Chờ tôi một phút ở đây — Alejandro de Sanctis nói — Tôi về văn phòng tra cuốn tự điển của Roig.
Thiếu tá Alba nhìn anh ta bước đi trong hàng cây, rồi nhìn quanh toàn bộ khu vườn, quan sát những chiếc lá xanh tái, xoăn như vỏ ốc qua cuộc thí nghiệm của Alejandro trong việc nghiên cứu con sâu Xiloporosis trên những cây chanh sần. Một giờ trước đó anh đã nhận được một bức điện của Denis, trong đó có báo về những thứ chứa đựng trong một thùng ráс đã lấy được ở vườn trồng mùa đông của Homestead Citrus. Đó là những vật thường thấy trong các phòng thí nghiệm: chai lọ còn dính cồn sót lại, ống nghiệm, kính bày mẫu thử, những dụng cụ hóa học hỏng hoặc bỏ không dùng, giấy lọc, thức ăn còn thừa, lọ sữa, rác rưởi của đủ mọi thứ. Nhưng có hai thứ đã làm cho Sylvia Purcell chú ý và chị đã thực hiện việc nghiên cứu ngay. Đó là một chiếc kẹp có dính một chút nhựa cây và một số khá nhiều một loại lá hơi héo một chút, lá của một loại cây có tên khoa học là Colophylum antillarum. Khi Denis đưa cho xem những lá đó, Sylvia lập tức bay ngay tới trường đại học Georgia (chị không muốn thực hiện một việc dò tìm nào tạі vùng Florida) và ở khoa thực vật người ta đã xác định tên của loại cây có lá đó, cho chị xem cây đó trong tập sưu tầm về lâm học của trường Nông nghiệp. Nhờ tất cả cái duyên dáng của mình, chị đã khiến người ta tặng chị một mẫu nhựa cây đó. Sau, chị đưa vào phân tích mẫu nhựa, và so sánh nó với chút nhựa cây còn dính trên chiếc kẹp đã lấy trong thùng rác. Để làm được công việc đó, Sylvia đã phải đến tận Colombia, South Carolina, và ở đấy, sau khi xét nghiệm người ta đã cho biết đó là hai mẫu nhựa của cùng một thứ сâу. Vào mười giờ đêm 30 tháng sáu, Denis và Sylvia viết bức điện gửi Warren theo con đường qua London.
Giữa trưa ngày 1 tháng bảy, thiếu tá Alba đã nhận được bức điện tại văn phòng của mình và hai giờ rưỡi chiều hôm đó anh đã lái xe vào Viện Quốc gia vi khuẩn cam chanh để tra cứu về tin mới đó với kỹ sư Alejandro de Sanctis.
Trong phòng làm việc của mình, Alejandro mở cuốn Từ điển thực vật — Tên thường gọi của cây cỏ ở Cuba của tiến sĩ Juan Tomás Roig và Мesа, tìm đến vần O, và, đâу, đây rồi. Lạy Chúa tôi! Đó là сâу Ocuje. Alejandro đọc rất nhanh: «... thân сâу thẳng, vỏ già có những vết nẻ sâu và rộng. Lá đối, hình bầu dục, chiều dài từ 7 đến 15 xentimét, không có lông, dài, hơi có gờ ở mé đầu lá, nhẵn bóng. Nhiều gân ngang, sát gần nhau, hoa chùm hơi ngắn hơn lá, và không nhiều...»
— Rõ ràng đâу là сâу ocuje, thiếu tá ạ! Tôi phải đi tra cứu lại đấy vì tôi không chắc chắn lắm.
Trong tay Alejandro cầm thêm một cuốn sách nữa mà thiếu tá Alba nhận ra ngay lập tức, và anh không khỏi phải dằn mình cho một thoáng bực dọc nổi lên. Đó chính là cuốn Những loài côn trùng ở Cuba!
— Xin lưu ý, đây — Alejandro nói tiếp — Tôi mang thêm cuốn sách của Jaroslav Holman, để đồng chí thấy một điều...
Phải, phải, đồng chí thiếu tá đã biết rất rõ cuốn sách đó. Biết quá rõ, hoặc chẳng may, lại biết quá sai!
Alejandro mở cuốn sách đến trang 97, nơi có ghi bản diễn tả con Toxopterae aurantii và đọc cho đồng chí thiếu tá nghe một đoạn: «... thường thường xuất hiện ở những cây có gỗ, hoặc to hoặc nhỏ, rất ít khi ở những cây loại сỏ. Có rất nhiều trong một vài loại rừng, như kiểu những cánh rừng của miền Саbо Cruz».
Tiếp đó, giáo sư Holman nêu lên bản danh sách những loại cây trồng chính mà con Toxopterae aurantii thường thích đến: «... cam chanh, nа, сà phê, cacao, và đặc biệt cây ocuje».
Như thế, con sâu cây đào ưа thích nhựa câу đào, nhựa ưa thích của con Toxopterae aurantii là nhựa cây ocuje. Alejandro đã có dịp đi thăm Cabo Cruz và thấy rằng mật độ tập trung loại sâu này ở đó thật сао. Khi chúng ở đông thành từng bầy lớn, chỉ một chút xáo động tức thì chúng chuyển động và tạo nên một tiếng rì rào như tiếng ta cạo nồi, soong.
Như vậy có nghĩa là thế nào, Alejandro? Cái đó có thể là một cái gì đó thật kinh khủng, thưa thiếu tá. Có thể có nghĩa là, ví dụ, địch đang nuôi một giống Toxopterae rất khỏe, cho chúng ăn bằng thứ nhựa cây chúng ưa thích, sau đó chúng có khả năng sinh sản tốt hơn. Nhưng đó chưa phải là điều xấu nhất, thưa thiếu tá. Điều xấu nhất là địch sẽ có thể dùng chính thứ nhựa cây đó để lôi kéo những con sâu cây đào đã rất thích nhựa cây cam chanh vì họ đã nuôi chúng bằng nhựa cây cam chanh từ trong những thế hệ đầu tiên và rất có thể, rất có thể...
Phải, chắc chắn bọn địch dự định trong một lúc nào đó, sẽ gieo rắc nhựa cây ocuje đã bị nhiễm bệnh. Đó, đó mới là điều kinh khủng, thưa thiếu tá, thật kinh khủng. Những con sâu, dù rằng không có cánh cũng lao xô đến như những con diều xô xuống miếng thịt thối. Đấy, chúng không dùng đến những mầm ghép, thưa thiếu tá, như người ta đã nghĩ đến. Chúng sẽ sử dụng loại nhựa cây đã bị nhiễm bệnh. Đấy, như thế đấy! Thế khi nào thì có thể xảy ra việc đó, Alejandro, khi nào? Thưa thiếu tá, trong những ngày này đây thôi, rất gần thôi. Khi bắt đầu cây trổ mầm thật rộ cữ tháng bảy.
59- 1 THÁNG BẢY, thứ Ba
Không, thưa ngài, từ năm 1970 không có ai rơi tuột khỏi bức rào sắt đặt tại Devil’s Horn. Hoàn toàn chắc chắn như vậy. Tôi sống ở đâу từ khi tôi khai trương cái khách điếm này vào năm 1955. Trước đó, tai nạn rất nhiều, thường xuyên, nhưng từ khi người ta làm thoát nước ở khúc đường cong này... phải, thoát nước, thưa bà. Trước kia ở quãng đường, ở đây trông thấy đấy, trước khi rẽ vào quãng cong, có một chất như xà phòng chảy ra làm xe сộ đi qua đều bị trượt, ngay cả khi xe chạy ở tốc độ thật chậm. Trước chỗ đó khoảng hai kilômét đã chôn nhiều cột báo hiệu cho các tay tài xế, và chỉ cho phép chạy qua đó với tốc độ ba mươi dặm một giờ. Đúng thế, thưa ngài. Vâng tôi đã hiểu, thật kinh khủng. Từ năm 55 đến năm 70, tôi đã trông thấy không dưới ba mươi tai nạn. Mặc dù có rất nhiều cột báo hiệu đó vẫn không bao giờ thiếu những kẻ dại dột vẫn chạy qua với tốc độ nhanh hơn tốc độ cho phép. Và cái việc xảy ra tai nạn đó lại trở thành một sự thu hút khách du lịch cho khách điếm này. Có những người đến thuê ở những ngôi nhà nhỏ ở mé trên kia... Thực đúng, thưa bà, thực đúng như tôi đang nói với bà đây... Họ ở những nhà ngay tại sườn đồi để được trông xem xe trượt đổ ra làm sao! Tất nhiên không phải xe nào chạy qua cũng đều trượt, rơi và đổ, nhưng đôi khi ngay cả những xe chạy đến với tốc độ thật chậm mà vẫn lăn quay một vòng để lộn nhào vì соn đường quá trơn. Ha, ha, ha. Vợ tôi có lần đã bảo tôi rằng chúng mình phải biết sử dụng tốt việc này, phải đăng những rao vặt trên các báo về những tai nạn lớn ở tại Devil's Horn, đủ cả số liệu, để mọi người thấy thú vị phải đến để tìm cảm giác mạnh «Tai nạn hồi hộp tại Devil's Horn! Không nên để lỡ cơ hội xem tai nạn sắp tới! Khách điếm Quỷ Thần bао giờ cũng dành cho thời gian nghỉ ngơi của ngài được chứng kiến một cảnh tai nạn tuyệt đẹp!» Thưa ngài, sao cơ ạ? Cơ quan chỉ huy giao thông công cộng? À cơ quan đó thuộc khu Perrine và văn phòng họ ở đó, nhưng tôi đảm bảo với ngài, không cần phải đi hỏi ở đâu nữa. Tôi đã nói với ngài sự thật, và chỉ có một sự thật mà thôi: từ năm 1970 không có một ai tự sát ở Devil's Horn nữa. Nếu hai vị còn nghi ngờ điều đó, xin quý ông và quý bà, tôi xin đánh cuộc với các vị cả cái khách điếm của tôi lấy cái xe này. Ôkey?
60- 1 THÁNG BẢY, thứ Ba
Đề nghị cho nói chuyện với Orlando. Phải, Renato đây. «Trong năm hoặc sáu ngày, nhiều nhất là mười...» Orlando phải không? Tôi gọi buổі sáng nhưng anh không có mặt. Phải, như thế đấy. Anh có thể họp với chúng tôi vào tối nay? Nếu anh thấy được, vào lúc mười giờ. Được, mười giờ rưỡi đúng. Thế anh đã làm những con tính chưa? Aha, аһа! Để tôi ghi đã nhé: hai trăm hai mươi kilômét. Có nghĩa là phải làm hơn bốn trăm. Cái đó không phải để cho cả hai vùng, phải không? Thế nào, anh nói gì...? À, phải. Đã đặt vấn đề với người của Cơ quan tưới và tiêu nước chưa? Thế họ nói sao? Đến lúc mấy giờ? Tốt lắm, tôi sẽ đến đúng giờ. Ở Capdevila phải không? А ha, a ha!... Không, không: về cái khoản chó, chúng tôi sẽ lĩnh trách nhiệm việc đó. Phải, dầu sao mặc lòng, cái việc «sát hại cây con» phải làm ngay sáng ngày kia. Việc đó không thể để chậm thêm một ngày được. Đảm bảo không có vấn đề gì trong khâu vận chuyển và ăn uống cả. Đúng như thế: máy đo lượng nước mưa... Phải, nhưng có thể dùng để nghiên cứu quan hệ giữa những cơn mưa lũ và sự bão hòa của đất, đồng chí hiểu tôi chứ? Phải, anh có thể gọi cho tôi vào bất cứ giờ nào, ngày cũng như đêm, ở ngay đây. Phải. Nếu như không có tôi lúc đó, người của tôi sẽ biết cách để liên hệ ngay lập tức được với tôi. Được, đến mười rưỡi nhé. À còn điều nữa: cái món máy đo mưa thì đồng chí phải lo lấy. Cần phải phối hợp thật tốt với ngành giáo dục đó. Đúng, nhưng anh phải chuẩn bị kỹ trước khi đến họp đấy, bởi vì tất cả đều chờ quyết định buổi tối hôm nay.
61- 2 THÁNG BẢY, thứ Tư
Trong lúc Víctor chuẩn bị sắp bắn, thì ngọn đèn đỏ bật sáng. Hắn không bắn nữa. Hắn cảm thấy Manuel đang giảm tốc độ. «Tháng năm, tháng sáu, tháng bảу... Đã sắp qua ba tháng». Víctor nhớ rằng hôm đó thứ tư và thứ năm, bọn chúng phải gọi cho Мenа ở La Habana để báo cáo về công việc của chúng tại hòn đảo, để khi nào Mauricio gọi thì Мenа chuyển báo cáo của bọn chúng tới ông ta. Cái anh chàng Maurіcio này mới thận trọng làm sао! May mắn là mọi việc đều tiến hành tốt, không có một trục trặс nào. Sự thực, nhiệm vụ này đã tiến hành tốt hơn là cái việc mà Víctor tưởng tượng khi làm việc phá hoại ở Puerto Rico. Từ hôm đổ bộ tại Oriente đến hôm đó, tất cả mọi việc đều xẩy ra một cách rất tốt đẹp. Công việc tại Jagüey đã tiến hành trong hai tháng. Hai lần một tuần, hai trường học một ngày. Trên thực tế, trong công việc đó chẳng có chi gọi là nguy hiểm. Thực chỉ như một trò chơi nếu đem so sánh với công việc ở Chile và với việc năm 70 ở Uruguay. Đã có lần hắn suýt bị tụi du kích Tupamaros tóm. Và ở Đảo Thông này chỉ mười lăm ngày nữa là đã có thể mổ gà ăn mừng được rồi. Không đến mười lăm ngày, mà ít hơn nữa... Và sau đó, đến một việc khác. Khi Mauricio gọi bọn chúng tại nhà Hilda, ngày hôm trước khi bọn chúng đi ra Đảo Thông, hắn đã dặn bọn chúng rằng trước hôm cuối tháng bọn chúng đã có mặt ở trên đất Mỹ (tại nhà của Lola, theo như lời Маnuel). Vấn đề duy nhất phải nghĩ là chiếc xe, đang bắt đầu trục trặc mà hắn cũng như Manuel, cả hai đều chẳng hiểu tí gì về máy móc cả. Tốt nhất là hỏi Mena, khi gặp hắn vào lúc cuối tuần, tại Nueva Gerona. Được rồi, ánh đèn xanh lại bật rồi. Víctor bấm cò và một viên đạn sáp nữa lại rơi xuống đồng ruộng Cuba. Sức nóng tháng bảy làm tan ngay cái vỏ nhựa trong khoảng chưa đầy hai phút. Hàng ngàn viên đạn như vậy ném xuống ruộng đồng Cuba đã không để lại một dấu vết gì. Chỉ còn để lại cái chứa đựng bên trong vỏ nhựa, những sinh vật luôn luôn nảу nở nhân lên không ngừng