Nhiều người vẫn luôn nghi vấn, liệu vàng thời Tần Hán có phải là vàng thật hay không?
Sau khi tra cứu nhiều tài liệu, tôi khẳng định chắc chắn rằng: Vàng thời Tần Hán chính là vàng thật!
Theo "Sử Ký" ghi chép: Tần thống nhất thiên hạ, tiền tệ chia làm hai loại. Lấy "dật" (溢) làm đơn vị gọi là hoàng kim, là thượng tệ, từ đó tiền tệ bằng vàng bắt đầu lưu thông trên toàn quốc. Kể từ khi thành lập nước đến nay, tại Niệm Lưu Trại, Hưng Bình, Thiểm Tây đã khai quật được 1 thỏi vàng thời Tần, hàm lượng vàng đạt 99%, trọng lượng 260 gram, đáy khắc chữ "Dần" (寅). Sau đó, tại Vũ Gia Đồn, Lâm Đồng, Thiểm Tây lại khai quật được 8 thỏi vàng thời Tần Hán, khắc ba chữ "Ích Lưỡng Bán" (益两半). Rõ ràng, chữ "Ích" (益) ở đây thông với chữ "Dật" (溢) trong câu "Hoàng kim dĩ dật vi danh" của nhà Tần. Dật và Lưỡng đều là đơn vị đo lường tiền tệ thời Tần. Việc khai quật được thỏi vàng của nước Tần tại vùng Thiểm Tây cho thấy, tiền tệ bằng vàng không chỉ lưu thông ở nước Sở mà còn ở các khu vực khác.
Mà một "dật" thời Tần đại khái bằng 24 lượng.
Tất nhiên, tôi không hiểu quá sâu về thời Tần nên sẽ không bàn nhiều.
Trở lại thời Tây Hán.
Vào thời Hán, vàng xuất hiện trước mắt mọi người với đơn vị là "cân".
Theo những thỏi vàng thời Hán được khai quật, về cơ bản không có sự khác biệt về kích thước, trọng lượng và hàm lượng vàng so với thời Tần. Ví dụ, năm 1974 tại di chỉ Bắc Thạch Kiều, Ngư Hóa Trại, Tây An, Thiểm Tây đã phát hiện 6 thỏi vàng thời Tây Hán, trọng lượng xấp xỉ 250 gram. Lại như năm 1971, tại di chỉ Cổ Thành Thôn, Huỳnh Dương, Hà Nam khai quật được bốn thỏi vàng thời Tây Hán, cũng nặng khoảng 250 gram. Những thỏi vàng khác khai quật tại Đông Thái Bảo (Thái Nguyên, Sơn Tây), Dương Gia Đại Sơn (Trường Sa, Hồ Nam), mộ gỗ Tây Hán ở Hợp Phố (Quảng Tây), Tây Can Để và Giả Trang (Mãn Thành, Hà Bắc), Hoa Nhi Sơn Trương Điếm (Tân Kim, Liêu Ninh) đều có trọng lượng xấp xỉ 250 gram. Điều này hoàn toàn nhất quán với việc vàng thời Hán lấy "cân" làm đơn vị tính toán.
Hơn nữa, vàng thỏi thời Hán được khai quật trên khắp cả nước. Theo thống kê sơ bộ từ các tư liệu khảo cổ trên báo chí từ thế kỷ trước, có tổng cộng 26 địa điểm khai quật được tiền tệ bằng vàng thời Hán, trải dài khắp 14 tỉnh thành. Địa điểm cụ thể gồm: Tỉnh Thiểm Tây: Tây An, Hàm Dương, Hưng Bình, Lâm Đồng. Tỉnh Hà Nam: Lạc Dương, Huỳnh Dương, Trịnh Châu, Phù Câu. Tỉnh Hà Bắc: Mãn Thành, Định Huyện, Hàm Đan. Tỉnh Hồ Nam: Trường Sa, Tương Hương. Tỉnh Hồ Bắc: Nghi Xương. Thành phố Bắc Kinh: Hoài Nhu. Tỉnh Quảng Tây: Hợp Phố, Quý Huyện. Tỉnh Quảng Đông: Đức Khánh. Tỉnh Sơn Tây: Thái Nguyên. Tỉnh Liêu Ninh: Đại Liên, Tân Kim. Tỉnh An Huy: Thọ Huyện. Tỉnh Giang Tô: Cám Du, Đồng Sơn. Tỉnh Chiết Giang: Hàng Châu. Tỉnh Sơn Đông: Tức Mặc. Những tư liệu trên cho thấy, phạm vi lưu thông của tiền tệ vàng thời Hán đã vượt xa phạm vi đơn lẻ thời Chiến Quốc mà lan rộng ra toàn quốc.
Là một loại tiền tệ hợp pháp, các nhà cai trị thời Hán đã thừa nhận và công nhận địa vị của vàng.
Nhưng nó lại khác với bạc ở hậu thế.
Thời Hán, vàng là đơn vị tiền tệ dùng để cân đo, không phải đơn vị tiền tệ dùng để đếm.
Vì vậy, phải phân tích tình huống cụ thể.
Không phải tất cả những ghi chép "một vàng" đều thực sự là một cân vàng.
Thực tế, các bậc tiền nhân rất thích chơi chữ, thích dùng những con số ước lượng đại khái để đánh lừa người khác.
Ví dụ như Lương Hiếu Vương "có bình rượu trị giá ngàn vàng". Hán Vũ Đế "trang sức cho một con ngựa trị giá trăm vàng"; Lục Giả có "bảo kiếm trị giá trăm vàng", v.v. Những thứ như bình rượu, trang sức ngựa, bảo kiếm ở đây đều là vật phẩm xa xỉ trong cuộc sống của giai cấp thống trị phong kiến. Để đo lường giá trị của những món đồ xa xỉ được chế tác tinh xảo, không tiếc công sức này, không thể có thước đo giá trị chính xác. Cái gọi là "ngàn vàng", "trăm vàng" không phải là một ngàn cân hay một trăm cân vàng chính xác. Những cụm từ như "tài sản ngàn vàng", "gia đình vạn vàng" cũng chỉ là thước đo giá trị không xác định. Câu "Trăm vàng, bằng tài sản của mười gia đình trung lưu" không có nghĩa là tài sản nhiều hơn hoặc ít hơn mười vàng thì không phải là gia đình "trung lưu", đó chỉ là con số ước chừng. Ngoài ra như "Thang chết, gia sản không quá năm trăm vàng"; gia sản của Dương Hùng "không quá mười vàng"; Doãn Tề chết, "gia sản không đầy năm mươi vàng". Những từ "không quá", "không đầy" ở đây đều không phải là con số chính xác, thước đo giá trị hiển thị cũng chỉ là con số xấp xỉ. Từ đó có thể thấy, thước đo giá trị không xác định của tiền vàng đã quyết định tính không chính xác khi so sánh giá cả với các vật phẩm khác. Từ các thẻ tre thời Hán được khai quật, chúng ta có thể thấy tỉ giá giữa tiền đồng và các vật phẩm khác có thước đo giá trị rất rõ ràng, ví dụ: "Hầu Trường được Quảng Xương Lý, Công Thừa Lễ Trung ba mươi tuổi: hai nô lệ nhỏ, trị giá ba vạn; một tỳ nữ lớn, hai vạn; năm con ngựa, hai vạn; hai con bò, sáu ngàn; hai xe bò, bốn ngàn; một cỗ xe nhẹ, trị giá một vạn; một khu nhà, trị giá một vạn; năm khoảnh ruộng, năm vạn; tổng cộng mười lăm vạn". Nhưng lật khắp thẻ tre thời Hán, không tìm ra một tỉ giá chính xác nào giữa vàng và các vật phẩm khác. Đây tuyệt đối không phải là ngẫu nhiên. Thước đo giá trị không xác định của tiền vàng tất yếu sẽ bị thay thế bởi tiền đồng vốn lưu thông song hành và có thước đo giá trị rõ ràng.
Vậy nếu bạn nhất định muốn dùng vàng đổi lấy tiền đồng thì phải làm sao? Có tỉ lệ đổi chính thức từ quan phủ không? Hoặc một tỉ lệ đổi được công nhận rộng rãi?
Câu trả lời là có.
Trước đây, nhiều người nghiên cứu lịch sử Tây Hán đều cho rằng, một cân vàng thời Hán bằng 1 vạn tiền đồng.
Đó là vì ghi chép trong "Sử Ký", "Hán Thư" ở một mức độ nào đó ủng hộ quan điểm này.
Ví dụ như ghi chép trong "Phùng Đường Truyện", "Thực Hóa Chí", "Bình Chuẩn Thư", v.v., tôi sẽ không liệt kê từng cái, các bạn quan tâm có thể tự mình tra cứu.
Nhưng gần đây, các phát hiện khảo cổ và văn vật được khai quật, đặc biệt là các tác phẩm và điều luật của đại thần thời Hán đã lật đổ nhận định "một vàng bằng một vạn tiền".
Trong "Trương Gia Sơn Hán Giản - Toán Thuật Thư" (thẻ tre số 46) ghi chép "vàng 1 cân = 5040 tiền", trong "Cửu Chương Toán Thuật" quyển 6 "Quân Thâu" ghi chép "vàng 1 cân = 6250 tiền", trong cùng sách quyển 7 "Doanh Bất Túc" ghi chép "vàng 1 cân = 9800 tiền".
Sở dĩ tồn tại sai số lớn như vậy là do chính sách kinh tế thời Hán có một chế độ gọi là "Bình Giả" (Bình ổn giá cả).
Vấn đề này chúng ta sẽ nói sau, bây giờ chỉ cần biết chế độ Bình Giả có thể quyết định giá cả là đủ rồi.
Cuối cùng, khi tra cứu tài liệu, tôi phát hiện thời Hán Vũ Đế, tổng số tiền thưởng cho các đại thần và võ tướng là tám mươi chín vạn vàng, trong đó hai người Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh đã chiếm hơn phân nửa, Vệ Thanh hai mươi vạn, Hoắc Khứ Bệnh năm mươi vạn.
Nhiều người thắc mắc, thời Hán lấy đâu ra nhiều vàng như vậy?
Thực ra rất đơn giản, quả thực có nhiều vàng như vậy.
Từ thời Hạ, Thương, Chu, tổ tiên chúng ta đã bắt đầu đúc đồng xanh, đồng xanh cần đồng để đúc, mà mỏ đồng tất yếu đi kèm với lượng lớn mỏ vàng.
Đặc biệt là sau thời Chiến Quốc, nhiều mỏ đồng và mỏ vàng lớn lần lượt được khai thác.
Ví dụ như Ngô Vương Lưu Tị ở Dự Chương Quận có hai ngọn núi đồng lớn, hoàn toàn là khai thác lộ thiên.
Hơn nữa tôi nghiêm túc nghi ngờ hai ngọn núi đồng đó của Lưu Tị rất có thể là một phần mạch quặng của mỏ đồng Đức Hưng.
Mà mỏ đồng Đức Hưng hiện nay vẫn còn trữ lượng hơn mười tỷ tấn, số lượng kim loại quý như vàng đi kèm thì không rõ lắm.
Vậy vấn đề đặt ra là, vàng thời Tây Hán sang đến thời Đông Hán lại biến mất, nó đi đâu rồi?
Câu trả lời có hai nguyên nhân.
Một là bồi táng, sự xa hoa của lăng mộ người Hán, sự phong phú của đồ bồi táng thì không cần phải nói, đặc biệt là của cải chôn trong Mậu Lăng của Lưu Triệt, quả thực khiến người ta phát điên.
Trong lịch sử, quân Xích Mi đào một lần, đào ba ngày vẫn chưa đào hết.
Cuối thời Đông Hán, Đổng Trác đào một lần, vẫn chưa đào hết...
Thời Tùy Đường, các đội quân khởi nghĩa cũng đào một lần, khụ khụ.
Nực cười là đến cuối thời Nguyên vẫn còn bị người ta đào một lần nữa.
Cho nên nói Lưu Triệt cũng thật là, không có việc gì lại chôn nhiều đồ bồi táng như vậy, đáng đời bị người ta trộm mộ hết lần này đến lần khác, hơn nữa còn là trộm mộ quy mô lớn có tổ chức có kỷ luật.
Nguyên nhân thứ hai khiến vàng biến mất là: sự truyền nhập và hưng khởi của Phật giáo.
Theo tài liệu lịch sử hiện nay, Phật giáo truyền vào Trung Quốc thời Đông Hán, ban đầu rất thích dùng vàng để mạ tượng Phật, đồng thời còn thích dùng vàng để viết kinh văn.
Ngoài ra, kể một tin tức nhé, cách đây không lâu có kẻ trộm mộ ở Trường Sa âm mưu đánh bom lăng mộ của Trường Sa Vương để đào một tấn vàng nghe nói được bồi táng trong mộ, kết quả... đánh bom nửa ngày, không thể phá nổi kết cấu "Hoàng Trường Đề Thấu" trong vương lăng...
Chế độ Bình Giả lần sau có thời gian sẽ bàn tiếp, hơn nữa hiện tại tôi vẫn chưa hiểu rõ hoàn toàn cách vận hành và phối hợp của nó, đợi tôi tra cứu thêm tài liệu, tìm thêm bằng chứng và án lệ.