Liều Thuốc Mạnh

Lượt đọc: 155 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tiết thứ mười

❊ ❊ ❊

Vincent Lord là giám đốc bộ phận nghiên cứu của công ty dược phẩm Fielding-Roth. Tính cách của ông ta rất phức tạp, những kẻ cay nghiệt có lẽ sẽ gọi đó là "một mớ hỗn độn". Một đồng nghiệp cùng làm công tác nghiên cứu từng châm biếm: "Cách làm người của Vincent cứ như thể tâm trí ông ta bị ném vào máy ly tâm đang quay tít, chính ông ta cũng chẳng biết nó sẽ bị văng về đâu, hoặc nói đúng hơn là chẳng biết mình hy vọng nó bị văng về đâu."

Việc tồn tại một đánh giá như vậy bản thân nó đã là điều nực cười. Mới ba mươi sáu tuổi, tương đối trẻ, Tiến sĩ Lord đã đạt đến nấc thang thành công mà nhiều người mơ ước nhưng ít ai chạm tới được. Chính vì nó là một nấc thang, hoặc trông có vẻ là một nấc thang, nên ông ta luôn buồn phiền và tự hỏi: Làm sao mình đạt được bước này? Và còn điều gì quan trọng mà mình chưa có được hay không?

Một điều nữa có thể nói về Tiến sĩ Lord: Ngay cả khi cuộc sống chẳng có gì bất như ý, ông ta cũng có thể tự bịa ra. Nói cách khác, phần lớn những nỗi bất như ý của ông ta xuất phát từ ảo giác chứ không phải sự thật.

Một trong những nỗi bất như ý đó là: Ông ta cho rằng trong các trường đại học và giới khoa học kỹ thuật, mình không nhận được sự tôn trọng xứng đáng. Bởi những kẻ hợm hĩnh ở đó thường coi thường các nhà khoa học của công ty dược, liệt họ vào hàng ngũ hạng hai. Tất nhiên, cái nhìn này thường không chính xác.

Ba năm trước, hoàn toàn theo ý nguyện của bản thân, Lord đã từ bỏ vị trí giáo sư trợ lý tại Đại học Illinois để chuyển sang ngành công nghiệp dược phẩm, gia nhập Fielding-Roth. Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng dẫn đến quyết định này lại là sự bất mãn và phẫn nộ của ông ta lúc bấy giờ – tất cả đều nhắm vào trường đại học đó – sự phẫn nộ ấy kéo dài đến tận hôm nay, trở thành nỗi đau gặm nhấm tâm hồn ông ta không dứt.

Trong nỗi đau, đôi khi ông ta tự hỏi: Liệu mình rời bỏ giới học thuật quá vội vàng và thiếu sáng suốt hay không? Nếu ở lại đó, hoặc lùi một bước chuyển sang một trường đại học khác, liệu mình đã trở thành nhà khoa học nổi tiếng quốc tế và được tôn trọng hơn bây giờ chưa?

Câu chuyện của ông ta phải kể từ sáu năm trước, năm 1954.

Khi đó, Lord, một nghiên cứu sinh tại Đại học Illinois, đã nhận bằng Tiến sĩ hóa hữu cơ và trở thành "Tiến sĩ Lord".

Tấm bằng tiến sĩ này rất có giá trị. Bởi Viện Hóa học thuộc Đại học Illinois nằm tại Champaign-Urbana vốn có danh tiếng toàn cầu, và Lord đã chứng minh mình là một sinh viên xuất sắc ở đó.

Vẻ ngoài của ông ta mang đậm khí chất học giả. Khuôn mặt gầy gò với đường nét rõ ràng cùng thần thái nhạy cảm trông khá dễ chịu. Điều không dễ chịu lắm là ông ta hiếm khi mỉm cười, thường xuyên cau mày. Có lẽ do nhiều năm đọc sách căng thẳng, thị lực của ông ta không tốt, phải đeo một cặp kính gọng mảnh. Qua cặp kính ấy, đôi mắt màu xanh lục thẫm đặc trưng của Lord nhìn ra ngoài, ánh mắt luôn đầy nghi hoặc như đang đề phòng điều gì đó. Ông ta cao gầy, sự gầy gò này là do chẳng có hứng thú với chuyện ăn uống. Ông ta cho rằng ba bữa một ngày là lãng phí thời gian, chỉ ăn vì cơ thể cần.

Những người phụ nữ hợp gu với kiểu đàn ông nhạy cảm cảm thấy Vincent Lord rất cuốn hút. Còn đàn ông dường như chia thành hai loại: kẻ thích ông ta và kẻ ghét ông ta.

Chuyên môn của ông ta là lĩnh vực steroid, bao gồm các loại hormone nam và nữ – testosterone, estrogen, progesterone – những hormone ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, chức năng tình dục và kế hoạch hóa gia đình. Trong những năm đầu thập niên 50 khi thuốc tránh thai vừa được áp dụng, vấn đề steroid đã thu hút sự quan tâm rộng rãi của giới khoa học và thương mại.

Sau khi có bằng tiến sĩ, vì đã có thành tựu đáng kể trong công việc tổng hợp steroid, việc Tiến sĩ Lord tiếp tục làm nghiên cứu sau tiến sĩ thêm hai năm nữa xem ra là điều đương nhiên, và ông ta vẫn ở lại Đại học Illinois.

Đại học Illinois tỏ thái độ hợp tác, nhanh chóng nhận được tài trợ nghiên cứu "sau tiến sĩ" từ một cơ quan chính phủ. Hai năm này trôi qua trong thuận lợi với những thành tựu khoa học liên tiếp, chỉ có chút phiền não cá nhân. Những phiền não này đến từ thói quen của Lord, một thói quen gần như ám ảnh, thường xuyên nhìn lại quá khứ và tự hỏi:

Mình làm đúng không?

Ông ta tính toán: Liệu mình ở lại "nội bộ" Đại học Illinois có sai lầm không? Có phải mình nên rời bỏ trường để sang châu Âu? Liệu châu Âu có cung cấp một nền giáo dục toàn diện hơn không? Những nghi vấn này – hầu hết là không cần thiết – lại không ngừng tăng lên. Chúng khiến ông ta u sầu, nóng nảy. Tính cách như vậy không thay đổi, dần dần khiến ông ta mất đi bạn bè.

Tuy nhiên, ông ta lại đánh giá rất cao về công việc và giá trị của bản thân, cách nhìn này hoàn toàn có lý – đây là một mặt khác trong khối lăng kính đầy mâu thuẫn của Lord. Vì vậy, sau khi hoàn thành hai năm nghiên cứu "sau tiến sĩ", khi Đại học Illinois mời ông ta làm giáo sư trợ lý, ông ta đã không hề ngạc nhiên mà chấp nhận, một lần nữa ở lại "nội bộ". Thời gian trôi qua, ông ta lại lầm bầm tự hỏi quyết định này có đúng không, để những nghi vấn ban đầu tiếp tục dày vò mình.

Một thiên thần có thể thấu suốt tư tưởng của Vincent Lord có lẽ cũng sẽ hỏi – tại sao vậy?

Trong thời gian làm giáo sư trợ lý, danh tiếng chuyên gia steroid của Lord nổi lên, vang xa khỏi phạm vi Đại học Illinois. Trong hơn bốn năm, ông ta đã xuất bản mười lăm bài báo khoa học, vài bài đăng trên các tạp chí danh giá như "Tạp chí Hiệp hội Hóa học Hoa Kỳ", "Tạp chí Hóa sinh", v.v. Xét về chức danh không cao trong trường đại học, đây là một thành tích huy hoàng.

Chính điều này đã kích động Tiến sĩ Lord, và sự phẫn nộ của ông ta ngày càng tăng.

Trong giới học thuật và khoa học đầy bí ẩn, việc thăng tiến nhanh là cực kỳ hiếm, hầu như lúc nào cũng chậm chạp đến mức khó chịu. Bước thăng tiến tiếp theo của Lord là phó giáo sư. Có được chức danh này đồng nghĩa với việc đội lên đầu vòng nguyệt quế, hoặc tương đương với việc có sự đảm bảo kinh tế trọn đời, dù nhìn từ góc độ nào cũng vậy. Phó giáo sư còn là một tấm biển hiệu, nó khẳng định: Bạn đã thành công. Bạn là một thành viên trong giới tinh hoa học thuật. Bạn có thứ mà người khác không thể cướp đi, bạn có quyền tự do muốn làm gì thì làm, cấp trên chỉ có thể can thiệp hạn chế. Bạn đã thành công.

Lord rất cần sự thăng tiến này. Ông ta cần ngay lúc này. Ông ta không muốn đợi thêm hai năm nữa, khoảng thời gian mà theo quy trình thông thường của giới học thuật, ông ta buộc phải chờ đợi.

Vì vậy, vừa tự hỏi tại sao mình không nghĩ ra ý tưởng này sớm hơn, ông ta vừa quyết tâm tìm cách đẩy nhanh tiến độ thăng tiến. Ông ta suy đoán, dựa vào kinh nghiệm của mình, việc này dễ như trở bàn tay, chẳng qua chỉ là thủ tục hành chính.

Ông ta đầy tự tin chuẩn bị một bản tóm tắt luận văn, gọi điện cho Viện trưởng Viện Hóa học, xin một cuộc gặp vào tuần sau. Sau khi ấn định ngày hẹn, ông ta gửi bản tóm tắt luận văn đi trước.

Viện trưởng Viện Hóa học, Robert Harris, là một người nhỏ thó, khô khan và khôn ngoan, mặc dù sự khôn ngoan của ông bao gồm cả việc nghi ngờ khả năng đưa ra quyết định của chính mình sau khi áp dụng phương pháp vấn đáp kiểu Socrates (phương pháp dùng những câu hỏi khéo léo để tìm ra sự thật hoặc chứng minh một luận điểm), vì công việc của ông thường đòi hỏi những quyết định như vậy. Ông cơ bản là một nhà khoa học, vẫn thường xuyên làm việc trong một phòng thí nghiệm nhỏ, mỗi năm còn tham gia vài hội nghị học thuật. Tuy nhiên, phần lớn thời gian làm việc của ông đều bị các công việc hành chính của Viện Hóa học chiếm mất.

Một buổi sáng tháng 3 năm 1957, Viện trưởng Harris đang lật xem bản tóm tắt luận văn của Tiến sĩ Vincent Lord trong văn phòng, đoán xem mục đích của việc gửi bản tóm tắt này là gì. Đối với một người hay thay đổi, khó nắm bắt như Lord, động cơ có thể có đến cả chục loại. Dù sao thì cũng sẽ sớm rõ ràng thôi, vì chủ nhân của bản tóm tắt sẽ đến trong mười lăm phút nữa.

Sau khi đọc kỹ bản tóm tắt trong tập hồ sơ – vị viện trưởng này vốn có bản tính nghiêm túc – và khép lại, ông tựa vào chiếc ghế bành sau bàn làm việc, suy nghĩ về một vài điều liên quan đến Vincent Lord và trực giác cá nhân của ông về người này.

Người này có tiềm năng trở thành thiên tài. Điều đó không nghi ngờ gì. Ngay cả khi viện trưởng không biết điều này từ trước, ông cũng đã nhận ra qua những bài báo của Lord và các bài bình luận, khen ngợi gần đây. Trong lĩnh vực đã chọn, Lord có thể, hoặc có lẽ chắc chắn sẽ, leo lên đỉnh cao của khoa học kỹ thuật.

Nhà khoa học cũng như người thường, cần một chút vận may thích hợp. Nếu Lord có vận may đó, tương lai ông ta sẽ có những phát hiện kinh ngạc, mang lại danh tiếng cho bản thân và Đại học Illinois. Mọi thứ dường như đều chắc chắn, tất cả đèn xanh đều đã bật. Chỉ có điều là...

Tiến sĩ Vincent Lord đôi khi khiến Viện trưởng Harris cảm thấy bất an.

Không phải vì Lord thể hiện tính khí thần kinh nhạy cảm; tài hoa xuất chúng và thần kinh nhạy cảm thường đi đôi với nhau, trước sau như một cũng có thể chấp nhận được. Bất kỳ trường đại học nào – nghĩ đến đây, vị viện trưởng không khỏi thở dài – cũng giống như một nồi nước sôi, bên trong nấu đầy sự thù địch và đố kỵ, thường tranh cãi vì những chuyện lông gà vỏ tỏi, thủ đoạn cũng hèn hạ đến kinh ngạc.

Không, là vì việc khác, vì chuyện nghiêm trọng hơn – vấn đề này từng được đặt ra, gần đây lại được nhắc lại. Vấn đề đó là: Trong thâm tâm Vincent Lord liệu có mầm mống của sự không trung thực, dẫn đến việc làm giả trong học thuật hay không?

Gần bốn năm trước, trong năm đầu tiên Tiến sĩ Lord làm giáo sư trợ lý, ông ta đã chuẩn bị một bài báo dựa trên một loạt kết quả thử nghiệm. Theo lời ông ta, những thử nghiệm này đã tạo ra kết quả bất thường. Khi bài báo sắp được xuất bản, một đồng nghiệp ở Đại học Illinois, một chuyên gia hóa hữu cơ có thâm niên hơn ông ta, tuyên bố rằng ông đã lặp lại các thử nghiệm của Tiến sĩ Lord để đạt được kết quả tương tự nhưng không thành công; kết quả thử nghiệm của ông khác biệt.

Ngay sau đó, một cuộc điều tra đã được tiến hành. Kết quả cho thấy Lord có sai sót. Những sai sót này dường như do hiểu lầm mà vô ý gây ra. Bài báo của Lord được viết lại rồi mới xuất bản. Rốt cuộc cũng không gây ra hỗn loạn khoa học. Nếu kết quả thử nghiệm trên bài báo gốc không được sửa đổi thì mới là tai họa.

Việc này bản thân nó không quan trọng. Chuyện xảy ra với Tiến sĩ Lord đôi khi cũng xảy ra với những nhà khoa học kiệt xuất nhất. Ai cũng phạm sai lầm. Tuy nhiên, nếu một nhà khoa học phát hiện ra sai lầm của chính mình, cách làm được công nhận là bình thường và hợp đạo đức là: Công khai sai lầm đó, sửa đổi bài báo đã xuất bản.

Trường hợp của Lord lại khác, điểm khác biệt nằm ở chỗ: Dựa trên phản ứng của ông ta khi đối mặt với sai lầm, các đồng nghiệp có một trực giác nghi ngờ rằng vốn dĩ ông ta đã biết có sai lầm, rất có thể đã phát hiện ra ngay sau khi bài báo chuẩn bị xong, chỉ là không nói tiếng nào, hy vọng người khác sẽ không chú ý.

Trong khuôn viên trường, đã có một thời gian ồn ào về quan niệm đạo đức và đạo đức nghề nghiệp này. Sau đó, cùng với việc Lord liên tiếp có những phát hiện không thể chê vào đâu được và nhận được nhiều lời khen ngợi, sự ồn ào đó dần lắng xuống, rõ ràng chuyện này đã bị lãng quên.

Viện trưởng Harris cũng gần như quên sạch. Hai tuần trước, khi ông tham gia một hội nghị học thuật ở San Francisco, lời nói của một người khác mới khiến ông nhớ lại.

"Nghe này, Bobby," một tối nọ, người bạn cũ là giáo sư tại Đại học Stanford nói khi đang cùng Harris uống rượu, "Nếu là tôi, tôi sẽ phải để mắt đến gã tên Lord ở chỗ các anh. Chúng tôi có người phát hiện ra hai bài báo gần đây của anh ta không thể sao chép lại được. Việc tổng hợp của anh ta không có vấn đề gì, nhưng chúng tôi không thể đạt được những kết quả kinh ngạc mà anh ta tuyên bố."

Khi bị truy hỏi chi tiết, người cung cấp thông tin nói thêm: "Tôi không nói Lord không trung thực, tất cả chúng ta đều biết anh ta khá giỏi. Nhưng có người có ấn tượng về anh ta, cảm thấy anh ta là một người trẻ vội vàng, có lẽ quá vội vàng. Cả anh và tôi đều hiểu điều đó có nghĩa là gì, Bobby – thỉnh thoảng đi đường tắt, diễn giải luận điểm theo kết quả mà mình mong muốn, điều này đồng nghĩa với việc tự cho mình là đúng trong học thuật, và mang lại nguy hiểm cho học thuật. Vì vậy tôi muốn nói là: Vì lợi ích của Đại học Illinois và của chính anh, hãy để mắt đến anh ta!"

Viện trưởng Harris đầy lo âu gật đầu cảm ơn lời khuyên đó.

Sau khi trở về Champaign-Urbana, ông triệu tập trưởng khoa của Tiến sĩ Lord, thuật lại những lời đã nghe ở San Francisco, sau đó vị viện trưởng hỏi: Rốt cuộc hai bài báo gần đây của Vincent Lord là thế nào?

Ngày hôm sau, trưởng khoa lại đến văn phòng viện trưởng và mang theo câu trả lời. Đúng vậy, Tiến sĩ Lord thừa nhận có tranh cãi về kết quả trong bài báo mới xuất bản; anh ta chuẩn bị làm lại thử nghiệm, nếu thích hợp, sẽ chuẩn bị xuất bản một đính chính.

Nhìn từ bề ngoài – rất đường hoàng. Nhưng hàm ý trong đó là: Nếu người khác không làm cho mọi người chú ý đến vấn đề này, liệu Lord có thực hiện biện pháp nào không?

Lúc này, hai tuần sau, khi Viện trưởng Harris đang cân nhắc vấn đề này, thư ký thông báo: "Tiến sĩ Lord đến gặp ông."

Mười phút sau, Lord kết thúc lời kể của mình: "Đó chính là mục đích tôi đến đây." Ông ta ngồi đối diện viện trưởng qua bàn làm việc. "Ông đã thấy thành tích của tôi trong bản tóm tắt luận văn rồi đấy, Viện trưởng Harris.

Tôi tin rằng thành tích của mình có ý nghĩa tích cực và gây ấn tượng sâu sắc hơn bất kỳ giáo sư trợ lý nào khác trong trường. Thực tế, những người khác còn kém xa. Tôi cũng vừa nói với ông, tương lai tôi chuẩn bị làm những gì.

Tóm lại, tôi cho rằng đẩy nhanh việc thăng tiến mới là công bằng và hợp lý đối với tôi, tôi xứng đáng được thăng tiến ngay bây giờ."

Vị viện trưởng đan hai tay vào nhau, ánh mắt nhìn qua đầu ngón tay quan sát Tiến sĩ Lord, khá thú vị nói: "Xem ra, anh chưa bao giờ phải phiền lòng vì việc đánh giá thấp giá trị của chính mình."

"Tại sao tôi phải phiền lòng?" Câu trả lời nhanh và dứt khoát, thiếu hẳn sự hài hước. Đôi mắt xanh lục thẫm của Lord nhìn chằm chằm vào viện trưởng. "Tôi biết rõ thành tích của mình như bất kỳ ai. Tôi còn biết, thành tích của những người khác ở đây kém hơn của tôi rất, rất nhiều."

"Nếu anh không phiền," Viện trưởng Harris nói với giọng dứt khoát, "chúng ta đừng nói về những người khác nữa. Những người khác không phải là vấn đề. Vấn đề là anh."

Khuôn mặt gầy gò của Lord đỏ gay vì giận. "Tôi không hiểu tại sao lại có vấn đề. Mọi chuyện dường như đã quá rõ ràng. Tôi cho rằng mình vừa nói rất rõ ràng rồi."

"Đúng vậy, anh nói rất rõ ràng, khá thuyết phục." Viện trưởng Harris quyết tâm không để mình mất kiên nhẫn vì đối phương. Dù sao thành tích mà Lord nói đến cũng là sự thật. Tại sao ông phải giả vờ khiêm tốn làm gì?

Thậm chí sự hung hăng của anh ta cũng có lý do. Nhiều nhà khoa học – là một trong số đó, viện trưởng hiểu điều này – đơn giản là không có thời gian để rèn luyện sự khéo léo trong việc xử lý các chi tiết của sự việc.

Vậy ông có nên đồng ý với yêu cầu của Lord, nhanh chóng thăng tiến cho anh ta không? Không. Viện trưởng Harris đã biết mình không thể đồng ý.

"Chắc chắn anh phải biết, Tiến sĩ Lord," ông chỉ rõ, "Tôi không thể tự mình quyết định vấn đề thăng tiến. Với tư cách là viện trưởng, tôi phải rất coi trọng ý kiến của hội đồng viện."

"Đây là –" Lord thốt ra hai từ này rồi dừng lại.

Tiếc thật! Viện trưởng thầm nghĩ, nếu anh ta nói ra từ "nhảm nhí" hoặc từ tương tự, mình đã có lý do để ra lệnh cho anh ta rời khỏi văn phòng. Nhưng đây là cuộc nói chuyện chính thức, vì anh ta kịp thời nhớ ra và kiềm chế, chúng ta cũng chỉ có thể duy trì như vậy.

"Việc thăng tiến mà ông tán thành luôn được thông qua," Lord cau mày nói lại. Anh ta ghét việc phải hạ mình trước viện trưởng, vì anh ta cho rằng viện trưởng trước đây chỉ là một nhà khoa học xoàng xĩnh, hiện tại cũng chỉ là một nhân vật đáng thương chuyên đi giới thiệu luận văn. Rất tiếc, người giới thiệu luận văn này lại có chính quyền đại học đứng sau lưng.

Viện trưởng Harris không trả lời. Lord vừa nói đúng, việc thăng tiến mà ông tán thành chắc chắn được thông qua, đó là sự thật. Nhưng đó là vì: Chỉ khi đảm bảo hội đồng viện sẽ thông qua sự thăng tiến này, ông mới đưa ra thái độ rõ ràng. Mặc dù viện trưởng là người đứng đầu toàn thể nhân viên của viện, nhưng toàn thể nhân viên viện với tư cách là một tập thể còn có quyền lực hơn viện trưởng.

Chính vì điểm này, ông hiểu rõ dù mình có cố sức đề bạt Lord, lúc này cũng không thể khiến việc này được thông qua.

Hiện nay, về hai bài báo gần đây của Lord, trong khuôn viên trường không nghi ngờ gì đã có những lời đồn đại. Ngoài ra, còn vấn đề đạo đức nghề nghiệp, cộng thêm chuyện xảy ra bốn năm trước – vốn gần như đã bị lãng quên, nhưng bây giờ lại bị người ta bàn tán.

Viện trưởng tự nhủ, đã quyết tâm rồi thì việc trì hoãn đưa ra thái độ chẳng có ý nghĩa gì.

"Tiến sĩ Lord," ông bình tĩnh nói, "Bây giờ tôi không định đề bạt anh thăng tiến sớm."

"Tại sao không?"

"Tôi cho rằng, những lý do anh đưa ra không đủ để chứng minh nhất định phải như vậy."

"Ông giải thích câu 'nhất định phải như vậy' xem nào!" Câu nói gay gắt này giống như một mệnh lệnh. Sự kiên nhẫn có giới hạn, viện trưởng đã hạ quyết tâm. Ông lạnh lùng trả lời: "Tôi nghĩ cuộc nói chuyện nên kết thúc ở đây, điều này tốt cho cả hai chúng ta. Tạm biệt!"

Nhưng Lord không hề có ý định rời đi. Anh ta vẫn ngồi đối diện bàn làm việc của viện trưởng, mắt trợn trừng. "Tôi muốn ông cân nhắc lại. Nếu không, có lẽ ông sẽ hối hận đấy."

"Tôi có thể hối hận về phương diện nào?"

"Tôi có thể quyết định không làm việc ở đây nữa."

Viện trưởng Harris thành tâm nói: "Việc đó xảy ra sẽ khiến tôi cảm thấy đáng tiếc, Tiến sĩ Lord. Sự ra đi của anh sẽ là một mất mát. Anh đã mang lại vinh dự cho trường đại học của chúng ta, và tôi tin rằng, anh sẽ còn tiếp tục mang lại. Mặt khác" – viện trưởng để mình mỉm cười nhạt – "Tôi tin rằng, ngay cả khi anh đi rồi, học viện này vẫn sẽ tiếp tục tồn tại."

Lord rời ghế đứng dậy, tức đến mức mặt đỏ bừng. Anh ta không nói một lời, sải bước ra khỏi văn phòng, tiện tay đóng sầm cửa lại.

Viện trưởng, như bao lần trước đây, tự nhắc nhở mình rằng một phần trách nhiệm của ông là bình tĩnh đối phó với những người tài hoa nhưng nóng nảy đó, cách hành xử của họ thường khó mà hiểu nổi. Thế là ông quay lại với những công việc khác.

Tiến sĩ Lord thì không giống viện trưởng, anh ta không thể quên được chuyện này. Trong đầu anh ta như thể đã thu âm, phát đi phát lại cuộc trò chuyện này, khiến anh ta ngày càng đau khổ và phẫn nộ, cuối cùng anh ta không chỉ hận một mình Harris, mà hận cả trường đại học.

Lord nghi ngờ – ngay cả khi chuyện này không được nhắc đến trong cuộc gặp – việc hai bài báo gần đây của anh ta cần phải sửa đổi chút ít có liên quan đến việc anh ta bị từ chối lần này. Sự nghi ngờ này càng khiến anh ta tức giận không chịu nổi. Bởi trong mắt anh ta, điều này so với tổng thành tích học thuật của anh ta thật sự quá nhỏ nhặt. Đúng vậy, ngay cả bản thân anh ta cũng thừa nhận, anh ta biết những sai lầm đó nảy sinh như thế nào. Anh ta quả thực thiếu kiên nhẫn, quá vội vàng, quá hấp tấp. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi nhất, anh ta đã để cho mong muốn về kết quả lấn át, từ bỏ thái độ thận trọng của khoa học. Nhưng từ đó về sau, anh ta thề sẽ không để bất kỳ chuyện tương tự nào xảy ra nữa. Hơn nữa, chuyện này đã qua rồi, anh ta sắp sửa xuất bản tài liệu đính chính. Vậy thì có cần thiết phải đưa chuyện này vào cân nhắc không? Thật là hẹp hòi! Chẳng làm nên trò trống gì!

Lord chưa bao giờ nghĩ rằng, những người chỉ trích anh ta không quan tâm đến bản thân sự việc, bao gồm cả chuyện xảy ra bốn năm trước, họ quan tâm đến những dấu hiệu và tín hiệu trong tính cách của anh ta. Vì Tiến sĩ Lord thiếu sự suy đoán và thấu hiểu về mặt này, nỗi đau của anh ta ngày càng tích tụ sâu hơn.

Vì vậy, ba tháng sau tại một hội nghị học thuật tổ chức ở San Antonio, khi một đại diện của công ty dược phẩm Fielding-Roth tiếp cận anh ta và mời anh ta "qua đó" – cách nói vòng vo để mời chào vị trí – dù anh ta chưa đồng ý ngay, nhưng phản ứng đó ít nhất cũng là "Có lẽ vậy!"

Cách tiếp cận này bản thân nó không có gì lạ. Các công ty dược phẩm lớn luôn chú ý thu nạp nhân tài khoa học kỹ thuật, quan sát chặt chẽ các bài báo do nhân viên kỹ thuật ở các trường đại học xuất bản. Nếu bài báo thu hút sự quan tâm của công ty dược, có lẽ sẽ gửi một lá thư chúc mừng. Sau đó, thông qua một số hội nghị học thuật được tổ chức ở nơi trung gian giữa hai bên, người của công ty dược có cơ hội gặp gỡ các nhà khoa học của trường đại học, và đây là cơ hội tiếp xúc tốt. Thông qua tất cả các cách trên, và từ rất sớm trước hội nghị San Antonio, cái tên Vincent Lord đã là "mục tiêu" được công ty dược phẩm cân nhắc và săn đón.

Tiếp theo là các cuộc đàm phán cụ thể hơn. Fielding-Roth cần một nhà khoa học có trình độ cực cao trong lĩnh vực chuyên môn đó để lãnh đạo việc nghiên cứu steroid. Ngay từ đầu, vài đại diện của công ty này đã rất tôn trọng, coi trọng Tiến sĩ Lord, thái độ này khiến Lord vô cùng vui mừng. Anh ta coi đó là một sự đối lập dễ chịu, vì anh ta luôn cảm thấy mình bị coi thường quá mức ở Đại học Illinois.

Từ góc độ nghiên cứu khoa học, cơ hội này khiến anh ta khá hứng thú. Mức lương đề nghị cũng khiến anh ta hài lòng – mười bốn nghìn đô la một năm, gần như gấp đôi thu nhập của anh ta ở Đại học Illinois.

Nói một cách công bằng cho Lord, sự quan tâm của anh ta đối với bản thân tiền bạc cũng ít như sự quan tâm đối với chuyện ăn uống. Nhu cầu cá nhân của anh ta rất đơn giản: Thu nhập ở trường đại học chưa bao giờ khiến anh ta cảm thấy khó duy trì cuộc sống.

Nhưng đãi ngộ mà công ty dược phẩm đưa ra lại là một sự tâng bốc đối với anh ta – thừa nhận giá trị của anh ta.

Sau khi cân nhắc suốt hai tuần, Tiến sĩ Lord đã chấp nhận vị trí tại công ty. Sau khi nói lời từ biệt với càng ít người càng tốt, ông đột ngột rời Đại học Illinois và bắt đầu làm việc tại Fielding-Roth từ tháng 9 năm 1957.

Gần như ngay khi ông vừa đến công ty, một sự việc kỳ lạ đã xảy ra. Đầu tháng 11, Giám đốc bộ phận nghiên cứu của công ty này trong lúc đang xem kính hiển vi bỗng nhiên mất ý thức rồi qua đời vì xuất huyết não diện rộng. Lord vừa phù hợp, vừa sẵn có, lại hội đủ mọi điều kiện cần thiết. Thế là ông được bổ nhiệm để lấp vào chỗ trống này.

Nay, ba năm đã trôi qua, Tiến sĩ Lord đã cắm rễ vững chắc tại Fielding-Roth. Ông vẫn tiếp tục được kính trọng. Chưa từng có ai nghi ngờ tài năng của ông. Ông quản lý bộ phận nghiên cứu một cách vô cùng hiệu quả, sự can thiệp từ bên ngoài được giảm xuống mức tối thiểu. Mặc dù Lord có những nỗi niềm cá nhân do tính cách, nhưng ông lại hòa thuận với những người trong bộ phận nghiên cứu. Quan trọng không kém là công việc nghiên cứu của chính ông cũng tiến triển rất thuận lợi.

Nếu là người khác, trong hoàn cảnh này, đa phần đều sẽ thấy mãn nguyện. Nhưng Lord thì khác, ông luôn mắc chứng bệnh tâm lý thích nhìn lại quá khứ: thường xuyên tự phản tỉnh một cách đầy hoài nghi về những quyết định đã đưa ra từ lâu. Ông vẫn canh cánh trong lòng chuyện Đại học Illinois không chịu thăng chức phó giáo sư cho mình, mức độ phẫn nộ và đau khổ chẳng hề vơi bớt. Ngay lúc này ông cũng có phiền não, ít nhất là ông nghĩ vậy. Ông nghi ngờ những nhân viên khác ngoài bộ phận nghiên cứu trong công ty. Liệu có ai đang ngấm ngầm chống đối ông không? Có mấy người ông không thích cũng không tin tưởng – một trong số đó chính là người phụ nữ đầy tham vọng kia. Celia Jordan quá mức nổi bật. Ông cảm thấy khó chịu trước việc cô được thăng tiến. Ông coi cô là đối thủ cạnh tranh của mình về quyền lực và uy vọng.

Ông hy vọng luôn tồn tại một khả năng như thế này: mụ đàn bà Jordan đó vì làm việc quá đà mà sụp đổ, biến mất không dấu vết. Đáng tiếc, đối với Tiến sĩ Lord mà nói, chuyện này vẫn chưa thể xảy ra ngay lập tức.

Tất nhiên, những chuyện như thế này sẽ chẳng đáng bận tâm, thậm chí nỗi nhục nhã từ Đại học Illinois trước kia cũng sẽ chẳng là gì cả.

Chỉ cần chuyện mà hiện nay đã bắt đầu nhen nhóm xảy ra, thì sẽ không ai có thể tiếp cận được trình độ của Vincent Lord về mặt quyền lực và sự kính trọng.

Giống như đa số các nhà khoa học, khát vọng khám phá thế giới chưa biết đã thôi thúc Lord. Cũng như các nhà khoa học khác, ông sớm mơ ước một mình đạt được bước đột phá quan trọng, phát minh của ông sẽ thu hút sự chú ý, đẩy ranh giới của lĩnh vực tri thức tiến về phía trước, khiến tên tuổi ông lưu danh sử sách.

Giấc mơ như vậy nay xem ra đã có thể thực hiện được.

Tại Fielding-Roth, ông đã miệt mài làm việc suốt ba năm dựa trên những ý tưởng mà ông tự biết là cực kỳ xuất sắc, giờ đây một loại hợp chất cuối cùng cũng sắp được nghiên cứu thành công, nó sẽ là một loại thuốc mới tuyệt vời. Còn rất nhiều việc phải làm, ít nhất cần thêm hai năm nghiên cứu và thử nghiệm trên động vật. Nhưng giai đoạn đầu của nghiên cứu đã thành công, bước tiếp theo, rồi bước tiếp theo nữa, các biển báo ở mọi ngã tư đều rất rõ ràng. Với kiến thức, kinh nghiệm và trực giác khoa học của mình, Lord có thể nhìn thấy rõ ràng những biển báo đó.

Tất nhiên, thuốc mới một khi ra thị trường sẽ mang lại sự giàu có không ngờ cho Fielding-Roth. Nhưng điều đó không quan trọng. Điểm quan trọng nằm ở chỗ: thuốc mới có liên quan thế nào đến việc Tiến sĩ Vincent Lord đạt được danh tiếng toàn cầu.

Ông chỉ cần thêm một chút thời gian nữa thôi.

Khi đó ông sẽ cho họ thấy. Trời đất chứng giám, ông sẽ cho tất cả bọn họ thấy!

---❊ ❖ ❊---

Sự kiện Thalidomide bùng nổ!

Đúng như Celia đã nói rất lâu sau đó, "Mặc dù lúc đó không ai trong chúng ta nhận ra, nhưng sau khi sự kiện Thalidomide trở nên phổ biến, mọi chuyện trong ngành dược phẩm sẽ không bao giờ hoàn toàn giống như trước nữa."

Sự việc bắt đầu phát triển chậm chạp. Chỉ có một vài nơi chú ý đến chuyện này, và – trong tâm trí những người liên quan ban đầu – họ không hề liên kết sự việc này với loại thuốc đó.

Vào tháng 4 năm 1961, các bác sĩ nội khoa tại Cộng hòa Liên bang Đức vô cùng chấn động trước sự xuất hiện của một loại triệu chứng chi hải cẩu. Đây là một hiện tượng hiếm gặp: trẻ sơ sinh khi chào đời đã là những đứa trẻ dị dạng đáng thương, không có hai tay hoặc hai chân, chỉ có những chi nhỏ bé, vô dụng, giống như đôi vây của hải cẩu. Theo báo cáo, năm trước đó có hai ca dị dạng như vậy – dù hai ca cũng là con số chưa từng có, bởi vì như một nhà nghiên cứu đã nói, "Trẻ sơ sinh có hai đầu còn phổ biến hơn." Nay, trẻ sơ sinh chi hải cẩu đột nhiên xuất hiện hàng chục ca.

Một số người mẹ, khi được cho xem những đứa con dị dạng mà họ sinh ra, đã hét lên vì kinh ngạc và tuyệt vọng. Một số người mẹ khóc, bởi vì như một người mẹ đã nói, họ biết rằng, "Con trai tôi sẽ vĩnh viễn không thể tự đưa thức ăn vào miệng, không thể tự tắm rửa, không thể tự giải quyết các vấn đề vệ sinh cơ bản, không thể mở cửa, không thể ôm phụ nữ vào lòng, thậm chí không thể tự viết tên mình."

Trong số những người mẹ này, có vài người đã tự sát, nhiều người khác thì cần đến sự điều trị của bác sĩ tâm thần. Một người cha vốn sùng đạo đã nguyền rủa Chúa. "Tôi muốn nhổ nước bọt và đại tiện lên người Ngài!" Sau đó ông lại đính chính lời mình. "Vốn dĩ làm gì có Chúa. Làm sao có thể có được?"

Hơn nữa, nguyên nhân xuất hiện dị dạng chi hải cẩu vẫn chưa được làm rõ (theo giải thích, từ "phocomelia" bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp – "phoke" nghĩa là "hải cẩu", "melos" nghĩa là "chi"). Một số bài báo nghiên cứu cho rằng, có thể là do bụi phóng xạ của bom nguyên tử gây ra. Cũng có người nói, là do một loại virus đang tác oai tác quái.

Nhiều trẻ sơ sinh ngoài việc thiếu tay chân ra, còn có các khiếm khuyết khác: không có tai hoặc tai dị dạng, tim, ruột hoặc các cơ quan khác không hoàn thiện hoặc hoạt động không bình thường. Một số trẻ sơ sinh đã tử vong – được gọi là những "đứa trẻ may mắn".

Tiếp đó, vào tháng 11 năm 1961, hai bác sĩ không quen biết nhau – một là bác sĩ nhi khoa ở Cộng hòa Liên bang Đức, một là bác sĩ sản khoa ở Úc – đã cùng đưa ra nhận định liên kết dị dạng chi hải cẩu với loại thuốc Thalidomide. Sau đó, rất nhanh chóng đã chứng minh được rằng, việc ra đời của những đứa trẻ dị dạng này đúng là do Thalidomide gây ra.

Chính phủ Úc phản ứng nhanh chóng, ngay trong tháng công bố liên kết nêu trên đã cấm bán Thalidomide. Cộng hòa Liên bang Đức và Anh cấm dùng loại thuốc này một tháng sau đó, tức là vào tháng 12. Nhưng ở Mỹ, phải mất thêm hai tháng nữa, mãi đến tháng 2 năm 1962, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) mới bác bỏ đơn đăng ký Thalidomide-Contergan. Canada thì không hiểu sao mãi đến tháng 3 mới cấm bán loại thuốc này – chậm hơn Úc bốn tháng, khiến nhiều người bao gồm cả phụ nữ mang thai vẫn tiếp tục sử dụng nó trong thời gian này.

Celia và Andrew chú ý đọc các báo cáo về thảm kịch này trên các tạp chí khoa học và báo chí thông thường. Họ thường xuyên bàn luận về việc này.

Một ngày nọ trong bữa tối, Celia nói, "Andrew, em thật mừng vì trong thời gian mang thai anh không cho em uống bất kỳ loại thuốc nào!" Vài phút trước, cô nhìn hai đứa con khỏe mạnh bình thường của họ với ánh mắt trìu mến và biết ơn. "Em cũng có thể đã uống Thalidomide. Nghe nói vợ của một số bác sĩ đã uống rồi."

Andrew bình thản nói, "Chính anh cũng có một ít Contergan."

"Anh có sao?"

"Là mẫu thử do một nhân viên tiếp thị thuốc mới đưa cho anh."

Celia giật mình, cô nói, "Nhưng anh không dùng chứ?"

Andrew lắc đầu. "Anh muốn nói là lúc đó anh đã nghi ngờ loại thuốc này, nhưng đó không phải sự thật. Anh chỉ là quên mất có loại thuốc này thôi."

"Những mẫu thử đó hiện giờ ở đâu?"

"Hôm nay anh mới nhớ ra chỗ để, anh đã tìm thấy hết rồi, có tới mấy trăm viên lận. Trong một bài báo anh đã đọc, có hơn 2,5 triệu viên đã được phân phát đến tay các bác sĩ Mỹ. Anh đã vứt tất cả mấy trăm viên đó vào bồn cầu xả nước trôi đi rồi."

"Tạ ơn Chúa."

"Anh cũng muốn nói như vậy."

Những tháng sau đó, liên tiếp có những tin tức mới về Thalidomide truyền đến. Ước tính có khoảng hai mươi nghìn đứa trẻ dị dạng như vậy ở hai mươi quốc gia, mặc dù con số chính xác không bao giờ có thể biết được.

Tại Mỹ, con số trẻ sơ sinh dị dạng chi hải cẩu rất thấp – khoảng 18, 19 ca – bởi vì chưa bao giờ phê duyệt loại thuốc này cho người sử dụng phổ biến. Nếu từng phê duyệt, số trẻ dị dạng thiếu tay thiếu chân ở Mỹ rất có thể đã lên đến mười nghìn.

"Anh nghĩ chúng ta đều nên cảm ơn người phụ nữ tên Kelsey đó," một ngày Chủ nhật tháng 7 năm 1962, Andrew nói với Celia. Lúc này anh đang ở nhà, ngồi thoải mái trong thư phòng nhỏ của hai người, trước mặt anh là tờ báo đang mở.

"Kelsey" chính là Tiến sĩ Frances Kelsey, bà là một quan chức phụ trách thuốc men tại FDA, bà không màng đến sự thúc ép của các công ty dược phẩm, dùng các thủ tục hành chính để trì hoãn, nhờ đó Thalidomide-Contergan đã không thể bán trên thị trường. Hiện nay, Tiến sĩ Kelsey khẳng định: bà luôn nghi ngờ tính an toàn của loại thuốc này là có cơ sở khoa học, từ đó trở thành nhân vật anh hùng của cả nước. Tổng thống Kennedy đã trao tặng bà một chiếc huy chương vàng công trạng của Tổng thống, đây là huy chương danh dự cao quý nhất mà một công dân Mỹ có thể đạt được.

"Bởi vì kết quả cho thấy," Celia nói, "việc bà ấy làm là đúng, em đồng ý cảm ơn bà ấy. Nhưng cũng có người nói, bà ấy là vì không làm gì cả nên mới nhận được huy chương này, bà ấy chỉ chậm trễ không đưa ra quyết định, đây là cách bảo hiểm mà các quan liêu luôn thích áp dụng, vì vậy nói bà ấy hiện nay tự xưng có tầm nhìn xa trông rộng là không đúng sự thật. Đồng thời, cũng có người lo lắng, việc Kennedy làm có nghĩa là, trong tương lai, nếu có các quan chức FDA khác cũng muốn có một tấm huy chương, thì những loại thuốc tốt thực sự cần thiết cho mọi người cũng sẽ bị trì hoãn mà không được sử dụng."

"Điều em cần hiểu là," Andrew nói, "tất cả những kẻ làm chính trị đều chỉ quan tâm đến điều gì có lợi cho mình, không màng đến đúng sai. Kennedy cũng không ngoại lệ, Kefauver cũng vậy. Cả hai người họ đều đang lợi dụng sự kiện Thalidomide để đánh bóng bản thân. Tuy nhiên, chúng ta vẫn cần một loại luật mới. Bởi vì bất kể Thalidomide còn có tác dụng gì khác, Celia, nó thực sự đã chứng minh rằng, ngành dược phẩm các em quản lý không tốt chính mình, còn chứng minh rằng, có những nhà sản xuất trong ngành dược phẩm đã thối nát rồi."

Lời bình luận này được khơi nguồn bởi một loạt các vụ phơi bày. Sau khi điều tra các công ty dược phẩm chịu trách nhiệm về sự kiện Thalidomide, gần như mỗi ngày đều có những sự thật về sự lừa dối, độc ác, tham lam, che đậy, bất tài, v.v. được phơi bày ra ánh sáng.

Celia buồn bã thừa nhận, "Em ước mình có thể tranh luận với anh. Nhưng bất kỳ người nào có lý trí bình thường đều không thể làm vậy."

Điều kinh ngạc là, mặc dù trước đó còn có những trò chính trị, một số dự luật tốt vẫn xuất hiện, và được Tổng thống Kennedy ký thành luật vào tháng 10 năm 1962. Mặc dù luật mới còn lâu mới hoàn hảo, một số điều khoản sau này còn khiến một số loại thuốc mới vô cùng hữu ích không thể đến tay người đang cần gấp, nhưng dù sao nó cũng cung cấp cho người tiêu dùng những biện pháp bảo vệ mà "trước Thalidomide" không có. Thời đại "trước Thalidomide" sau đó được giới dược phẩm gọi tắt là "tiền Thalidomide".

Cũng vào tháng 10, tin tức truyền đến tai Celia rằng, Tổng giám đốc kiêm Chủ tịch của Fielding-Roth là Eli Compton đã bị bệnh vài tháng rồi, sắp qua đời. Bởi vì ông bị ung thư.

Celia nghe tin này chưa được mấy ngày, Hawthorne đã gọi cô vào văn phòng của ông. "Eli gửi tin nhắn, ông ấy muốn gặp cháu. Ông ấy đã được đón từ bệnh viện về nhà. Ta đã sắp xếp xong, ngày mai sẽ phái xe đưa cháu đi."

Nhà ông ở bên hồ tại núi Kemble, cách thành phố Morris 5 dặm về phía tây nam. Ngôi nhà nằm ở cuối một con đường lái xe dài, nhìn từ xa hoàn toàn không thấy, bởi vì bị cây cối và bụi rậm dày đặc che khuất. Ngôi nhà này vừa lớn vừa cổ kính, những viên gạch xây mặt tiền do dãi nắng dầm mưa mà trông xanh rì. Nhìn từ bên ngoài, bên trong dường như rất tối. Bước vào trong, quả nhiên rất tối.

Một quản gia già còng lưng dẫn Celia vào nhà. Ông đưa cô đến một phòng khách lộng lẫy được trang trí bằng những món đồ nội thất cổ nặng nề, mời cô đợi một lát. Ngôi nhà rất yên tĩnh, không nghe thấy tiếng động nào. Celia nghĩ, có lẽ đây là do Eli Compton sống một mình gây ra; cô biết ông đã góa vợ nhiều năm rồi.

Vài phút sau, một y tá mặc đồng phục trắng xuất hiện. Cô trẻ trung, xinh đẹp, hoạt bát, tạo thành sự tương phản với mọi thứ xung quanh. "Mời cô đi theo tôi, bà Jordan. Ông Compton đang đợi cô đấy!"

Khi họ bước trên tấm thảm dày, đi lên chiếc cầu thang rộng hình vòng cung, Celia hỏi, "Ông ấy thế nào rồi?"

Y tá thực tế nói, "Rất yếu, đau dữ dội, mặc dù chúng tôi đã dùng thuốc giảm đau để giảm bớt sự đau đớn cho ông ấy. Nhưng hôm nay không dùng. Ông ấy nói ông ấy muốn giữ tỉnh táo." Cô tò mò nhìn Celia. "Ông ấy vẫn luôn mong chờ cô đến." Không xa đầu cầu thang, y tá mở một cánh cửa phòng, ra hiệu cho Celia đi vào.

Ban đầu, Celia rất khó nhận ra hình người hốc hác được đỡ bằng mấy cái gối trên chiếc giường bốn cọc đó.

Eli Compton, người mà không lâu trước đây dường như vẫn là biểu tượng của sức mạnh và quyền lực, nay lại tiều tụy không chịu nổi, khuôn mặt đầy vẻ bệnh tật, yếu ớt không sức lực – là một bức chân dung biếm họa về ông của ngày xưa. Đôi mắt trũng sâu của ông nhìn Celia, khuôn mặt muốn mỉm cười cũng biến dạng. Khi ông nói chuyện, giọng nói mỏng manh. "E rằng bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối trông không đẹp mắt lắm, bà Jordan. Ta đã do dự, liệu có nên để cháu thấy bộ dạng này của ta không, nhưng, có một số việc ta muốn nói trực tiếp với cháu. Cảm ơn cháu đã đến đây."

Y tá mang đến một chiếc ghế rồi rời đi, để lại hai người họ. Thế là Celia ngồi xuống chiếc ghế trước giường. "Cháu rất sẵn lòng đến, ông Compton. Ông bị bệnh, cháu thực sự rất buồn."

"Những người lớn tuổi hơn ta đa số gọi ta là Eli. Nếu cháu cũng gọi như vậy, ta sẽ rất vui."

Cô mỉm cười. "Vậy tên cháu là Celia."

"Ồ, ta biết tên cháu. Ta còn biết cháu rất quan trọng đối với ta, Celia." Ông nâng bàn tay yếu ớt, chỉ vào một chiếc bàn ở phía bên kia căn phòng. "Đằng kia có một cuốn tạp chí 'Life', còn có mấy tờ giấy. Đưa cho ta được không?"

Cô đã tìm cuốn tạp chí và mấy tờ giấy đó cho ông. Compton bắt đầu khó khăn lật từng trang 'Life', cho đến khi lật đến trang ông muốn tìm.

"Có lẽ cháu đã thấy cái này rồi."

"Là bài báo về Thalidomide kèm theo ảnh những đứa trẻ dị dạng sao? Đúng, cháu đã thấy."

Ông sờ vào mấy tờ giấy khác. "Đây là những báo cáo và hình ảnh khác, có cái vẫn chưa công khai. Ta vẫn luôn theo sát việc này. Thật đáng sợ, phải không?"

"Thật đáng sợ."

Họ dừng lại một lúc không nói gì, sau đó ông nói, "Celia, cháu biết ta sắp chết không?"

Cô nhẹ nhàng trả lời, "Cháu biết."

"Ta nhất quyết bắt những bác sĩ chết tiệt đó nói thật với ta. Ta nhiều nhất chỉ còn sống được một hai tuần nữa; có lẽ chỉ vài ngày thôi. Vì vậy, ta bảo họ đưa ta về nhà. Chết ngay tại đây." Cô đang định nói, ông dùng cử chỉ ngăn cô lại. "Đừng, cháu nghe ta nói."

Ông dừng lại nghỉ một lát. Rõ ràng, việc cố gắng nói những lời này đã khiến ông mệt mỏi. Ông lại tiếp tục.

"Điều này thật ích kỷ, Celia. Công bố những thứ này không có lợi gì cho những đứa trẻ tội nghiệp vô tội đó cả." Ngón tay ông chạm vào những bức ảnh trên tạp chí. "Nhưng ta rất vui, khi ta chết, lương tâm không cần phải bất an vì điều này. Mà ta có thể chết không hối tiếc hoàn toàn là nhờ có cháu."

Cô tranh luận, "Eli, cháu nghĩ cháu biết ông đang nghĩ gì, nhưng khi cháu đề nghị..."

Ông tiếp tục như thể không nghe thấy gì. "Khi người của Fielding-Roth chúng ta có loại thuốc đó, chúng ta chuẩn bị tiếp thị rộng rãi. Lúc đó chúng ta tin chắc sẽ kiếm được nhiều tiền. Chúng ta định thử nghiệm rộng rãi, sau đó ép FDA phê duyệt. Có lẽ lúc đó nó đã được phê duyệt, bởi vì thời điểm của chúng ta khác, có thể do một người khác thẩm định. Những việc loại này không phải lúc nào cũng phù hợp với logic."

Ông lại dừng lại, để tích lũy một chút sức lực, tập trung tư tưởng. "Cháu khuyên chúng ta chỉ thử nghiệm trên người già; cho nên người dưới sáu mươi tuổi chưa từng thử qua. Mà loại thuốc này lại không có tác dụng trên người già. Chúng ta từ bỏ. Sau đó ta biết có người chỉ trích cháu... nhưng nếu chuyện sau đó... giống như chúng ta bắt đầu tính toán... thì ta đã có trách nhiệm..." Ngón tay ông lại chạm vào những bức ảnh trên tạp chí. "Ta sẽ chết với gánh nặng khủng khiếp. Mà bây giờ..."

Đôi mắt Celia nhòe đi. Cô nắm lấy tay ông nói, "Eli, xin đừng kích động."

Ông gật đầu, đôi môi đang cử động. Cô cúi người lại gần hơn để nghe ông nói. "Celia, ta nghĩ cháu có một thứ: một thiên bẩm phán đoán đúng sai, một bản năng. Ngành này của chúng ta sắp xảy ra những thay đổi to lớn, những thay đổi này ta không nhìn thấy được nữa... Có vài người trong công ty chúng ta cho rằng cháu rất có tiền đồ. Điều này rất tốt... Cho nên ta muốn khuyên cháu, lời khuyên cuối cùng của ta... hãy tận dụng thiên bẩm của cháu, Celia. Hãy tin vào bản năng tốt đẹp của chính mình. Khi cháu nắm quyền, hãy kiên định làm những việc cháu cho là đúng... đừng để những người có phong cách thấp kém ngăn cản cháu..."

Giọng ông không còn nghe thấy nữa. Một cơn đau làm vặn vẹo khuôn mặt ông.

Celia cảm thấy phía sau có động tĩnh, quay đầu lại nhìn. Cô y tá trẻ đã lặng lẽ bước vào phòng. Cô đặt khay đựng ống tiêm bên cạnh giường, động tác nhanh nhẹn. Cô cúi người hỏi bệnh nhân, "Lại đau rồi sao, ông Compton?" Ông yếu ớt gật đầu, cô liền xắn tay áo ngủ của ông lên, tiêm thuốc trong ống tiêm vào cánh tay ông. Gần như ngay lúc đó, khuôn mặt căng cứng của ông giãn ra, đôi mắt cũng nhắm lại.

"Ông ấy hiện đã mất ý thức rồi, bà Jordan," y tá nói. "E rằng cô ở lại cũng chẳng có ý nghĩa gì." Cô lại một lần nữa tò mò nhìn Celia. "Hai người nói chuyện xong rồi sao? Có vẻ cuộc trò chuyện này rất quan trọng với ông ấy."

Celia gấp cuốn tạp chí 'Life' lại, cùng với mấy tờ giấy khác đặt lại chỗ cũ.

"Xong rồi," Celia nói, "cháu nghĩ đã nói xong rồi."

Không biết thế nào – dù sao không phải Celia, cô giữ kín như bưng – tin tức về cuộc gặp gỡ giữa cô và Eli Compton dần dần lan truyền trong công ty. Kết quả là cô phát hiện người khác nhìn cô, vừa tò mò vừa kính trọng, đôi khi còn có chút sợ hãi. Bao gồm cả chính Celia, không ai có ảo tưởng rằng, năm năm trước cô đề xuất phạm vi thử nghiệm Thalidomide là do sự thấu hiểu đặc biệt; thực tế chỉ là thử nghiệm chưa thành công mà thôi. Nhưng con đường công ty đã đi khiến nó tránh được hậu quả thảm khốc, đây dù sao cũng là sự thật; và sự đóng góp của Celia trong việc đi con đường này khiến cô có đầy đủ lý do để được người khác biết ơn.

Trong số các nhân vật lãnh đạo của công ty chỉ có một người không thừa nhận vai trò của Celia, người này chính là Giám đốc bộ phận nghiên cứu. Mặc dù ban đầu ông hết sức chủ trương thử nghiệm rộng rãi Thalidomide, thậm chí muốn giao loại thuốc này cho bác sĩ sản khoa để phụ nữ mang thai cũng thử dùng – điểm này Celia đặc biệt phản đối – nhưng giờ đây thì sao, ông không hề nhắc đến việc mình từng hiến kế cho loại thuốc này trong khía cạnh đó. Ngược lại, ông còn nhắc nhở người khác: khi loại thuốc này thử nghiệm trên người già không hiệu quả, chính là ông đã đưa ra quyết định từ bỏ loại thuốc này. Lời ông nói không sai, nhưng không toàn diện.

Tuy nhiên, không có nhiều thời gian để bàn luận kéo dài. Cái chết của Compton xảy ra hai tuần sau khi Celia đến thăm ông. Ngày hôm sau, tức ngày 8 tháng 11 năm 1962, nhiều tờ báo với lòng kính trọng đã đăng tải bài cáo phó dài về sự ra đi của Compton. Tất nhiên một bài cáo phó dài hơn là của bà Eleanor Roosevelt, bà cũng qua đời vào ngày hôm trước. Đúng như Celia nói với Andrew, "Có vẻ như, dường như hai nhân vật lịch sử cùng đi một lúc – một người là nhân vật lịch sử lớn, người kia là nhân vật lịch sử nhỏ hơn, nhưng em là một phần trong lịch sử nhỏ đó."

Cái chết của Tổng giám đốc Fielding-Roth đã gây ra một số thay đổi trong nội bộ công ty, ví dụ như hội đồng quản trị đã bổ nhiệm Tổng giám đốc mới, những người khác chuyển lên một bậc trên nấc thang thăng tiến. Trong số những người được thăng tiến có Sam Hawthorne, ông trở thành một trong những Phó tổng giám đốc và Giám đốc bộ phận kinh doanh toàn quốc. Còn Teddy Upshaw thì sao, điều khiến ông vô cùng vui mừng là, lại được bổ nhiệm làm Giám đốc bộ phận kinh doanh sản phẩm bán lẻ, loại sản phẩm này do phân nhánh công ty liên doanh Bray cung cấp cho thị trường. "Làm việc ở bộ phận này là một cơ hội tuyệt vời, thực sự làm công việc kéo người vào, đánh ra ngoài," Teddy hào hứng mô tả với Celia về sự điều chuyển sắp tới của mình.

"Anh đã tiến cử em kế nhiệm chức vụ của anh, nhưng anh phải nói với em, ở đây vẫn có người không thích để phụ nữ làm bất kỳ Giám đốc bộ phận nào." Ông lại nói, "Nói thật lòng, trước kia anh cũng thường có cảm giác tương tự, nhưng em đã thay đổi cách nhìn của anh."

Tám tuần nữa lại trôi qua, trong khoảng thời gian này, Celia đảm nhiệm mọi công việc của một giám đốc bộ phận đào tạo kinh doanh, chỉ là thiếu đi cái danh xưng đó mà thôi. Ngày tháng dần trôi, cô ngày càng cảm thấy chán nản trước sự đối xử bất công này.

Sau đó, vào một buổi sáng đầu tháng Một, Hawthorne lặng lẽ bước vào văn phòng của cô, gương mặt tràn đầy vẻ vui mừng. "Trời đất chứng giám, chúng ta làm được rồi!" ông tuyên bố. "Có mấy gã đàn ông bảo thủ cứng đầu, tôi buộc phải đối đầu gay gắt với họ, nhưng cuối cùng thì mọi chuyện cũng đã ngã ngũ. Cô chính thức là giám đốc của bộ phận này rồi. Quan trọng hơn thế, Celia, cô đã chính thức bước vào lộ trình thăng tiến cấp tốc của công ty."

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:4
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »