"Mừng người Nga và người Mĩ đang tiến vào!" Lukas hô to.
Sau khi nốc một cốc rượu trắng, anh ta chuyền cái chai cho tôi để tôi tợp một ngụm.
"Vì chiến thắng của Đế chế!" Tôi vừa gào vừa giơ cánh tay ra, một công đôi việc, vừa chọc tức Lukas vừa đưa cái chai cho Manfred.
"Vì những người Nga đang tới và chiến thắng của Đế chế!" Manfred hô lên.
Thằng ngu! Câu nói ngớ ngẩn của cậu ta làm tôi bị sặc.
"Không thể thế được!" Tôi thốt lên và nhổ toẹt ngụm rượu vừa trôi nhầm đường vào khí quản và suýt làm tôi chết nghẹn vào mặt cậu ta.
"Cái gì không thể được cơ?"
"Uống mừng cùng lúc việc tiến vào của người Nga và chiến thắng của Đế chế. Hoặc cái này hoặc cái kia, cậu phải chọn phe của mình!"
"Nhưng... Nhưng tại sao tớ lại phải chọn? Các cậu là anh em ruột! Vậy nếu Lukas chọn người Nga còn cậu chọn Đế chế, điều đó có nghĩa là cả hai đều có thể được cùng một lúc còn gì?... Không à? Các cậu... Các cậu không cùng phe với nhau à?" Manfred hỏi với vẻ thiểu não, một thói quen mỗi khi cậu ta làm điều gì đó ngớ ngẩn.
Cậu ta quả là dốt đặc cán mai! Tôi dám chắc cậu ta không hề nghe giảng dù chỉ một câu trong các tiết lịch sử hay giáo dục chính trị ở Napola. Cậu ta cũng chẳng hiểu gì về tình hình hiện tại cả. (Cậu ta vẫn nghĩ rằng Lukas và tôi là hai anh em. Chúng tôi vẫn chưa nói cho cậu ta biết sự thật. Bởi vì lười. Câu chuyện quá dài để kể lại và cậu ta cũng sẽ chẳng hiểu gì.)
"Câm mồm đi!" Lukas xen vào. "Hai đứa chúng mày đều hâm như nhau, nhất là mày!" Anh ta nói và nhìn tôi. "Mày toàn nói linh tinh! Bao giờ thì mày mới chịu hiểu rằng chiến thắng của Đế chế là điều không thể hả, Đầu lâu?"
Tôi định vặc lại nhưng anh ta không để tôi kịp làm điều đó. Khuôn mặt anh ta vụt trở nên tươi cười và anh ta tuyên bố:
"Nào, hôm nay là không được cãi nhau đâu đấy! Hôm nay là ngày lễ! Chúc mừng năm mới 1945!"
Anh ta có lí. Chúng tôi có thể làm một cuộc đình chiến đặc biệt cho ngày 31 tháng Mười Hai.
"Chúc mừng năm mới 1945!" Manfred nói theo.
Vâng, bây giờ đang là Năm mới. Chúng tôi rất mãn nguyện. Ngay cả khi ngoài kia cường độ âm thanh của máy bay ném bom và đạn pháo đã tăng gấp đôi. Chúng tôi buộc phải gào lên thật to để át đi tiếng ồn của chúng. Bầu trời đỏ rực màu của lửa. Sự bùng nổ màu sắc này cứ như để tạo ra bầu không khí lễ hội vậy.
Bây giờ không phải buổi đêm mà là buổi trưa. Chúng tôi ăn mừng vào lúc này, bởi vì chẳng lấy gì đảm bảo chúng tôi vẫn còn sống vào lúc nửa đêm và nhìn thấy năm mới. Chúng tôi có rượu, thuốc lá cùng một miếng thịt muối, một cây xúc xích và vài củ khoai tây luộc chín. Đó là một bữa ngon, chúng tôi thật may mắn cho dù món khoai tây hơi có vị như xà phòng. Rượu làm ấm bụng, thuốc lá dập tắt cảm giác đói, và được ở trong một căn hộ mới thật dễ chịu làm sao.
Bởi vì chúng tôi đã tìm ra được một căn hộ.
Khi rời khỏi ga tàu điện ngầm, Lukas hỏi Manfred:
"Mày nhớ đường về nhà đấy chứ? Mày còn nhớ địa chỉ không?"
"Có! Có! Tất nhiên rồi! Số 1, phố Reichsstrasse! Đi đằng này!"
Mắt Manfred sáng bừng lên như thể chúng được chiếu sáng bởi những cây nến mà người ta trang trí trên cây thông Giáng sinh trong thời bình. Như thể "mẹ" nhấp nháy hiện lên trong mắt bên trái và "cha" trong mắt bên phải. Đối với cậu ta thì tìm về nhà tức là tìm về với cha mẹ. Cậu ta không dám về nhà một mình, nhưng có hai đứa tôi đi cùng thì cậu ta cảm thấy mình sẵn sàng đối mặt với nguy hiểm. Cậu ta mường tượng rằng khi chúng tôi vào nhà, cậu ta sẽ thấy mẹ đang ở trong bếp, sẵn sàng dọn ra cho cậu ta một bữa ăn nhẹ ngon lành. Còn người cha ngồi ở phòng khách sẽ đón cậu ta bằng câu:
"Sao, con trai, học kì cuối cùng ở trường thế nào?"
Lukas và tôi tránh không nói thật với cậu ta rằng cậu ta không có bất kì cơ may nào để gặp lại cha mẹ mình. Có khi là cả căn hộ của cậu ta nữa vì có rất ít nhà cửa còn nguyên vẹn. Đầu tiên phải để cậu ta dẫn chúng tôi về nhà. Và cậu ta đã làm vậy.
Dĩ nhiên là căn hộ bị trúng bom và xiêu vẹo. Kính cửa sổ vỡ tan tành và tất cả bị bao phủ bằng một lớp bụi vữa màu xam xám, như thể một miệng núi lửa đã phun trào ở đâu đó gần đây. Nhưng trần nhà và sàn nhà không sập xuống mà chỉ bị hư hỏng, một vài cái hố chỗ này chỗ kia cũng dễ nhận biết mà tránh. Không còn lò sưởi trung tâm, điện đã bị cắt, nhưng đối với chúng tôi thì căn hộ hoàn toàn sống được. ít ra là với Lukas và tôi. Còn Manfred thì bàng hoàng.
"Không thể thế được! Không thể thế được!" Cậu ta thốt lên khi nhận ra sự nghiêm trọng của các thiệt hại.
Các món đồ cá nhân của cậu ta đã biến mất. Đồ chơi, tranh vẽ, phần lớn quần áo, đồ đạc trong phòng của cậu ta. Rồi bát đĩa, đồ trang trí, khăn trải giường. Hầu như chẳng còn lại gì. Mất một hồi lâu, cậu ta mới ý thức được sự vắng mặt của cha mẹ mình, điều đó tránh cho chúng tôi khỏi một cuộc khủng hoảng nước mắt mà chúng tôi từng lo sợ. Sau đó cậu ta chăm chú tìm kiếm một lá thư, hay ít ra là một tin nhắn mà cha mẹ để lại đâu đó, thứ sẽ giúp cậu ta biết được họ đang ở đâu. Nhưng không. Hoàn toàn không có gì cả. Để an ủi Manfred, Lukas quả quyết với cậu ta rằng lá thư đã bay mất do các cửa kính bị vỡ hết rồi.
Lukas và tôi đi một vòng quanh căn hộ để xem xét. Trong bếp, các ngăn tủ dĩ nhiên là rỗng không, các bếp lò không hoạt động nữa, nhưng chúng tôi vẫn thấy chỗ này rất hứa hẹn. Bếp là nơi bạn NÂU AN. (Miễn là kiếm được thực phẩm.) Trong phòng khách vẫn còn nguyên hai chiếc ghế bành vì lũ trộm thấy chúng quá nặng để khuân đi, vỏ ghế đã bị rạch tung ra - chắc hẳn bọn chúng nghĩ là có tiền hay đồ trang sức giấu bên trong - nhưng chúng tôi vẫn có thể dùng để ngồi. Đôi mông đau nhức vì ngồi trên đường ray hay trên những bậc thềm bê-tông tại các hầm trú ẩn của chúng tôi tha hồ tận hưởng cảm giác êm ái của ghế bành. Căn hộ có hai phòng ngủ, một phòng của người lớn và một phòng của Manfred. Và cuối cùng, một phép lạ, điều kì diệu của những điều kì diệu!...
NHÀ VỆ SINH! Hơi bụi bặm nhưng vẫn sạch sẽ! Tuyệt nhất là bồn cầu vẫn hoạt động bình thường. Chúng tôi như đang ở trong một lâu đài!
Chúng tôi tranh cãi dữ dội để xem ai là người có quyền khai trương cái nhà vệ sinh trong mơ này.
Tôi đã thắng.
Bụng tôi đột ngột xả ra tất cả nỗi khổ của nó. Tôi đánh một phát rắm to đến nỗi các đối thủ của tôi đã phải đầu hàng trước cuộc tấn công bằng khí độc chết người này.
Tôi chốt cửa, tự giam mình trong căn buồng êm ái và ngồi lì ở đó một tiếng đồng hồ liền mặc cho Lukas và Manfred la hét đập cửa om sòm bên ngoài. Sau đó là một cuộc giằng co mới khi tôi muốn chùi đít bằng giấy của những quyển sách mà tôi tìm thấy trong phòng khách, trên những giá sách đã bị sập.
"Đồ khùng!" Lukas kêu lên và ngáng đường tôi. "Đây không phải là ở Napola đâu nhé, xin nhắc lại nếu mày đã quên điều đó!"
"Đó là những quyển sách của cha tớ!" Manfred cáu kỉnh phản đối.
"Sách của cha mày?" Lukas hỏi lại, giọng chợt trở nên cảnh giác.
"Đúng!"
"Cha mày làm gì?"
"Ông ấy làm ở Bộ..."
"Chờ một chút!" Lukas cắt ngang.
Anh ta bước tới chỗ đống sách và lật giở từng quyển một.
"Rác rưởi! Rác rưởi! Lại vẫn là rác rưởi!" Anh ta thốt lên mỗi khi lướt xong một quyển.
Anh ta chia sách làm hai chồng. Chồng thứ nhất anh ta quẳng vào nhà vệ sinh, còn chồng thứ hai anh ta đặt trước cái lò sưởi dùng than ở phòng khách.
"Được rồi đấy, mày có thể chùi đít với chúng! Đó là những quyển sách của bọn Quốc Xã! Nhất là cái quyển này!" Anh ta chỉ tay vào quyển trên cùng của chồng sách thứ nhất. "Đống sách còn lại sẽ đem nhóm lửa và để sưởi ấm... Làm một đống lửa nhỏ, nó sẽ nhắc cho chúng mày những kỉ niệm khó quên, phải không?" Anh ta nói thêm rồi nhìn Manfred và tôi với nụ cười đầy ác ý.
Quyển sách trên cùng của chồng sách thứ nhất: Mein Kampf.
Tôi lưỡng lự hồi lâu, tôi không dám dùng nó để chùi đít. Đó là điều bất khả thi. Tai tôi vẫn còn văng vẳng tiếng của thầy hiệu trưởng đọc cho chúng tôi những trích đoạn khi ở trong nhà ăn của Napola. Tôi sợ rằng những chữ viết sẽ rời khỏi tờ giấy và xúm lại châm vào đít tôi để trả thù. Tôi lén giấu quyển sách xuống dưới cùng của chồng sách với hi vọng rằng có thể chúng tôi sẽ không dùng hết chồng sách này.
Sau các cuộc chiến vì nhà vệ sinh và giấy chùi đít, còn một cuộc chiến cuối cùng nữa để xí phòng ngủ. Lukas viện cớ lớn tuổi nhất nên chiếm phòng của người lớn. Còn Manfred, cậu ta về lại phòng ngủ của mình và gợi ý là tôi có thể ngủ chung phòng với cậu ta. Không, xin cảm ơn. Tôi tự nhủ là nếu kéo sát hai cái ghế bành trong phòng khách lại với nhau nó sẽ thành một cái giường khá tốt. Sống cùng nhau trong một căn hộ thì chẳng có vấn đề gì, nhưng ngủ chung phòng với Manfred sẽ gợi lại cho tôi quá nhiều kí ức về cái phòng ngủ ở Napola.
Mỗi tội là... Lúc màn đêm buông xuống, khi còi báo động hú lên, khi những trận bom nối tiếp nhau không ngừng, khi mặt đất rung chuyển, trần nhà rạn nứt, không ai bảo ai Manfred và tôi ba chân bốn cẳng chạy vào phòng của Lukas. Anh ta không đuổi chúng tôi ra, ba chúng tôi nằm sát vào nhau trên chiếc giường lớn, nắm tay nhau thật chặt. Nhưng chúng tôi vẫn không tài nào nhắm được mắt và nhanh chóng hiểu ra rằng tốt nhất là nên chạy xuống hầm.
Vậy là ban ngày chúng tôi ở trong căn hộ, còn ban đêm thì buộc phải chui xuống hầm. Tiếc thay đó không phải là một căn hầm chỉ dành riêng cho chúng tôi như chúng tôi vẫn tưởng khi chẳng thấy bóng người hàng xóm nào ở các tầng nhà.
Những người hàng xóm thực ra đang ở dưới hầm, họ sinh hoạt luôn tại đấy và có thể dễ dàng nhận ra sự chật chội của nó.
Lại cảnh tượng quen thuộc, những con cá mòi đóng hộp. Một phòng ngủ nơi mà tất cả mọi người đứng ngồi lộn xộn và chẳng ai ngủ cả.
Manfred mừng rơn vì gặp lại một người bạn của cha mẹ mình.
"Manfred bé bỏng! Chú bé đáng yêu của tôi! Vậy là cháu vẫn còn sống! Quả là có phép lạ! Cháu lớn lên nhiều rồi đấy!"
Lớn lên? Trời! Thế thì trước khi tới Napola chắc cậu ta là một thằng lùn.
"Đây! Cha mẹ cháu đã nhờ bác giữ một lá thư để chuyển cho cháu! ừ, ừ, cháu yên tâm, họ vẫn mạnh khoẻ! Họ đã kịp chạy về nông thôn. Có lẽ họ phải đi đón cháu. Nếu họ không làm được điều đó thì có thể là họ đã gặp trở ngại... Mà thôi, cháu đừng lo lắng, từ giờ trở đi bác sẽ trông nom cháu."
Vậy là cuối cùng Manfred cũng đã có trên tay lá thư đầy mong đợi mà cậu ta cất công tìm kiếm bấy lâu. Cậu ta ngồi lọt thỏm trong vòng tay của bà Betstein và đọc đi đọc lại lá thư, bà này là người mà những ngày sắp tới - đúng ra phải nói là những đêm - sẽ thay thế mẹ cậu ta.
Bà ấy vỗ về cậu ta, chăm sóc cậu ta, sắp xếp quần áo cho cậu ta, chia sẻ với cậu ta khẩu phần ăn của mình. (Vào đêm đầu tiên, cái thằng Manfred láo toét đã ngang nhiên chén sạch ngay trước mặt chúng tôi, nhưng ngày hôm sau lúc quay lại căn hộ, Lukas và tôi làm mọi chuyện trở nên rõ ràng. Giờ thì cậu ta đã hiểu ra rằng cậu ta phải giữ lại những thứ mà bác già kia đưa cho mình để chia sẻ với chúng tôi.)
Một cảnh sinh hoạt đời sống thực sự được tổ chức ở dưới hầm. Ở đây mỗi người có một góc riêng dùng làm không gian sống cho mình. Những người biết lo xa đem theo nào chăn, nào gối, nào ghế ngồi. Giống như Manfred, mọi người giết thời gian bằng cách đọc thư và ngắm nhìn các tấm ảnh. Đôi khi có giấy thì họ còn hí hoáy viết. Những lá thư? Để làm quái gì nhỉ? Thư từ có được chuyển nữa đâu. Họ cũng nói chuyện với nhau, nhiều là đằng khác. Vì ngoài một ông già ra thì còn lại toàn là đàn bà con gái, tiếng nói chuyện râm ran không ngừng.
Những cư dân dưới lòng đất này toàn người đầu óc có vấn đề. Cuộc sống dưới đất ảnh hưởng mạnh mẽ tới não bộ. Ví dụ có một bà nọ luôn đội cái khăn tắm trên đầu. Bà này vốn đã xấu, mà chiếc khăn cuốn thành hình cái bắp cải trên đầu bà ta chẳng làm tình hình được cải thiện chút nào.
Một hôm người hàng xóm va-li hỏi bà ta (tôi nói "hàng xóm va-li" là bởi vì họ dùng hành lí hoặc để làm ghế ngồi hoặc vách ngăn cho khoảng không gian sinh hoạt của mỗi người.)
"Bà Diesdorf này, tôi hỏi khí không phải. Tại sao bà lại đội cái khăn tắm lên đầu? Bà nên hiểu rằng nếu đó là vì lũ chấy thì điều đó hoàn toàn vô ích, nó không ngăn được sự lây lan và..."
"Tôi không có chấy! Tôi là người sạch sẽ! Không phải như một số người khác! Cái khăn tắm này bảo vệ tôi khỏi các vụ nổ!" Bà Diesdorí đốp lại.
Thế là họ cãi nhau. Không phải vì việc đội khăn tắm lên đầu chẳng giúp ích gì trong vụ nổ, mà thực ra tôi cũng không biết họ cãi nhau vì cái gì nữa, thoắt cái đã thấy người ta to tiếng với nhau.
Một bà khác thì luôn kè kè bên mình cái chân giả của anh con trai. Bà ta xem nó như tấm bùa của mình. Tốt nhất là không nên tìm hiểu sâu.
Người hàng xóm va-li của tôi là ngài Hauptman, một ông già mồm thối.
"Trong trường hợp bị một quả bom rơi trúng vào người, cậu bé của tôi, nhớ là phải chúi người về phía trước."
"Tại sao?"
"Để cháu không bị sức ép làm vỡ phổi."
Khéo tôi chết ngạt vì hơi thở hôi thối của ông ta trước khi chết vì trúng bom ấy.
Tôi thấy chán cái cuộc sống trong hầm này. Vậy mà Lukas và Manfred thì lại rất thích thú. về Manfred thì tôi đã giải thích tại sao. Còn Lukas thì bởi người hàng xóm va-li là một thiếu nữ trạc tuổi anh ta. Chị ta tên là Ute. Hai người có cảm tình với nhau, họ thường lén đưa mắt nhìn nhau. Cứ mỗi khi có dịp là họ lại lợi dụng sự chật chội để chạm vào tay, đầu gối và đùi nhau. Mặt họ đỏ lựng như gấc nhìn thật lố bịch. Rồi bà mẹ của chị ta cũng nhận ra sự quyến luyến của đôi trẻ. Đó là một bà rất to béo - không hiểu sao khối lượng mỡ của bà ta vẫn không giảm theo các khẩu phần ăn. Một đêm, bà ta đã đổi chỗ với cô con gái của mình. Giờ thì Lukas bị kẹt ở giữa những ngấn mỡ của bà ta và bức tường. Đáng đời anh ta lắm.
Có một người đàn bà khác hẳn với những người còn lại. Bà cố lánh ra góc xa nhất có thể trong điều kiện chật chội ở đây. Bà gây chú ý bởi thái độ của mình. Bà không nói chuyện, nếu có thì cũng nói rất ít. Bà rất đẹp. Tôi ít khi nhìn thấy bà lúc bà đứng lên nhưng tôi đoán rằng bà rất cao. Bà có mái tóc vàng và đôi mắt xanh. (Lâu lắm rồi tôi mới lại thấy một người hội tụ đủ tất cả các tiêu chuẩn của chủng người Bắc Âu.) Dù bộ quần áo bà đang mặc đã sờn nhưng nhìn bà vẫn rất quý phái. Phần lớn thời gian bà ngồi ngắm một tấm ảnh. Đôi khi có một giọt nước lăn dài trên má bà. Chắc đó là ảnh của người chồng. Có lẽ chồng bà ấy đã chết và bà đang khóc cho ông ta. Hoặc có khi đó là người em trai của bà. Không thể là con trai được, vì trái với phần lớn những người đàn bà luống tuổi đang ở trong căn hầm này, nhìn bà ấy còn quá trẻ để có một người con trai đang chiến đấu ngoài mặt trận.
Bà rất hay nhìn tôi, thử mỉm cười với tôi, nhưng bà không làm được, những giọt nước mắt rơi xuống nhiều hơn. Tôi không biết tại sao bà ấy lại nhìn tôi như vậy. Điều đó làm tôi nhớ tới thời kì mà những người đàn bà đều ngây ngất trước vẻ mặt thiên thần của tôi. Nhưng thời đó đã qua rồi! Tôi chẳng còn khuôn mặt thiên thần nữa. Tôi chỉ còn bộ mặt lem luốc, vàng vọt và mệt mỏi. Nhiều lúc tôi cũng thích cảm giác ánh mắt của bà ấy nhìn tôi. Nó làm tôi thấy ấm áp. Nhưng thường thì nó làm tôi thấy khó xử. Được cái là bà ấy cũng không cố ý nhìn lâu mà thường quay về ngắm tấm ảnh của mình.
Khi những người đàn bà luống tuổi tìm cách bắt chuyện với bà, bà thường né tránh một cách lịch sự. Bà chỉ trả lời bằng có hoặc không. Rốt cuộc những người kia cũng hiểu ra rằng tốt hơn cả là thôi làm phiền và để bà ấy một mình.
Khi quay lại căn hộ chúng tôi bắt tay vào phân chia công việc. Manfred nhận công việc dọn dẹp. Chúng tôi đã nói với cậu ta rằng điều đó thật là nực cười bởi vì lớp bụi bặm mà cậu ta vừa lau đi sẽ xuất hiện trở lại ngay lập tức, nhưng không ăn thua. Thôi được, nếu cậu ta muốn làm "người đàn ông trên đống đổ nát" thì kệ cậu ta. Cậu ta cũng giặt mớ quần áo bẩn của chúng tôi khi nước máy không bị cắt. Lukas đã đốt bộ đồng phục Napola của mình trong chiếc lò sưởi dùng than. Hôm đó trông anh ta thật hân hoan. Anh ta nhảy múa quanh ngọn lửa và hô vang: "Cháy đi, đồ khốn! Cháy ra tro đi!"
Anh ta mặc một cái quần dài, một chiếc áo len dài tay và một chiếc áo so-mi, những thứ chưa bị đánh cắp trong đống đồ đạc mà cha của Manfred để lại. Chúng rộng thùng thình. Dù sao đi nữa, kể cả khi chúng vừa với Lukas thì tôi vẫn thấy anh ta mặc thường phục nhìn không được đẹp cho lắm. Nhìn chung là anh ta không còn đẹp trai. Tôi nghĩ đó là do tuổi dậy thì. Nét mặt anh ta không còn vẻ thanh tú trước đây, mũi hơi bèn bẹt, đôi môi cũng vậy, quai hàm bạnh ra. Bởi anh ta không thể cạo râu nên râu ria mọc lởm chỏm tạo thành những vết sẫm màu trên má và môi trên. Trán anh ta còn có mấy cái mụn. Theo tôi, nếu như bây giờ phải trải qua một cuộc xét tuyển thì anh ta sẽ bị trượt. Và tất cả những cư dân dưới hầm đều sẽ trượt, trừ người đàn bà tóc vàng cao cao.
Tôi không có quần áo để thay, quần áo của Manfred thì quá chật đối với tôi. Cậu ta đã giặt bộ đồng phục của tôi và vá những lỗ thủng lại nên nhìn cũng tàm tạm. Chỉ còn lũ chấy là đang hành hạ tôi.
Manfred tự xoay xở để nấu ăn và làm việc này khá tốt. Cậu ta biết cách biến những củ khoai tây ung ủng trở nên thơm ngon bằng nhiều cách khác nhau tuỳ vào những thứ cậu ta có trong tay. Cậu ta quấy cháo bột mì hạt hay nấu món súp củ cải đường. Khi nhìn thấy cậu ta với cái giẻ quấn quanh hông thay cho tạp dề, vừa nấu ăn vừa nghêu ngao hát, tôi tự nhủ hẳn cậu ta đã phải rất khổ sở khi ở Napola.
Còn Lukas và tôi thì có nhiệm vụ đi kiếm thức ăn.
Đây là cả một quá trình, cần tới chiến thuật thực sự. Đầu tiên phải lắng nghe những người hàng xóm nói chuyện với nhau trong hầm vào ban đêm. Họ thì thầm rất nhỏ để không bị nghe thấy. Ví dụ như một số người biết tin một cửa hàng hay nhà kho nào đó bị bỏ hoang. Thế là, ngay từ mờ sáng, thay vì trở về căn hộ, Lukas và tôi chạy như bay tới chỗ đó, bởi vì quy tắc là ai tới trước lấy trước. Nếu địa điểm không quá xa thì chúng tôi chạy bộ tới. Những năm tháng rèn luyện ở Napola giúp ích chúng tôi rất nhiều, chúng tôi chạy nhanh hơn những người dân Berlin. Và chúng tôi còn biết đánh nhau, bởi vì lúc này không có chỗ cho sự lịch thiệp nữa. Mọi người choảng nhau chí tử để giành giật thức ăn. Nếu cửa hàng ở quá xa thì chúng tôi đi tàu điện. Đúng ra là phải có tấm thẻ đặc biệt để được lên tàu, phần lớn những người dân Berlin khá kỉ luật, họ không đi tàu nếu không có thẻ. Nhưng chúng tôi thì phớt lờ điều đó. Không có thẻ thì sao nào? Làm như nhân viên soát vé còn nguy hiểm hơn một quả đạn pháo hay khoản tiền phạt còn gây chết chóc hơn một quả bom không bằng.
Khi chúng tôi không hóng được gì từ những người hàng xóm trong hầm thì Lukas dậy từ rất sớm để đi kiếm thông tin. Anh ta rình rập, nghe ngóng, theo dõi. Nếu có ai đó đang chạy thì có nghĩa là người đó có manh mối, chỉ cần đi theo họ là được. Nhờ thế mà một hôm anh ta lén nghe được chuyện có một toa tàu hoả của Không quân bị bỏ lại với cơ man thực phẩm bên trong. Lukas đã đem về nào là đồ hộp, nào là cà phê - cà phê xịn chứ không phải phế phẩm cà phê đâu nhé - những chai rượu, thậm chí vài ổ bánh mì và kẹo sô-cô-la. Anh ta trở về với bộ mặt sưng húp như vừa tham gia một trận thi đấu quyền Anh, nhưng anh ta sung sướng và tự hào về mình. Kể cũng đúng.
Hôm đó là một đại tiệc. Chúng tôi phải tự đặt ra quy định để không chén một lần hết sạch tất cả mọi thứ. Chúng tôi cất bớt một phần đồ hộp đi và tôi xách những chai rượu đi đổi lấy bơ thực vật và khoai tây. Đổi chác là nhiệm vụ của tôi.
Buổi tối khi còi báo động vang lên, chúng tôi cất các báu vật của mình vào một cái va-li rồi cùng chạy xuống hầm. Lukas ngồi lên chiếc va-li để người ta khỏi lấy cắp nó. Nhưng tôi không yên tâm nên luôn để mắt theo dõi. Hễ muốn tán tỉnh Ute là Lukas lại đưa cho người mẹ mập ú của chị ta một ít kẹo sô-cô-la...
Tôi phải thừa nhận là đôi khi tôi cũng muốn cho người đàn bà cao cao với mái tóc vàng kia một thứ gì đó. Bà ấy mới gầy làm sao. Rõ ràng là bà ấy không màng tới đồ ăn thức uống, bà ấy thờ ơ, để mặc cho thân tàn ma dại vì đói hay vì điều gì đó khác.
Một hôm Lukas cải trang thành đàn bà. Anh ta mặc một chiếc váy vốn thuộc về mẹ của Manfred (một chiếc váy hoa mùa hè chưa bị đánh cắp.) Anh ta vo hai cục giấy lại để làm đôi vú giả và trang điểm đôi mắt bằng một mẩu than. Anh ta buộc túm mái tóc lại thành búi trên đầu - anh ta có mái tóc dài, tóc chúng tôi giờ ai cũng dài cả. Tôi thấy anh ta nhìn rất buồn cười. Nhưng Manfred thì ngược lại, không hề thích thú với trò đùa này. Cậu ta oà lên khóc khi thấy gã thanh niên thô kệch đang mặc cái váy của mẹ mình. Cậu ta yêu cầu Lukas cởi nó ra ngay lập tức. Thế nhưng chưa kịp thay thì còi báo động rú lên và chúng tôi chạy ù xuống hầm.
Trong bóng tối, lão già Hauptman tưởng Lukas là một cô gái mới tới và đưa tay bóp mông anh ta.
Giữa những chuyến đi săn lùng thực phẩm và những giấc ngủ trưa dài để lấy lại sức sau những đêm không ngủ ở trong căn hầm, thời gian trôi qua một cách lạ lùng. Chúng tôi không có cách nào đo đếm được nó. Có điều chúng tôi biết là nó trôi qua nhanh, rất nhanh.
Tuy nhiên chúng tôi không tự đặt ra những câu hỏi về ngày mai.
Trên phố Reichsstrasse cũng như nhiều khu phố khác của Berlin, sự lộn xộn ngày càng gia tăng. Hàng trăm cỗ xe chạy về hướng Tây, trên đường đi chúng thường xuyên bị chắn đường bởi những cỗ xe ngựa chở đầy người đi di tản được phủ bạt kín mít, hay bị những chiếc máy bay chiến đấu-ném bom Xô-viết bắn thủng lỗ chỗ.
Còn trong căn hầm thì có một câu nói được truyền tai nhau. Càng ngày chúng tôi càng nghe thấy câu nói đó thường xuyên hơn.
Der Ivan kommt! 51