Trên thảo nguyên mênh mông, một đoàn thương đội đang men theo một con sông lớn chậm rãi tiến về phía Bắc. Đây là đoàn thương đội đến từ Sóc Phương, bao gồm gần một nghìn con lạc đà cùng hàng chục gã sai vặt.
Thủ lĩnh thương đội tên là Tiết Đức Cát, là một đại thương nhân của bộ lạc Tư Kết. Ông ta nhận ủy thác của Lý Nghiệp để đi đến bộ lạc Kiên Côn.
Trên lưng hàng trăm con lạc đà chở theo mười vạn thanh chiến đao và mười vạn cây trường mâu. Tất cả đều là những loại binh khí cũ đã được quân Đường loại biên, vốn dĩ phải đưa vào lò nung nấu lại, nhưng Lý Nghiệp lại quyết định tặng chúng cho bộ lạc Kiên Côn.
Bộ lạc Kiên Côn sinh sống tại khu vực dãy núi Sayan ngày nay, thời nhà Đường gọi là Khúc Mạn Sơn. Nơi đây sông ngòi dày đặc, nguồn nước và cỏ cây vô cùng tươi tốt.
Bộ lạc Kiên Côn chính là tổ tiên của người Kyrgyz ngày nay, là một dân tộc cổ xưa như Hung Nô. Họ đều tóc vàng mắt xanh, da trắng như tuyết, thuộc chủng tộc da trắng. Họ luôn tự nhận mình là hậu duệ của Hán tướng Lý Lăng, và từ xưa đến nay, Lý Lăng cùng con cháu ông luôn là quốc vương của Kiên Côn.
Sau khi các triều đại Trung Nguyên thống nhất, bộ lạc Kiên Côn trước là quy thuận nhà Tùy, sau đó quy thuận nhà Đại Đường. Cả hai triều đại Tùy - Đường đều rất coi trọng thực lực mạnh mẽ của Kiên Côn, nên đã viện trợ rất lớn cho họ để liên thủ chống lại Đột Quyết.
Lý Nghiệp chẳng qua chỉ là đang tiếp nối quốc sách của nhà Đường, tiếp tục ủng hộ Kiên Côn. Tất nhiên, ông hy vọng sau khi bộ lạc Kiên Côn nhận được sự viện trợ quân sự liên tục từ mình, họ sẽ tạo ra sự kiềm chế to lớn đối với Hồi Hột.
Lý Nghiệp cũng biết, trong lịch sử thì Hồi Hột chính là bị Kiên Côn tiêu diệt, nhưng đó là chuyện của trăm năm sau.
Song, Lý Nghiệp tin chắc rằng một khi bộ lạc Kiên Côn nhận được sự viện trợ quân sự của mình, họ nhất định sẽ gây áp lực lên Hồi Hột từ phía Tây, khiến Hồi Hột không dám khinh suất hành động.
Tiết Đức Cát quanh năm buôn bán qua lại giữa thảo nguyên, Sóc Phương và Hà Tây, thỉnh thoảng cũng đến Lũng Hữu. Ông ta có nhân duyên rất rộng, chính Bùi Tuấn đã giới thiệu ông ta cho Lý Nghiệp.
Ông ta vui vẻ đồng ý thay Lý Nghiệp vận chuyển số binh khí này. Tất nhiên, Lý Nghiệp cũng không bạc đãi ông, đã đưa cho ông một nghìn quan tiền làm lộ phí.
Tiết Đức Cát xuất phát từ Lương Châu ở Hà Tây, đi qua Cư Diên Hải, xuyên qua bộ lạc Tư Kết, vượt qua núi Đường Nỗ Ô Lương, trải qua một tháng rưỡi mới tiến vào phạm vi thế lực của bộ lạc Kiên Côn. Thế nhưng, để đến được Nha trướng của Khả hãn ở phía Bắc Khúc Mạn Sơn, ít nhất còn phải đi thêm một tháng nữa.
Tiết Đức Cát hiểu rất rõ số binh khí này là vật tư chiến lược quý giá nhất trên thảo nguyên. Nếu bị lộ ra ngoài, chắc chắn sẽ gây ra một trận sóng gió kinh thiên động địa, bị vô số bộ lạc nhòm ngó.
Tuy nhiên, Tiết Đức Cát là người dày dạn kinh nghiệm, ông biết cách tránh né quân đội của các bộ lạc. Ông chọn con đường đi qua khu vực giáp ranh giữa bộ lạc Tư Kết, bộ lạc Đô Bá và bộ lạc Cát La Lộc. Nơi đây đối với bất kỳ bộ lạc nào cũng là vùng hẻo lánh, hơn nữa sẽ không có quân đội đồn trú.
Thực tế, Tiết Đức Cát vốn là người của bộ lạc Tiết cũ. Bộ lạc của ông đã bị Tư Kết thôn tính, nên hiện tại ông là đại thương nhân của Tư Kết. Nhưng ông không hề có chút cảm giác thuộc về đối với Tư Kết, ngược lại còn coi Tư Kết là kẻ xâm lược đã thôn tính cố quốc của mình, khiến trong lòng ông tràn đầy sự căm hận.
Sáng hôm đó, một thuộc hạ từ xa phi ngựa lao tới, hét lớn: "Thủ lĩnh, phía trước có một đội quân!"
"Là cờ hiệu gì?" Tiết Đức Cát cao giọng hỏi.
"Là cờ chim ưng!"
Tiết Đức Cát trút được gánh nặng trong lòng: "Không sao, họ chính là quân đội của Kiên Côn!"
Các bộ lạc trên thảo nguyên đều lấy sói làm vật tổ, về cơ bản đều là cờ sói đủ màu sắc, nhưng bộ lạc Kiên Côn lại dùng cờ chim ưng.
Chẳng bao lâu sau, một đội kỵ binh nghìn người phi đến. Vị Thiên phu trưởng dẫn đầu quát hỏi: "Các ngươi là thương đội ở đâu?"
Tiết Đức Cát tiến lên nói: "Ta là bạn của A Lỗ Đặc, là thương nhân của Tư Kết. Nhưng chúng ta đến từ Đại Đường, triều đình nhà Đường ủy thác ta vận chuyển một số binh khí cho Khả hãn của các người!"
A Lỗ Đặc là nhân vật số hai của bộ lạc Kiên Côn, tương đương với Tể tướng. Thiên phu trưởng nghe nói là bạn của A Lỗ Đặc thì không dám chậm trễ, lại nghe nói quân Đường gửi binh khí cho họ, ông ta lập tức vui mừng khôn xiết, liền nói: "Khả hãn của chúng ta đang ở sông Dương cách đây ba trăm dặm, ta sẽ hộ tống các ngươi đi!"
Tiết Đức Cát nghe tin Kiên Côn Khả hãn đang ở sông Dương thì giật mình kinh hãi. Sông Dương cách địa giới Hồi Hột rất gần, họ đang định làm gì đây?
Thông thường, Kiên Côn Khả hãn đều ở phía Bắc Khúc Mạn Sơn, phía Tây Kiếm Hà, cách đây hơn hai nghìn dặm. Giờ đây lại đang ở sông Dương chỉ cách Hồi Hột vài trăm dặm, Tiết Đức Cát lập tức nhận ra, e rằng bộ lạc Kiên Côn có mưu đồ đối với Hồi Hột hoặc bộ lạc Đô Bá rồi.
Ba ngày sau, Tiết Đức Cát đến đại doanh sông Dương. Bộ lạc Kiên Côn tập trung tại đây năm vạn đại quân và hàng chục bộ lạc, tổng cộng hơn hai mươi vạn dân số. Đây gần như là sự di chuyển của các bộ lạc cốt cán của Kiên Côn, điều này đồng nghĩa với việc một trận đại chiến sắp bùng nổ.
Tất nhiên, điều Tiết Đức Cát không biết là người Cát La Lộc cũng đang điều binh khiển tướng, tập kết quân đội.
Mục tiêu của Kiên Côn và Cát La Lộc không trực tiếp nhắm vào Hồi Hột. Mục tiêu của bộ lạc Kiên Côn là người Đô Bá, còn mục tiêu của bộ lạc Cát La Lộc là bộ lạc Tư Kết. Hai bộ lạc này đều là "tiểu đệ" của Hồi Hột, cũng là vùng đệm giữa Hồi Hột với Kiên Côn và Cát La Lộc. Một khi hai bộ lạc này bị Kiên Côn và Cát La Lộc thôn tính, thì Hồi Hột sẽ phải đối mặt trực tiếp với sự đe dọa của hai đại kình địch. Đây là điều mà Hồi Hột dù thế nào cũng không thể dung thứ.
Kiên Côn Khả hãn Tát Lý Mạn đích thân đến đón đoàn lạc đà của Tiết Đức Cát. Tiết Đức Cát trao bức thư tay của Lý Nghiệp cho Khả hãn, rồi cho người dỡ hàng hóa xuống. Bên trong là những bó chiến đao và trường mâu, khiến Tát Lý Mạn vui sướng đến híp cả mắt. Binh khí họ đang sử dụng hiện nay đều rất cũ kỹ, nhiều món vẫn là đồ được nhà Đường viện trợ từ thời Trinh Quán.
Mặc dù họ không biết quan hệ giữa Kỳ vương Lý Nghiệp và triều đình, nhưng đồ đạc là thật, họ cảm nhận được sự chân thành của nhà Đường. Số binh khí này đến quá kịp thời, đối với họ mà nói không khác gì "tuyết trung tống thán" (tặng than trong ngày tuyết rơi). Tát Lý Mạn lập tức lấy ra ba mươi vạn tấm da cừu thượng hạng làm quà đáp lễ, nhờ Tiết Đức Cát mang đến cho Kỳ vương Lý Nghiệp.
Ngay sau khi quân Đường trục xuất người Hồi Hột nửa tháng, Lý Nghiệp đích thân dẫn hai vạn kỵ binh cũng đến Phong Châu. Đặt chân lên vùng bình nguyên Hà Sáo phì nhiêu rộng lớn này, trong lòng Lý Nghiệp cũng dâng lên vô vàn cảm khái. Kể từ sau loạn An Sử, triều đình Trung Nguyên đã hoàn toàn mất đi mảnh đất này, suốt sáu trăm năm, mãi đến thời nhà Minh mới giành lại được.
"Điện hạ, nếu chúng ta đại chiến với người Hồi Hột tại Phong Châu, liệu người Cát La Lộc và người Kiên Côn có nhân cơ hội này mà đả kích người Hồi Hột không?"
Người đặt câu hỏi là Lôi Vạn Xuân, ông rất hiếu kỳ về các bộ lạc trên thảo nguyên.
Lý Nghiệp mỉm cười: "Ngươi đừng lo lắng về tốc độ tình báo của người thảo nguyên. Họ đều là sói, luôn dán mắt vào đối phương. Một khi đối phương lộ ra sơ hở, họ sẽ lập tức lao lên, xé nát một miếng thịt. Mấy chục năm nay họ đều tác chiến như vậy, không kẽ hở nào không lọt, không cơ hội nào không nắm lấy!"
Đúng lúc này, phía xa bụi mù bay lên, một lá cờ rồng đen nền đỏ thấp thoáng trong đám bụi. Đó là Điền Vạn Lý dẫn quân đến.
Chẳng bao lâu, Điền Vạn Lý phi ngựa lao lên, ôm quyền cúi người trên lưng ngựa: "Ty chức tham kiến Điện hạ!"
Lý Nghiệp gật đầu hỏi: "Có tin tức gì của Hồi Hột không?"
"Báo cáo Điện hạ, đã có tin tức. Trinh sát của chúng ta tại Âm Sơn phát hiện khoảng năm nghìn kỵ binh Hồi Hột đang tiến về phía Nam, đã dùng chim ưng đưa tin báo cho chúng ta. Theo tiến độ suy đoán, quân địch còn cách Phong Châu khoảng ba trăm dặm."
Lý Nghiệp trầm tư một lát, quay sang hỏi Lôi Vạn Xuân: "Nếu ngươi là chủ tướng quân Hồi Hột, trận đầu tiên ngươi sẽ chọn đánh nơi nào?"
Lôi Vạn Xuân ngẫm nghĩ một chút rồi nói: "Ty chức không rành về Phong Châu, nhưng nguyên lý đều giống nhau. Đầu tiên chắc chắn phải kích thích sĩ khí, chọn nơi có thể cướp bóc tài vật và đàn bà, hơn nữa còn phải có đủ lương thực."
Lý Nghiệp cười nói: "Nói rất có lý. Điền tướng quân có nghĩ ra là nơi nào không?"
Điền Vạn Lý buột miệng: "Tây Thụ Hàng Thành!"
Tây Thụ Hàng Thành vốn là một quân thành, nhưng đồng thời cũng là nơi giao thương giữa triều đình Trung Nguyên và các bộ lạc thảo nguyên. Trải qua hơn một trăm năm phát triển, nơi đây đã sớm trở thành một thương thành phồn vinh. Rất nhiều bộ lạc trên thảo nguyên đều lập một điểm tại đây để thu mua nhu yếu phẩm của Trung Nguyên, bán các loại hàng hóa đặc sản của bộ lạc mình.
Tương tự, các thương nhân đến từ Hà Tây, Lũng Hữu, Sóc Phương cũng mở cửa tiệm kinh doanh tại đây, thu mua da cừu, gia súc, dược liệu của thảo nguyên, bán trà, tơ lụa, đồ sứ, vải vóc và các loại vật dụng sinh hoạt. Thậm chí, không ít thương nhân Túc Đặc đến từ phương Tây cũng mở tiệm kinh doanh ở đây.
Mặc dù nơi này liên quan đến lợi ích của nhiều bên, trong thời bình, mọi người đều không dễ dàng tấn công nó. Thế nhưng nơi đây tích trữ lượng lớn tài phú, cũng khiến không ít người đỏ mắt. Một khi chiến tranh bùng nổ, nơi đây tất yếu sẽ bị quân đội cướp bóc.