Bằng cách nào?
Câu hỏi này cứ bám lấy tôi.
Làm thế nào mà anh ta thích nghi được, Lukas ấy, khi mà...
Trong giờ học sáng hôm nay, chúng tôi hơi hồi hộp vì giáo viên dạy môn tiếng Đức mới là một sĩ quan mới trở về sau chín tháng ngoài mặt trận. (Giáo viên cũ đã dạy chúng tôi từ đầu năm học lại lên đường ra trận.) Ông ta trang trọng bước vào và chào cả lớp. Trong bộ quân phục chỉnh tề của mình, nhìn ông ta không còn chút dấu vết nào của các cuộc giao chiến khốc liệt đã làm ông ta kiệt sức, có chăng là ông ta hơi gầy đi vì cổ áo và chỗ thắt lưng của bộ quân phục có vẻ như rộng ra. Hài lòng vì được trở về trường Napola quen thuộc, trong lần đứng lớp đầu tiên, ông ta không muốn bắt đầu bằng việc giảng cho chúng tôi về ngữ pháp hay bắt chúng tôi cắm cúi tìm hiểu một bài văn. Ông cho biết mình rất hài lòng về bảng điểm mà người tiền nhiệm trao lại, nên ông ta muốn thưởng cho các cố gắng của chúng tôi với việc bắt đầu buổi học bằng tiết mục giải trí. Chúng tôi có thể gấp sách vở lại, chúng tôi không học mà sẽ hát. Ông ta phát cho chúng tôi những tờ giấy trên đó có ghi lời của bài hát mà ông ta chọn. Chính tay ông ta đã viết phiên khúc của bài hát lên bảng đen bằng nét chữ Gothic rất đẹp của mình.
Những người Do Thái vượt qua biển lớn và khô ráo,42
Những con sóng ập lên đầu họ,
Thế giới yên bình và cùng cất lên lời cầu nguyện.
Làm thế nào mà anh ta thích nghi được, Lukas ấy, khi mà...
Chúng tôi có giờ học dạy cách sử dụng dao. Tấm bia để chúng tôi luyện tập không phải là cái đĩa với một loạt các hình tròn đồng tâm. Giáo viên đã cho làm một tấm bia đặc biệt dành riêng cho nhóm của chúng tôi nhằm tạo cảm hứng và để chúng tôi có trò tiêu khiển. Đó là một hình người với kích thước y như thật, hình một người Do Thái. Một lão già Do Thái với cái mũi khoằm, trên người khoác một bộ quần áo đen đúa và hôi hám, các móng tay dài khoằm nhìn như những cái móng vuốt. Bụng lão méo mó và quả tim được thay bằng một đồng tiền vàng to. Lẽ dĩ nhiên là chúng tôi phải nhắm vào đồng tiền vàng đó để ghi điểm.
Giáo viên đặt cái bia cách chỗ chúng tôi đứng khoảng mười mét và buổi tập phi dao bắt đầu. Chúng tôi lần lượt từng người một phi những con dao về phía tấm bia. Sau khi tất cả mọi người đã phi dao xong, chúng tôi tập hợp lại để đánh giá kết quả. Lão Do Thái bị dao găm trúng vào hai mắt, một bên tai, môi phía trên bị cứa đứt còn chiếc mũ thì bị xé toang thành nhiều mảnh. Không tồi chút nào. Tuy vậy có những con dao được ném ra bởi những bàn tay còn vụng về nên chúng chỉ trúng vào bụng, chân hay các ngón tay. Không có bất cứ mũi dao nào trúng vào đồng tiền vàng. Kết quả chung cuộc được giáo viên đánh giá là chưa đạt và ông ta doạ sẽ phạt tập thể chúng tôi nếu như lần thứ hai không khá hơn. Để động viên chúng tôi, ông ta yêu cầu chúng tôi đồng thanh hô to một trong những khẩu hiệu của Napola:
Chỉ khi nào máu người Do Thái nhuốm đỏ lưỡi dao thì chúng ta mới thực sự hạnh phúc! Chúng ta sẽ tiếp tục tiến tới, chúng ta sẽ cho nổ tung tất cả. Hôm nay nước Đức thuộc về chúng ta, ngày mai chúng ta sẽ làm bá chủ cả thế giới!
Chúng tôi hô vang các câu đó một lần, hai, ba, mười, một trăm lần. To hơn! Vang hơn nữa! Cho tới khi giọng chúng tôi khản đặc, cho tới khi cổ họng chúng tôi đau rát. Rồi rất nhanh, đúng vào lúc đó, khi mà dư âm của những tiếng hô vẫn còn vang vọng trong không khí, chúng tôi ngắm và phóng vút con dao đi.
Hoan hô! Phần lớn các con dao đều găm trúng đồng tiền vàng. Khi chúng tôi rút các con dao ra khỏi tấm bia, ở chỗ quả tim chỉ còn là một cái lỗ to trống hoác.
Làm thế nào mà anh ta thích nghi được, Lukas ấy, khi mà...
Tất cả chúng tôi tập trung tại phòng ăn. Đứng lên, nghiêm. Bữa ăn đã được dọn ra nhưng chúng tôi chưa được phép ngồi xuống để đánh chén. Hôm nay, các đội trưởng được miễn việc đọc trích đoạn sách, đích thân hiệu trưởng sẽ làm việc này. Đó là một thông lệ cứ nửa tháng lại diễn ra một lần.
Nhà ăn tập thể là một trong những phòng đẹp nhất của trường. Căn phòng rộng mênh mông này có thể đón tiếp cùng lúc toàn bộ học sinh. Việc trang trí ở đây được làm vô cùng tỉ mỉ: Trên các bức tường là những bức tranh tái hiện cuộc chiến đấu của các anh hùng Viking cùng các cảnh trong thần thoại Đức. Phía trên đầu chúng tôi, trần nhà rất cao - dễ phải hơn năm mét - được trang trí bằng muôn vàn chữ thập ngoặc được gắn rải rác như những vì sao đang nhấp nháy trên bầu trời. Thầy hiệu trưởng dùng thang trèo lên một cái ban công nhỏ bằng gỗ được dựng ở độ cao lưng chừng của căn phòng, tựa như một linh mục trèo lên bục để giảng đạo. Hôm nay không có giảng đạo mà là đọc qua loa phóng thanh một trích đoạn từ cuốn Mein Kampf, 43 một tác phẩm của Quốc trưởng. Việc đọc này phải được thực hiện trong sự tôn kính, im lặng hoàn toàn. Ánh mắt chúng tôi phải dõi về phía thầy hiệu trưởng, dù thế nào cũng không được nhìn đi nơi khác hay cụp mắt xuống. Không được hắng giọng, không được ho, ngáp lại càng không được phép, những hành động đó được xem như vô lễ và sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc.
"Người Do Thái là những kí sinh trùng sống ăn bám trên cơ thể các dân tộc khắc. Nếu đôi khi chúng rời khỏi nơi đang sinh sống, thì điểu đó không phải do chúng tự nguyện, mà vì chúng từng nhiều lần bị đuổi đi bởi những người đã chán ngấy cảnh lòng hiếu khách của mình bị lợi dụng."
Thầy hiệu trưởng rời mắt khỏi trang sách và nhìn khắp lượt cử toạ. Điều đó có nghĩa là chúng tôi phải vỗ tay hoan hô.
"Tập quán tha hương tìm nơi cư ngụ của người Do Thái là nét đặc trưng của loài kí sinh trùng. Chúng luôn tìm cách sinh sôi nảy nở tại một vùng đất màu mỡ mới. Người Do Thái không hề có ý định rời khỏi nơi chúng đang sống. Chúng ở lì tại nơi mà chúng đã chọn và bám trụ ở đó dai đến nỗi người ta phải rất vất vả mới tống khứ được chúng đi, kể cả khi phải dùng đến vũ lực. Chúng chính là loài kí sinh trùng điển hình, loài ăn bám luôn lan ra rộng như một thứ vi trùng gây bệnh. Hậu quả từ sự có mặt của chúng cũng giống như ở cắc loài cây kí sinh: ở đâu có mặt chúng thì ở đó những người đã cưu mang chúng chẳng chóng thì chầy sẽ bị khai tử."
Lần này thì một tràng vỗ tay vang lên mà không cần vị hiệu trưởng phải ra hiệu. Chính các học viên lớn tuổi nhất đã vỗ tay trước tiên để làm gương. Trong nhóm những đứa ít tuổi thì nhiều đứa không hiểu hết, nhiều từ ngữ còn mới lạ đối với chúng. "Kí sinh trùng", "vi trùng" nghĩa là gì? Tuy thế chúng cũng a dua theo và vỗ tay rần rần. Thầy hiệu trưởng đón nhận sự hào hứng này bằng một nụ cười, rồi ông ta giơ tay yêu cầu im lặng trước khi tiếp tục:
"Như vậy, người Do Thái luôn sống tại các quốc gia của những dân tộc khác; chúng thành lập quốc gia riêng của mình dưới hình thức một cộng đồng tôn giáo khi mà hoàn cảnh không cho phép) chúng thể hiện bản chất thực của mình. Nhưng một khi chúng thấy đủ chắc chắn rằng việc nguy trang này không còn cần thiết, chúng lập tức hiện nguyên hình là thứ mà trước đó không ai muốn thấy hay muốn tin: Người Do Thái."
Một tràng vỗ tay nữa lại vang lên. Không khí trong phòng náo nhiệt đến nỗi những tiếng đôm đốp đó vang dội như một trận bom.
"Chúc ngon miệng!" Thầy hiệu trưởng kết thúc.
Nghỉ. Giờ thì chúng tôi có thể ngồi xuống và ăn.
Thực đơn hôm nay gồm có súp rau, bánh mì, pho mát rưới mật ong nhân tạo, trà. Tôi nhúng cái thìa vào bát súp, hiện giờ súp đã lạnh ngắt. Tôi không rõ món súp này nấu bằng những loại rau gì bởi vì tất cả đã được đập giập, nghiền nhỏ, nấu nhừ với rất nhiều nước. Tuy nhiên tôi nhận thấy rằng một vài hạt đậu đã may mắn thoát khỏi cuộc tàn sát và đang nổi lên theo chuyển động của chiếc thìa.
Tôi không đói. Tôi không còn đói nữa. Lúc nãy, trước khi thầy hiệu trưởng đọc trích đoạn tác phẩm, tôi thấy đói cồn cào ruột gan, tưởng như tôi có thể ngấu nghiến tất cả các khẩu phần ăn ở trên bàn. Bụng tôi sôi ùng ục to đến nỗi tôi còn sợ người ta nghe thấy, thật là bẽ mặt.
Giờ thì bát súp đã nguội tanh nguội ngắt.
Thật đáng ghê sợ, cái thứ súp nguội này.
Rồi thì... rồi thì, những câu nói của thầy hiệu trưởng cứ lởn vởn trong đầu tôi, giống những hạt đậu lềnh phềnh trong bát súp.
Kí sinh trùng. Vi trùng.
Tôi vốn thông minh hơn các bạn cùng lứa, nên tôi biết các từ đó nghĩa là gì. Kí sinh trùng là những vi sinh vật, những con vật ghê tởm nhỏ li ti lọt vào cơ thể bạn và làm bạn bị bệnh. "Vi trùng", cũng là những con đó thôi, người ta gọi đó là từ đồng nghĩa. Mà này! Tôi còn có thể tìm ra một từ đồng nghĩa nữa: "vi khuẩn". Còn về từ "kẻ ăn bám", đó là kẻ tới lấy mất đồ ăn trong cái đĩa của bạn, hậu quả là nó làm cho bạn chẳng còn gì để ăn, làm cho bạn đói meo và ốm yếu. Điều duy nhất tôi không rõ: Hình dạng vi trùng - kí sinh trùng - vi khuẩn. Liệu nó có giống như những hạt đậu trong bát súp của tôi không nhỉ?
Tôi bắt đầu thấy đau bụng. (Lâu lắm rồi mới lại bị!) Như thể có một con vi trùng-kí sinh trùng-vi khuẩn đang bắt đầu gặm nhấm ruột của tôi.
Những câu nói của thầy hiệu trưởng cứ lặp đi lặp lại. Người Do Thái là những con vi trùng - kí sinh trùng - vi khuẩn. Chứng lây nhiễm cho tất cả, chúng làm bạn đổ bệnh.
Tôi khuấy. Tôi khoắng bát súp bằng một cử chỉ máy móc, lặp đi lặp lại. Tôi cứ nghĩ tới chúng và tin rằng những con kí sinh trùng có hình dạng giống như hạt đậu. Người Do Thái là những kí sinh trùng. Những hạt đậu đã làm nhiễm bẩn bát súp của tôi. Có người Do Thái trong bát súp của tôi. Hằng hà sa số người Do Thái nhỏ li ti đang nhăn nhó hay cười nhạo. Trong số họ có Lukas... Lukas, hạt đậu - theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng - giấu tiệt việc anh ta là người Do Thái, cố gắng lấy lòng cấp trên của mình cùng với hai thằng bạn chết dẫm của anh ta... Vâng, tôi thấy anh ta, hệt như một con quỷ nhỏ đang lặn ngụp trong bát chất lỏng mỗi khi bị cái lưng thìa dìm xuống, để rồi lại nổi lên ngay.
Không tài nào ăn được món súp với những Lukas nhung nhúc ở trong đó, tôi đưa khẩu phần của tôi cho đứa bạn ngồi cạnh.
Tôi ngẩng đầu lên và đưa mắt kiếm Lukas. Con người bằng xương bằng thịt chứ không phải mấy hạt đậu nổi lềnh phềnh trong bát súp. Anh ta có ăn nổi không nhỉ? Lúc nãy anh ta có vỗ tay không? Liệu anh ta có đưa ra nhận xét về sự "lây nhiễm Do Thái" với Gunter và Herman sau khi nghe thầy hiệu trưởng đọc?
Tôi chịu không nhận ra anh ta giữa vô vàn những mái tóc vàng đang cúi xuống các đĩa thức ăn. Nhà ăn quá rộng, có lẽ muốn nhìn tôi sẽ phải đứng lên, nhưng mà điều này lại bị cấm.
Làm thế nào mà anh ta thích nghi được, Lukas ấy, khi mà...
Trong giờ lịch sử, giáo viên nêu ra cho chúng tôi thấy những bất cập của hiệp ước Versailles mà Quốc trưởng của chúng tôi đã từng chỉ trích. Ông ta giải thích cho chúng tôi rằng người Ba Lan đã được người Do Thái giúp đỡ để tấn công nước Đức Quốc Xã vào tháng Chín năm 1939. (Tôi mới lên ba tuổi vào năm 1939, khi đó tôi vẫn còn đang ở Steinhöring. Chẳng phải khi đó ở Heim chúng tôi đã từng ăn mừng cuộc tấn công của nước Đức đó sao? Rồi ở Poznan cũng vậy...) Người giáo viên tiếp tục phân tích chiến thắng chớp nhoáng của quân đội và chứng minh cho chúng tôi thấy sự cần thiết của việc bắt những người Ba Lan hạ đẳng phải chịu khuất phục.
Thế còn trong lớp của Lukas thì sao? Liệu Lukas có ghi chép không? Liệu anh ta có kịp ghi lại những câu mà giáo viên đọc không? Khi anh ta phải làm bài tập tại bàn với hai đứa óc bã đậu ngồi hai bên thường chép bài của mình, liệu anh ta có phát triển thêm lí thuyết của giáo viên với một bài hùng biện trôi chảy không?
Và trong giờ giáo dục chính trị thì sao? Khi người ta nhồi sọ chúng tôi rằng chúng tôi là thành phần ưu tú, rằng ngày mai chúng tôi sẽ cai quản đất nước bằng cách đảm đương những chức vụ cao quý nhất.
Tôi không rõ Lukas xoay xở thế nào, tôi vẫn chưa có dịp nói chuyện riêng vói anh ta. Nhưng tôi nghiền ngẫm, và trí tưởng tượng của tôi trỗi dậy. Giống y như những hạt đậu trong bát súp. Lukas có vẻ như hoà nhập vào Napola tốt đến nỗi mà sau khi học xong, sau nhiều tháng, nhiều năm nữa, anh ta có thể sẽ trở thành bộ trưởng trong chính phủ? Rồi sau đó sẽ là người kế nhiệm của Quốc trưởng chăng? Lúc đó anh ta sẽ làm gì? Liệu anh ta có giữ kín việc anh ta là người Do Thái hay không? Phải chăng sẽ có ai đó phát hiện ra và tố giác tôi vì tội không tố giác? Hay là trong một giả thiết khác, Lukas lúc đó nắm toàn quyền trong tay và anh ta sẽ trả thù bằng cách tống tất cả dân Đức vào trại tập trung?
Đầu óc tôi quay cuồng, tôi xin phép được ra ngoài lúc đang trong giờ giáo dục chính trị. Giáo viên đồng ý cho tôi đi bởi tôi là một học sinh giỏi, tuy nhiên ông ta cũng không quên nhắc nhở rằng không được tái diễn chuyện này. Khi tôi chạy như bay ra khỏi phòng như thể sắp vãi hết ra quần, cả lớp tôi đều cười nhạo.
Làm thế nào mà anh ta thích nghi được, Lukas ấy, khi mà...
Trong lịch ở đây chỉ có những ngày lễ ca tụng chủ nghĩa Quốc Xã. Ngoại trừ lễ Giáng sinh ra thì chúng tôi không ăn mừng bất cứ ngày lễ Cơ đốc giáo nào khác.
Hôm nay là 29 tháng Một. Ngày mai, 30 tháng Một là một ngày lễ của chúng tôi, ghi nhớ ngày Quốc trưởng lên nắm quyền vào năm 1933. Bởi chúng tôi không phải lên lớp vào ngày mai nên chúng tôi được đi ngủ muộn hơn, và để buổi tối thêm sôi động, đem lại một không khí đặc biệt, các giáo viên đề xuất một buổi đốt sách. Nói cách khác, đó là một lễ hội.
Suốt ngày hôm đó, lũ bạn của tôi chỉ nói về việc này, chúng nóng lòng chờ đến tối. Với một số đứa, thì đây không phải là lần đầu tiên, chúng từng tham dự đốt sách ở thành phố nơi chúng sinh sống. Đối với những đứa khác, như tôi chẳng hạn, thì đây là một việc hoàn toàn mới mẻ. Các hoạt động thể thao buổi chiều được thay thế bằng việc bốc xuống từ các xe tải những quyển sách sẽ được đem đốt. Sách tới từ khắp nơi, các thư viện, nhà dân, từ nước Đức hay các nước đang bị chiếm đóng. Chúng tôi xếp thành hàng dài để chuyển các thùng các-tông từ trên xe cho tới giữa sân. Nặng ra phết! Cơ bắp của chúng tôi làm việc hết công suất. Tất cả chúng tôi đều cởi trần mặc cho nhiệt độ xuống dưới không, sự cố gắng trong công việc làm chúng tôi quên đi giá rét. Không khí rất thoải mái, chúng tôi được phép nói chuyện và bông đùa với nhau.
"Các quyển sách chết tiệt do bọn Do Thái vô lại viết ra!"
"Bertolt Brecht, Sigmund Freud, Heinrich Mann, Karl Marx, Steían Zweig! Toàn những tên người Đức của chúng ta! Ấy thế mà lại không phải đâu nhé!"
"Quốc trưởng đã có lí, bọn kí sinh trùng Do Thái ẩn mình rất khéo!"
Buổi chiều vui vẻ lại càng thêm dễ chịu khi người ta phát cho chúng tôi trà và một lát bánh mì. Bình thường thì các hoạt động thể thao vào buổi chiều không bao giờ được kèm theo một bữa lót dạ. Sau khi nghỉ ngơi một lát, chúng tôi khênh các thùng các-tông và đổ những thứ bên trong ra giữa sân, y như đổ rác. Mà đúng là toàn rác, những thứ đồ bỏ đi. Chính vì thế nên mới phải đốt chúng! Thật thú vị khi thấy các quyển sách xổ tung ra khi bị đổ xuống đất. Thật thú vị khi nhảy lên những quyển sách đang chất thành đống để dẫm lên chúng, làm chúng trở nên méo mó, giật tung các bìa sách, xé toạc các trang sách, vo chúng lại thành một cục rồi ném nhau như chơi đánh trận giả bằng tuyết. Thậm chí có những đứa còn ngồi xổm làm động tác chùi đít với các trang sách. "Mềm mại quá! Như là vuốt ve ấy!" Điệu bộ của chúng làm cả bọn lăn ra cười. Đó là một buổi chiều thật dễ chịu tràn ngập niềm vui và những tiếng cười.
Tới giờ đã định, chúng tôi gồm tất cả giáo viên và học sinh cùng tập trung lại. Mọi người đều đã tắm rửa kì cọ sạch sẽ thơm tho và mặc đồng phục chỉnh tề. Các đội trưởng đứng cách hai bước ở đầu hàng, tay cầm lá cờ của Đế chế. Chúng tôi đứng xung quanh cái kim tự tháp được hình thành từ đống sách xếp chồng lên nhau, cánh tay phải giơ cao thẳng tắp. Bốn học viên lớn được chọn để tưới xăng đựng trong các bi-đông lớn lên đống sách. Rồi lần lượt từng người trong số họ quẹt một que diêm và ném vào đó. Lửa bắt đầu bén lên từ chân kim tự tháp. Chúng tôi cất tiếng hát cổ vũ cho ngọn lửa. Những bài hát ca ngợi Quốc trưởng, ca ngợi Đế chế cùng nghìn năm trị vì được giải thoát khỏi Do Thái giáo và chủ nghĩa Bolshevik. Ban đầu lửa cháy rất chậm, một vài ngọn lửa yếu ớt bập bùng xung quanh chân cái kim tự tháp bằng giấy, cách xa phần đỉnh tựa như đang nói với chúng bằng giọng giễu cợt: "Tớ ở trên này cơ! Cao lắm đấy! Các cậu chẳng bao giờ với tới được tớ đâu! Tớ đại diện cho nhiều thế kỉ của tri thức và sự uyên bác! Không dễ gì mà huỷ diệt chỉ trong phút chốc đâu nhé!"
Nhưng chúng tôi hát càng lúc càng to, tiếng giày nện trên sân đánh nhịp cho bài hát. Chúng tôi đi như nhảy múa vòng quanh đống lửa. Và như thể được kêu gọi bởi những câu thần chú của chúng tôi, một cơn gió ùa tới thổi phần phật làm ngọn lửa bùng lên mạnh mẽ. Lửa cháy lên cao, cao nữa! Bìa các quyển sách chuyển dần sang màu đen, quắt lại, cong vênh lên, các trang giấy bắt đầu bén lửa. Ngọn lửa nổ lép bép, chẳng mấy chốc đã cao lên tới tầng hai của toà nhà cạnh cái sân nơi chúng tôi đang đứng. Các ô cửa kính phản chiếu ánh lửa tạo thành muôn vàn nguồn sáng. Trời tối đen nhưng chúng tôi nhìn mọi thứ rõ như ban ngày. Nhiệt độ ngoài trời rất lạnh nhưng đống lửa sưởi ấm cho tất cả chúng tôi.
Tôi cũng hát và đi vòng quanh đống lửa. Và một lần nữa tôi đưa mắt tìm Lukas đằng sau ngọn lửa ấy. Để xem anh ta hát thế nào, múa thế nào... Tôi rất muốn biết liệu anh ta có còn nhớ những lời anh ta kể với tôi về cha mẹ mình lúc ở trong bệnh xá Kalish không. Khi kể chuyện mẹ mình có một hiệu sách, anh ta đã nói: "Này! Đầu lâu! Mày có biết những cuốn sách là để làm gì không? Chúng là để đọc chứ không phải để đốt đi, như lũ đồng đảng của mày vừa làm vừa hú hét lên như một bầy mọi rợ."
Tôi hát, tôi rú lên giống lũ bạn của mình, một lũ mọi rợ. Nhung điều đó không ngăn được tôi suy nghĩ, thả lỏng trí tưởng tượng của mình. Sau những hạt đậu Do Thái trong bát súp, sau cảnh Lukas thành Quốc trưởng, trí tưởng tượng vẽ ra cho tôi không chỉ một kim tự tháp bằng sách bình thường mà là cả một hiệu sách, hiệu sách của mẹ Lukas. Và mẹ anh ta ở trong đó, đang bị lửa thiêu sống. Không khí ngột ngạt mùi khói, mùi giấy, mùi da, mùi thịt cháy khét lẹt.
Tôi cảm thấy buồn nôn.
Mà Lukas đâu nhỉ? Thỉnh thoảng tôi thoáng nhìn thấy anh ta qua những ngọn lửa, đang hoà mình vào nhóm những học sinh lớp trên. Dĩ nhiên là anh ta đứng giữa Gunter và Herman, hai thằng ngốc đó là những kẻ gào to nhất và chạy quanh đống lửa hăng hái hơn tất cả những người khác. Tôi thấy hình như họ đang say, có lẽ họ đã uống rượu trắng - nhiều đứa lớn vẫn xoay xở để kiếm rượu trắng một cách lén lút. Hơi nóng và cơn chóng mặt làm tôi hình dung ra cảnh hai người bọn họ nhảy vào giữa đống lửa để làm cho cảnh tượng thêm hoành tráng, để chứng minh sự liều lĩnh táo bạo của bản thân. Và họ kéo theo Lukas cùng với mình.
Làm thế nào mà anh ta thích nghi được, Lukas ấy, khi mà...
Giờ sinh vật học.
Đó là một trong những môn học ưa thích của chúng tôi. Tại sao? Bởi vì căn phòng dành cho các buổi học này được trang trí rất vui nhộn. Chính chúng tôi đã trang trí nó. Chúng tôi thêm các bức tranh của chúng tôi vào cùng với tranh của giáo viên dạy vẽ, người thường xuyên cộng tác với giáo viên dạy môn sinh vật học. Các bức hoạ của chúng tôi là những bài thực hành để minh hoạ cho đầu đề của các buổi học: "Các nét tiêu biểu và đặc trưng của người Do Thái".
Hồi đầu năm học thì các tác phẩm của chúng tôi vẫn chưa được dùng để trang trí các bức tường. Lúc đó mới chỉ có ảnh chân dung những người Do Thái (những người thật), chụp thẳng và chụp ngang. Chúng tôi phải tìm hiểu các bức ảnh đó. Trước tiên là chúng tôi phải đưa ra những lời bình luận một cách thẳng thắn, không đắn đo, không nhất thiết phải dùng những từ ngữ chừng mực hay áp dụng một văn phong nhã nhặn. Ví dụ như:
"Sao lại có thể gớm ghiếc đến thế được cơ chứ!"
"Đích thị là ảnh chụp một thằng bù nhìn!"
"Đúng! Đặt trên một cánh đồng để đuổi quạ, điều đó sẽ có ích đấy!"
"May là những bức ảnh không toả ra mùi gì!"
"Nếu không thì hẳn là thối inh lên ấy!"
Thật thú vị khi nói toẹt ra tất cả những gì chúng tôi nghĩ trong đầu. Nhưng chỉ được một lát thôi, giáo viên đã can thiệp bởi xu hướng có vẻ ngày càng quá đà. Qua phần vui đùa giờ tới phần khoa học. Chúng tôi phải nghiên cứu thật kĩ các bức ảnh bằng cách đo chiều dài của mũi, của hai tai, chiều cao của trán, độ dày của môi, khoảng cách giữa hai mắt. Phải tìm ra các từ ngữ chuẩn xác để đánh giá màu mắt và màu tóc. Chúng tôi phải điền các kết quả vào một bảng và so sánh nó với bảng mẫu trên đó ghi các số đo của chủng người Aryan. Thật dễ như trò trẻ con. Các con số đều trái ngược. Còn về màu mắt và màu tóc thì chẳng cần phải vắt óc suy nghĩ: màu đen. Và đen. Cả lớp hoàn thành bài kiểm tra đầu tiên này một cách xuất sắc.
Tiếp theo giáo viên treo một bức kí hoạ lên tường, nhan đề của nó là: Người Do Thái lang bạt. Trong đó vẽ một lão già lưng còng, quắt queo, teo tóp, khuôn mặt gầy tọp nhăn nheo như một quả táo héo, lão đang chống gậy, vẻ mặt nhăn nhó. Lão mặc một bộ quần áo nhàu nhĩ và đeo một cái bọc bẩn thỉu trên lưng. Bên dưới bức tranh là dòng chú thích: "Chúng đã tới từ phương Đông như thế..." Giáo viên nhấn mạnh ở các dấu chấm lửng. Chúng có nghĩa là gì? Chúng tôi phải tìm cho ra điều đó. Bài tập cho tiết học sau của chúng tôi là hình dung ra sự thay đổi của người Do Thái một khi hắn đã định cư tại Đức hay một quốc gia châu Âu khác. Chúng tôi có hai lựa chọn cho bài tập này: Hoặc là vẽ một bức tranh, hoặc là làm một bài tập làm văn.
Tôi không thích các bài tập làm văn.
Tôi cũng chẳng hứng thú gì với việc vẽ tranh.
Cắn bút và suy tư trước một trang giấy trắng không phải là điều tôi muốn. Mơ màng về phong cảnh hay trong trường hợp này, một bộ mặt, một hình dáng để phác hoạ nó lên giấy thì lại càng không. Các nhà văn và hoạ sĩ là những kẻ trí thức và yếu đuối. Nhung dù sao, tôi vẫn phải rặn ra cái gì đó, nếu không sẽ bị phạt vì tội không làm bài tập. Vốn không phải người ngu độn, tôi thầm nghĩ rằng phần còn lại của bức kí hoạ hẳn đang nằm trong phòng đọc - ở đó, người ta để một chồng báo đưa tin về tình hình mặt trận để chúng tôi xem. Hầu như trong tất cả các tờ báo đều có những bức biếm hoạ về người Do Thái. Tôi chỉ cần tìm ra tờ báo mà phần đầu tiên của bức kí hoạ đã bị cắt ra. Nhưng tôi thất bại thảm hại. Hiển nhiên thôi. Giáo viên đã lường trước việc những đứa ma lanh như tôi sẽ tìm cách gian lận và cẩn thận lấy tờ báo đó ra khỏi kệ trước rồi.
Giá mà bài tập này được giao ngay sau khi thầy hiệu trưởng đọc trích đoạn sách tại nhà ăn thì tôi đã có thể vẽ một kí sinh trùng hình hạt đậu. Vẽ hạt đậu rất dễ, chỉ cần vẽ một hình bán nguyệt hơi lõm rồi thêm vào đó mái tóc cùng đôi mắt, thế là xong. Nhưng buổi học mà tôi kể với các bạn diễn ra trước hôm đọc sách... Vậy làm thế nào bây giờ? Quay cóp bài của một đứa bạn? Hay đấy, nhưng nguy hiểm. Quay cóp là một sự sỉ nhục (trái ngược với việc tố giác và theo dõi vốn được xem là những giá trị cơ bản). Sự trừng phạt rất nghiêm khắc, thậm chí có thể dẫn tới việc bị tịch thu con dao găm danh dự một cách công khai trước mặt toàn thể học sinh. Điều này không thể được, tôi muốn giữ con dao của mình.
Cuối cùng thì tôi cũng thoả thuận được với Manfred. Cậu ta xếp hạng bét về thể thao, sự liều lĩnh táo bạo của cậu ta chẳng hơn gì của một cha cố nhưng cậu ta là một nghệ sĩ, cậu ta rất mê vẽ, trí tưởng tượng của cậu ta vô cùng phong phú. Đối với cậu ta, thì vẽ thêm một bức tranh cho tôi không phải là việc gì to tát, trái lại thì đúng hơn. Đổi lại, trong trận quyền anh mà chúng tôi phải đương đầu nhau, tôi đã để cậu ta ghi điểm. Người huấn luyện viên rất ngạc nhiên, tuy thế ông ta không quở trách tôi mà chỉ nói:
"Có những lúc chúng ta có thể không được khoẻ, nhưng dù sao cũng phải cẩn thận, Konrad, cố gắng lên! Lần sau tôi sẽ không chấp nhận bất cứ thất bại nào đâu đấy!"
Ông ta nháy mắt thân thiện với tôi để an ủi. Tôi nghĩ là ông ta hiểu rằng tôi bất đắc dĩ phải chịu "đo ván", như người ta thường nói trong ngôn ngữ của môn quyền anh. Huấn luyện viên của chúng tôi không phải là một nhân vật vô danh, mà trái lại, đó là ngài Rohloff, vô địch quyền anh châu Âu. Tôi đoán rằng nếu như ông ta không trở thành vô địch quyền anh thế giới thì đó là bởi bản thân ông ta cũng đã từng phải chấp nhận bị "đo ván". (Chúng tôi rất may mắn khi học ở trường Napola. Bởi thể thao là môn học chủ chốt nên chúng tôi có các huấn luyện viên là những nhân vật nổi tiếng, ví dụ như huấn luyện viên môn phóng lao dành cho các học viên lớn, ngài Stock, từng vô địch Thế vận hội.)
Trả lại với phi vụ của chúng tôi, Mantred đã vẽ hộ tôi một bức tranh tuyệt vời. Một gã Do Thái bụng phệ đang ngồi dạng háng trên một cái bao rất lớn có hình địa cầu với chữ "GELD"44 viết hoa chạy ngang. Gã ta mồ hôi mồ kê nhễ nhại, hai má đỏ bừng như vừa uống rượu, lốm đốm những chấm đen bởi râu của gã không được cạo kĩ càng. Gã ăn mặc có vẻ sạch sẽ nhưng quần áo lại xấu xí và nhàu nhĩ. Manfred đã tô màu với những màu sắc hoàn toàn không phù hợp với nhau chút nào, đôi giày màu tím, đôi tất màu xanh và cà vạt màu đỏ. Cái mũ màu đen của gã Do Thái to lớn mồ hôi nhễ nhại đó đã tuột khỏi cái đầu hói và nằm trên mặt đất.
Tôi được giáo viên khen ngợi và được điểm mười trên mười. Bức tranh của tôi được đóng khung trước khi được treo lên tường. Còn Manfred thì được chín phẩy năm điểm. Bức tranh của cậu ta - tức là bức thứ hai - cũng rất sáng tạo. Nó có nhan đề là: Nấm độc. Phần chóp của cây nấm là một cái mũ của người Do Thái, thân cây nấm, một gương mặt Do Thái với cái mũi to tướng, đôi tai vểnh và bộ râu hình một tràng hoa màu đỏ. Ở gốc của cây nấm, chỗ mọc lên từ mặt đất, là một ngôi sao năm cánh. Sao không ai nghĩ ra điều đó nhỉ? Giáo viên giải thích rằng thầy không thể cho điểm tuyệt đối bởi vì bức tranh của cậu ta mặc dù phản ánh đúng sự thật nhưng bị lạc đề so với yêu cầu. Phải chỉ ra được sự thay đổi của người Do Thái một khi họ đã định cư tại châu Âu. Tương tự như vậy, những đứa lười động não đã vẽ những người Do thái với cái mũi lợn và đôi tai lông lá cũng bị coi là lạc đề.
Sau cùng giáo viên tiết lộ nội dung phần thứ hai của bức kí hoạ, chính là phần nằm trong tờ báo. Đó là hình vẽ cũng về lão già Do Thái như ở bức kí hoạ thứ nhất, nhưng thay vì vẻ gầy gò và rách rưới, lão đã trở nên béo quay. Lão mặc một bộ quần áo rất diêm dúa, dát đầy vàng với kim cương lấp lánh và lão đang phì phèo một điếu xì gà. Chân lão đang dẫm lên lưng một nông dân Đức, mặt của người này bị đánh bầm giập, tưởng như các bạn có thể nghe thấy tiếng rên la đau đớn mà anh ta đang phát ra, và anh ta gầy đến nỗi các bạn nhận ra ngay rằng anh ta đang chết đói. Dòng chú thích ghi: "... rồi chúng trở thành thế này trên quê hương của chúng ta."
Các bạn của tôi vỗ tay rào rào. Bầu không khí rất dễ chịu, nhẹ nhõm, vui vẻ. Một điều khá hiếm hoi trong các buổi học.
Còn tôi thì vừa suy nghĩ vẩn vơ, vừa lơ đãng ngắm các bức ảnh, tranh và kí hoạ treo trên tường.
Tôi so sánh lão già Do Thái tới từ phương Đông kia với một người Do Thái trẻ tuổi, kẻ nếu không phải tới từ phương Đông thì ít ra cũng từ phía Đông Ba Lan. Lukas. Vâng, dĩ nhiên là anh ta rồi! Có khi nào anh ta là cháu của ông kia không nhỉ? Khi tới Kalish thì Lukas đã có mái tóc vàng - trường Napola đã không làm màu tóc của anh ta thay đổi - cả đôi mắt xanh cũng vậy. Nhưng khi đó anh ta gầy gò, bẩn thỉu, mặc bộ quần áo rách bươm, dẫu đầy chấy và ánh mắt hoang dã. Còn bây giờ... nếu như người ta vẽ anh ta vào lúc này, người ta sẽ vẽ anh ta trong bộ quân phục học viên sĩ quan rất oách, da dẻ hồng hào, ánh nhìn xanh nhạt và trong vắt. Người ta có thể vẽ thêm ở dưới đế giày của anh ta gương mặt của Walter, người từng bị anh ta cùng Gunter và Herman dần cho một trận ở trong phòng học. Người ta có thể đề vào lề bức kí hoạ những dòng chú thích giống như trong tờ báo: "Anh ta đã tới từ Poznan như vậy và sau đó trỏ thành như thế này ở Napola của chúng ta."
Mặt khác, có điều gì đó không ổn. Nếu như các bạn điền các số đo của Lukas vào cái bảng mà giáo viên phát cho chúng tôi vào đầu buổi học, các bạn sẽ thấy rằng chúng tương đồng với các chỉ số Aryan. Ngoài ra thì Lukas còn có một giấy chứng nhận màu xanh về sự phù hợp chủng tộc.
Tôi rất muốn nói tất cả với giáo viên. Tiết lộ với ông ta rằng Lukas là Do Thái và Aryan. Mục đích là để ông ta giải thích cho tôi về sự mâu thuẫn này.
Nhung tôi đã không hề hé răng.
Và bây giờ tôi chán ngấy giờ học sinh vật. Ngồi trong lớp, tôi thấy buồn chết đi được. Không còn vẽ tranh nữa mà là ghi chép và học thuộc lòng. Chủ đề của giờ học đã thay đổi, bây giờ nó gọi là: "Làm thế nào để nhận diện một người Do Thái?" Chúng tôi phải viết một bài chính tả do giáo viên đọc:
Mũi của người Do Thái cong ở chóp, nhìn giống như số sáu. Nếu một số người không phải Do Thái cũng có mũi cong thì phải để ý rằng đường cong này chếch lên trên. Môi người Do Thái dày, lông mày rất rậm. Khổ người nhỏ, chân ngắn và đi vòng kiềng, vòng tay hẹp. Trán họ thấp, lùi về phía sau, tóc đen và xoăn như tóc người da đen, tai có hình quai cầm của tách cà phê. Họ có mùi hôi nồng nặc, râu có rận và quần áo nhớp nhúa.
Tôi ghét đặc cái việc chép chính tả. Tôi chật vật trong việc chia các động tính từ quá khứ sao cho hợp giống, hợp số. Tôi lúng túng với các phụ âm kép. Tôi không thích việc học thuộc lòng, lại càng không thích việc phải đọc lại trước mặt cả lớp.
Ngoài ra, để chuẩn bị cho buổi học sau chúng tôi phải tìm ra các từ mô tả khác để thêm vào đoạn văn đó, rồi lồng nó vào khung và treo lên tường.
Tôi không tìm ra các từ mô tả chết tiệt đó, trái ngược với các bạn cùng lớp.
Tôi không có mặt trong các buổi kiểm tra vấn đáp nữa.
Điểm của tôi tụt thê thảm.
Tôi thấy nhẹ cả người bởi sau đó vài tuần, các giờ sinh vật học có vẻ như có sự thay đổi.
Giáo viên chuyển sang giảng cho chúng tôi về các con vật. So với con người thì con vật thiếu cái gì? Dễ thôi, nó thiếu một bộ não! Nó thiếu khả năng suy nghĩ! Tôi là người đầu tiên giơ tay và đưa ra câu trả lời đúng. Sau đó giáo viên giải thích cho chúng tôi cách thức hoạt động của các con vật bé nhỏ, chẳng hạn như ve và bọ chét, những con vật sống bằng cách hút máu và truyền bệnh cho con người. Ông ta giảng giải vì sao cần phải tiêu diệt chúng để giữ gìn sức khoẻ của con người. Ông ta đề cập tới các tiến bộ của y học và nghiên cứu.
Tôi thấy buổi học thật hấp dẫn và đây là lần đầu tiên tôi bị bất ngờ bởi tiếng chuông báo hết giờ, thế mà thường ngày tôi có cảm giác như nó bị chậm hàng tiếng so với đồng hồ vậy.
Trước khi kết thúc giáo viên giao cho chúng tôi bài tập để chuẩn bị cho buổi học sau. Tin vui đây. Tôi tự nhủ rằng mình đã có cơ hội để nâng cao điểm số.
Giáo viên viết đầu đề lên bảng: "Hãy giải thích sự cần thiết phải xóa sổ người Do Thái."
Làm thế nào mà anh ta thích nghi được, Lukas ấy, khi mà...
Tắm rửa.
Ở Napola ngày nào cũng phải tắm, như tôi đã từng lưu ý các bạn. Điều đó thật dễ chịu, cần thiết, khi chúng tôi có tới mười bốn giờ thể thao một tuần. Khu nhà tắm rất sạch sẽ, gọn gàng, sáng bóng, không chê vào đâu được.
Nhà tắm nằm ngay cạnh các phòng ngủ và có các khoang riêng biệt, một tiện ích nữa nhằm giúp các học sinh phát triển ý thức sâu sắc về vấn đề vệ sinh, điều tối quan trọng đối với những người Aryan chúng tôi.
Chỉ có một vấn đề, đó là cái cục xà phòng chết tiệt mà chúng tôi dùng để tắm. Chất lượng của nó thật tồi tệ, nhưng chẳng tìm đâu ra loại xà phòng nào khác trên toàn nước Đức từ vài tháng nay. Nó chẳng có bọt gì cả. Chúng tôi đã thử xả nước lên nó, xoa thật mạnh giữa hai bàn tay, chà xát thật lực, điều đó chỉ tổ làm xước da chứ chẳng có nổi một cái bong bóng xà phòng nào, dù là nhỏ nhất. Không những không có bọt mà còn hôi rình. Nó toả ra một thứ mùi khiến người ta buồn nôn, giống như... một miếng thịt thiu đã khô quắt lại. Nếu tính đến việc gần đây nước nóng bị hạn chế, việc tắm rửa không còn là một thú vui nữa. Lũ bạn và tôi không có cách nào ngoài phàn nàn, ngay cả khi điều này trở thành một chủ đề bông đùa.
"Đồ xà phòng Do Thái đáng nguyền rủa!"
"Sao nó khắm thế cơ chứ!"
"Này! Cho xin một ít xà phòng để tớ trát lên người nào, cho dù nó là thứ vô dụng!"
Từ khi tới Napola, tôi nghe nói người ta gọi thứ xà phòng này là "RIF". Tôi không rõ ba chữ cái đó có nghĩa là gì. Do sợ phải thừa nhận sự thiếu hiểu biết của mình và bị coi là đồ ngốc nên tôi đã không dám đi hỏi. Tôi cố thử đoán mò. R như... Reich? I như... Immer? F như... Falsch? Nó thành ra: "Đế chế, luôn luôn, sai". Hoàn toàn vô nghĩa. R như... Reisen? I như... Im? F như... Führer? "Trèo lên trong Quốc trưởng". Rõ ràng là vớ vẩn! Tôi lại thử tiếp: Richtig Ideal Farbe ("màu sắc phù hợp và lí tưởng"). Liên quan gì tới xà phòng nhỉ? Màu của nó lúc nào mà chẳng kinh tởm như chính cái mùi của nó. Tôi vắt óc ra để ghép vô số các chữ lại với nhau nhưng vô ích.
Rốt cuộc tôi đành đầu hàng và đi hỏi Manfred. Manfred, kẻ yếu đuối, kẻ hoàn toàn không biết chơi thể thao và giết thời gian rảnh rỗi bằng việc vẽ tranh. Cậu ta không hề có ý định giễu cợt tôi. Quả vậy, cậu ta trả lời tôi một cách tận tình với giọng lanh lảnh:
"RIF hả? Đó là ba chữ cái đầu của một hãng công nghiệp, Reichsstelle Industrielle... gì đó, tớ quên mất chữ cuối cùng... Nhưng ở đây họ đã đổi chúng thành Rein Juden Fett! Với một chữ I phiên âm. Rein Juden Fett!" Cậu ta nhắc lại trong khi tôi thì há hốc mồm, đứng như trời trồng dưới làn nước khi nãy còn đang âm ấm giờ đã chuyển sang lạnh buốt. Tôi đã biến thành tượng đá.
"Chính vì thế nên loại xà phòng này không có bọt!" Manfred nói thêm. "Nhưng cũng còn tốt hơn là không có gì để làm xà phòng!"
Rein Juden Fett.
Rein Juden Fett.
À! vâng! Các bạn cần dịch câu đó ra để hiểu tại sao tôi lại đứng im như phỗng dưới vòi nước lạnh buốt, đúng vậy không? Nó là thế này:
"Mỡ Do Thái nguyên chất."
Xà phòng này được làm từ mỡ của người Do Thái. Những người Do Thái trong các trại tập trung... Giống như, ví dụ... mẹ của Lukas trong trại Treblinka.
Tôi không thể tiếp tục tắm được nữa.
Người tôi bẩn thỉu và hôi hám.
Thế mà anh ta, ANH TA, anh ta tắm rửa hằng ngày. Anh ta sạch sẽ tình tươm. Thậm chí anh ta còn bắt đầu cạo râu.
Anh ta đã trở thành người Aryan, còn tôi... tôi... hình như đã thành người Do Thái.