còn ánh mắt vô hồn như những ngày gần đây nữa. Tôi đơn giản đoán rằng nói chuyện là một việc khó khăn đối với anh ta, hình như những câu nói quá đau xót, quá nặng nề để thoát ra khỏi ranh giới là bờ môi của anh ta thì phải. Liệu có phải anh ta sắp thông báo cho tôi biết rằng anh ta vừa ám sát chính thầy hiệu trưởng không nhỉ?
Sau một quãng thời gian mà tôi thấy dài tuởng như vô tận, cuối cùng anh ta cũng chấm dứt sự câm lặng của mình và dí cái hộp bằng gỗ đầy ắp tàn thuốc lá vào mũi tôi.
"Họ đã ra đi như thế này đây."
"Như thế này là sao? Ai ra đi? Anh nói về cái gì thế? Em chả hiểu gì hết!"
Tôi gắng hết sức để nói nhỏ nhẹ nhung vẫn có cảm giác mình đang gào lên, đủ to để đánh thức cả phòng dậy.
"Những nguời Do Thái. Họ đã ra đi như vậy đó. Họ tiêu tan cùng làn khói. Sau đó họ biến thành tro bụi."
"..."
Giờ thì tới luợt tôi câm nhu hến. Câu trả lời của Lukas có vẻ như vô nghĩa, tuy nhiên anh ta đã nói nó ra với sự tự tin và cách diễn đạt quen thuộc của mình.
"Đó là một chương trình với tên gọi 'Giải pháp cuối cùng'," anh ta nói tiếp. "Chương trình này được khởi động vào năm 1942 khi chúng ta đang ở Kalish. Nó đã đem lại kết quả, nó càng ngày càng hoạt động hiệu quả hơn. Tại tất cả các trại tập trung, những nguời Do Thái tới từ khắp châu Âu bị dồn vào các phòng hơi ngạt, rồi cơ thể của họ bị đốt ra tro trong các lò thiêu người. Hàng chục nghìn người đã chết."
"Không! Không! Không thể có chuyện đó! Nếu không thì hẳn chúng ta đã biết. Các giáo viên sinh vật hẳn đã nói cho chúng ta, họ..."
Tôi không kết thúc được câu nói của mình. Trong giờ sinh vật, quả thực có đề cập tới "sự cần thiết phải xoá sổ dân tộc Do Thái", nhưng mà cách thức để tiến hành việc xoá sổ này lại không được nói rõ ràng. Ở Napola, người ta không nói đầy đủ với chúng tôi, các sự kiện trong những tháng gần đây đã chứng minh điều đó. Các thông tin người ta huyền đạt cho chúng tôi được sàng lọc, bóp méo. Những lời cải chính của Lukas trước chuyến đi thực tập mà tôi không muốn tin đều đã được kiểm chứng... Tôi đã ném bức tượng Quốc-trưởng-đánh-rắm vào thùng rác bởi vì tôi thấy con rối đó chính là hình ảnh phản chiếu đáng buồn cho hình mẫu thực của nó.
Trong khi đang mải suy luận thì tôi chợt thấy có một cảm giác kì lạ. Một phản ứng của cơ thể. Giống như những tia sáng loé lên trong đầu tôi. Giống như trong tai tôi vang lên những âm thanh của kí ức. Những tiếng nói, những câu đối thoại bất ngờ ở Kalish, và trước đó nữa, ở Poznan, trong căn nhà bị trúng bom, tôi thường loáng thoáng nghe thấy những cuộc trao đổi vào ban đêm, đằng sau cánh cửa phòng làm việc của bác sĩ Ebner. Những giọng nói đó lần lượt vọng về. Lúc đầu còn khe khẽ, nhưng càng về sau chúng càng mạnh dần và khẳng định những điều Lukas nói. Bác sĩ Ebner và đồng sự của ông ta trình bày các con số của trại này hay trại kia, họ bàn bạc về việc "tăng cao năng suất".
Lukas giải thích với tôi rằng anh ta moi được thông tin về kế hoạch "Giải pháp cuối cùng" từ người sĩ quan SS mà anh ta vờ kết bạn ở nhà máy. Viên sĩ quan này từng có thời gian phục vụ ở trại Treblinka. Gã đã thấy tất cả. Bản thân gã cũng từng áp giải hàng trăm người Do Thái tới các phòng hơi ngạt. Vào hôm cuối cùng của cuộc thực tập, gã đã đưa cho Lukas bộ pijama gớm ghiếc kia. Một món quà. Một kỉ niệm...
Nói về kỉ niệm. Bộ não của tôi lại có phản ứng. Bộ pijama này thật đáng sợ, ghê rợn, thế nhưng nó lôi cuốn tôi... Tôi tìm kiếm, lục lọi trong những kí ức xa vời nhất... Và cuối cùng tôi đã tìm thấy. Con mụ đã bắt cóc tôi khi tôi còn bé. Câu chuyện mà Josefa đã kể đi kể lại với tôi vẫn còn hiện hữu, nó nằm đâu đó ở một trong những ngăn của não bộ. Người đàn bà đó cũng mặc bộ pijama như thế này, tôi từng nằm trên tay cô ta, mũi rúc vào cái thứ vải thô ráp, bẩn thỉu, nhưng đã mang lại hơi ấm và sự an ủi.
Tôi ngước mắt nhìn Lukas.
Anh ta vừa châm một điếu thuốc khác. Tôi chẳng có cớ gì để phản đối cả. Chưa kể là điều đó cũng vô ích, anh ta đã đứng lên và rời khỏi phòng ngủ, bỏ lại một đám mây khói thuốc đằng sau mình và mùi vị của tàn thuốc trong miệng tôi.