Việc bình định các thế lực cát cứ khắp nơi
Lưu Tú sau khi tiêu diệt chính quyền Canh Thủy và quân Xích Mi, lập tức triển khai cuộc tranh đoạt quyết liệt với các thế lực cát cứ. Lúc bấy giờ, Trương Bộ cát cứ Sơn Đông, Lưu Vĩnh cát cứ đất Lương, Lý Hiến cát cứ Lư Giang, Tần Phong cát cứ Nam Quận, còn có Đậu Dung tự bảo toàn năm quận Hà Tây, Ngôi Hiêu xưng hùng ở Thiên Thủy, Công Tôn Thuật xưng đế ở Ba Thục, cùng với Lư Phương cấu kết với Hung Nô và nhiều thế lực chính trị khác.
Trong số các quần hùng, kẻ đe dọa Lưu Tú lớn nhất chính là Lưu Vĩnh. Khi đó, Lưu Vĩnh hùng cứ vùng đất nay là phía đông Hà Nam, phía bắc An Huy, liên kết cùng Trương Bộ ở Thanh Châu, Đổng Hiến ở phía bắc Giang Tô, Lý Hiến ở Lư Giang tạo thành một liên minh quân sự khá lớn. Vì Lưu Vĩnh khi ấy thực tế nắm giữ các vùng đất rộng lớn như phía tây Sơn Đông, phía bắc Giang Tô, phía bắc An Huy, phía đông Hà Nam, chuyên chế phương Đông, trở thành kình địch của Lưu Tú. Hơn nữa, Lưu Vĩnh là cháu tám đời của Lương Hiếu Vương, từng được sắc phong làm Lương Vương, địa vị trong tông pháp có lợi hơn Lưu Tú, vì thế sự đe dọa đối với Lưu Tú là lớn nhất.
Lưu Tú trước tiên muốn tiêu diệt Lưu Vĩnh. Năm Kiến Vũ thứ hai (năm 26), Lưu Tú phái đại tướng Cái Duyên đánh chiếm kinh đô Tuy Dương (nay là Thương Khâu, Hà Nam) của Lưu Vĩnh. Lưu Vĩnh chạy đến Hồ Lăng trong địa phận Sơn Đông (nay là đông nam Lỗ Đài, Sơn Đông), nhưng bách tính Tuy Dương đón Lưu Vĩnh về, Lưu Vĩnh lại quay lại Tuy Dương. Sau đó Cái Duyên lại vây Tuy Dương, lương thực trong thành cạn kiệt. Năm Kiến Vũ thứ ba (năm 27), Lưu Vĩnh bỏ chạy, bị bộ hạ sát hại, con của Vĩnh là Lưu Vu kế vị làm Lương Vương. Tháng tám năm Kiến Vũ thứ năm (năm 29), Ngô Hán đánh chiếm Đàm (nay là huyện Đàm, tỉnh Sơn Đông), chém Lưu Vu. Tháng mười cùng năm, Cảnh Yểm giao chiến với Trương Bộ tại Lâm Truy (nay là Lâm Truy, Sơn Đông), đại phá quân địch, đất Tề bình định.
Tháng chín năm Kiến Vũ thứ tư, Hán quân vây Lý Hiến tại Thư (nay là phía nam huyện Lư Giang, An Huy). Tháng giêng năm thứ sáu, hạ được Thư, bắt sống Lý Hiến. Tháng hai cùng năm, Ngô Hán hạ được Cù (nay là phía tây nam thành phố Liên Vân Cảng, Giang Tô), bắt sống Đổng Hiến, Bàng Manh, vùng Sơn Đông hoàn toàn bình định. Từ đó, thế lực của Lưu Vĩnh bị thanh trừ hoàn toàn.
Cùng lúc đó, Lưu Tú lại sai tướng phụ trách nam chinh đánh Tần Phong tại Đồi Khâu (nay là phía bắc Nghi Thành, Hồ Bắc), chinh phạt Diên Sầm tại Vũ Đang (nay là phía tây bắc huyện Quân, Hồ Bắc), chinh phạt Điền Nhung tại Tân Khanh (nay là Sa Thị, Hồ Bắc). Tần Phong bị bắt, Diên Sầm, Điền Nhung chạy trốn vào Thục, đầu hàng Công Tôn Thuật. Bành Sủng cát cứ Ngư Dương (nay là phía tây nam Mật Vân, Hà Bắc) bị nô bộc của mình sát hại, nô bộc này đầu hàng Lưu Tú. Thế là từ U Yên ở phía bắc, đến Kinh Tương ở phía nam, đều lần lượt được bình định.
... Phương Đông tuy đã bình, nhưng phía tây nam và tây bắc vẫn bị các thế lực cát cứ chiếm giữ. Trong đó thế lực lớn nhất là Công Tôn Thuật, kế đến là Ngôi Hiêu, sau nữa là Lư Phương.
Khi đó Công Tôn Thuật chiếm cứ đất Ích Châu, tức phần lớn địa bàn Tứ Xuyên, Quý Châu và Vân Nam ngày nay, địa thế hiểm trở, tài nguyên phong phú. Hắn liên kết với Ngôi Hiêu ở phía bắc, kết giao với Diên Sầm, Điền Nhung ở phía đông, xưng đế lập hiệu để chống lại Lưu Tú.
Tiếp đến là Ngôi Hiêu, khi ấy Ngôi Hiêu chiếm giữ bốn quận An Định, Lũng Tây, Thiên Thủy, Vũ Đô, tức vùng đông nam tỉnh Cam Túc ngày nay. Hắn liên kết với Công Tôn Thuật ở phía nam, kết giao với Lư Phương ở phía bắc, thông với các tộc Khương và Hung Nô ở phía tây, lương thảo sung túc, sĩ mã cường tráng, tiến có thể vào Quan Thiểm, lui có thể tự bảo vệ biên thùy. Hơn nữa, Ngôi Hiêu còn có tiếng tăm "vốn khiêm cung yêu sĩ", cho nên "danh chấn miền Tây, vang tận miền Đông".
Sau nữa là Lư Phương, Lư Phương cư ngụ tại vùng Tấn Châu, phía bắc Thiểm Tây và Nội Mông, có Hung Nô làm hậu thuẫn. Lư Phương còn dựng lên một hệ thống phả hệ giả, tuyên bố mình là chắt của Vũ Đế là Lưu Văn Bá, thường dùng điều này để mê hoặc quần chúng, cho rằng nên để hắn làm hoàng đế.
Đối mặt với những thế lực cát cứ này, Lưu Tú ban đầu muốn dùng phương pháp chính trị để dụ hàng, và trước tiên giải quyết Ngôi Hiêu có thế lực yếu hơn. Phía tây của Ngôi Hiêu là tập đoàn Đậu Dung đang giữ biên cảnh Hà Tây tự thủ. Lưu Tú có ý định liên kết với Đậu Dung để giáp công Ngôi Hiêu.
Đậu Dung từng tham gia trấn áp quân Xích Mi, khởi nghĩa Lục Lâm, sau khi Vương Mãng diệt vong, quân đội đầu hàng Canh Thủy. Đậu Dung thấy Canh Thủy mới lập, tình hình Quan Đông hỗn loạn, gia đình ông nhiều đời làm quan ở Hà Tây, nên xin nhậm chức Trương Dịch thuộc quốc đô úy. Sau khi Canh Thủy thất bại, ông được quan lại năm quận Trương Dịch, Vũ Uy, Tửu Tuyền, Kim Thành, Đôn Hoàng tiến cử làm Hành Hà Tây ngũ quận đại tướng quân sự. Đậu Dung ở thuộc quốc, giám sát năm quận, chiếm giữ biên cảnh tự bảo toàn. Ông ban đầu phụng sự Ngôi Hiêu, sau thấy Lưu Tú nắm binh mạnh nhất, hiệu lệnh nghiêm minh, nên có ý định đầu hàng. Lưu Tú biết Hà Tây giàu có, binh mã tinh nhuệ, lại địa thế tiếp giáp Lũng, Thục, nên sai sứ liên lạc để cô lập Ngôi Hiêu. Năm Kiến Vũ thứ năm (năm 29), Đậu Dung quy phụ Đông Hán, nhậm chức Lương Châu mục.
Sau khi Đậu Dung quy phụ, Lưu Tú chuẩn bị dùng vũ lực tấn công Ngôi Hiêu. Ngôi Hiêu xưng thần với Công Tôn Thuật, Công Tôn Thuật phái binh viện trợ Ngôi Hiêu. Mùa thu năm Kiến Vũ thứ bảy, Ngôi Hiêu dẫn ba vạn bộ kỵ xâm phạm An Định, đến Âm Bàn (nay là phía tây bắc huyện Trường Vũ, Thiểm Tây), đại tướng Phùng Dị dẫn chư tướng chống lại.
Mùa xuân năm Kiến Vũ thứ tám, Lai Hấp từ đường núi tập kích thành Lược Dương (nay là phía đông bắc huyện Thái An, Cam Túc), Ngôi Hiêu dẫn chúng vây Lai Hấp, Công Tôn Thuật phái tướng là Lý Dục, Điền Na giúp Ngôi Hiêu đánh Lược Dương, liên tiếp mấy tháng không hạ được.
Lưu Tú dẫn chư tướng tây chinh, Đậu Dung dẫn thái thú năm quận cùng bộ kỵ Tây Khương, Tiểu Nguyệt Thị mấy vạn người hội quân với đại quân tại Cao Bình đệ nhất thành (nay là Cố Nguyên, Ninh Xuyên), cùng tấn công Ngôi Hiêu.
Lưu Tú chia binh nhiều đường lên Lũng, ép đại tướng của Ngôi Hiêu là mười ba người cùng mười sáu bộ chúng thuộc huyện với hơn mười vạn người phải đầu hàng.
Năm Kiến Vũ thứ chín (năm 33), Ngôi Hiêu bệnh chết, lập con là Ngôi Thuần làm Vương, Hán quân nhân cơ hội phát động tấn công quân sự. Đậu Dung dẫn quân phối hợp giáp công. Tháng mười năm thứ mười, Lai Hấp đại phá Ngôi Thuần tại Lạc Môn (nay là phía tây huyện Cam Cốc, Cam Túc).
Được Lũng lại muốn Thục, đến đây, Đông Hán hình thành thế kìm kẹp giáp công từ nam chí bắc đối với Công Tôn Thuật cát cứ Ba Thục. Lưu Tú chia binh hai đường đánh Thục, một đường từ bắc xuống nam vào Thục, một đường ngược dòng Trường Giang mà lên.
Mùa xuân năm Kiến Vũ thứ mười một (năm 35), Ngô Hán phụng mệnh dẫn hơn sáu vạn quân Kinh Châu, năm ngàn kỵ binh, hội hợp với Sầm Bành tại Kinh Môn (nay là gần Nghi Xương, Hồ Bắc). Sầm Bành trang bị hàng chục chiến hạm, tận dụng gió đông thổi mạnh, ngược dòng tiến lên, dùng hỏa công thiêu hủy cầu lầu do Công Tôn Thuật thiết lập phòng thủ. Thục binh đại loạn, Hán quân thẳng tiến vào, đến Giang Châu (nay là Trùng Khánh, Tứ Xuyên), thẳng hướng Đệm Giang (nay là huyện Hợp Xuyên, Tứ Xuyên), phá Bình Khúc, thu hồi hàng chục vạn hộc gạo. Đường tiến quân từ bắc xuống nam, tháng sáu, Lai Hấp và Cái Duyên đánh chiếm Hạ Biện (nay là phía bắc huyện Thành, Cam Túc). Trong lúc thừa thắng tiến lên, Lai Hấp bị thích khách do Công Tôn Thuật ngầm phái đến ám sát, Hán quân tạm thời bị chặn lại.
Công Tôn Thuật dùng toàn bộ binh lực phòng thủ trọng điểm tại vùng Quảng Hán (nay là phía nam huyện Xạ Hồng, Tứ Xuyên), Tư Trung (nay là Tư Dương, Tứ Xuyên). Sầm Bành tránh chỗ thực đánh chỗ hư, phái Tàng Cung dẫn năm vạn đại quân từ Phù Thủy mà lên, chia binh quay lại Giang Châu, ngược dòng Đô Giang, hành quân trong đêm, thẳng đến Vũ Dương (nay là huyện Bành Sơn, Tứ Xuyên), khiến tinh kỵ chạy thẳng tới Quảng Đô (nay là phía nam thành phố Thành Đô), thế như chẻ tre, đất Thục kinh hoàng.
Đường quân của Tàng Cung hành quân trong đêm, áp dụng chiến thuật "giương nhiều cờ xí, leo núi gào thét", thủy lục cùng tiến, đại phá các bộ của Diên Sầm dưới trướng Công Tôn Thuật, ép Vương Nguyên đầu hàng. Tháng mười, Công Tôn Thuật giãy chết, ngầm phái thích khách giả hàng Sầm Bành rồi ám sát ông. Nhưng Ngô Hán phụng mệnh từ Di Lăng (nay là Nghi Xương, Hồ Bắc) dẫn ba vạn người ngược sông mà lên, tiếp tục thảo phạt Công Tôn Thuật.
Mùa xuân tháng giêng năm Kiến Vũ thứ mười hai (năm 36), Ngô Hán vây Vũ Dương, đánh thẳng Quảng Đô, phái khinh kỵ đốt cầu thành Thành Đô, bộ hạ của Công Tôn Thuật sợ hãi, lần lượt phản bội. Ngô Hán dẫn hai vạn bộ kỵ áp sát Thành Đô, giao chiến với Công Tôn Thuật tám trận tám thắng, tiến quân đến ngoại thành Thành Đô.
Khi đó, đường quân do Tàng Cung chỉ huy đánh chiếm Miên Trúc (nay là đông nam Miên Trúc, Tứ Xuyên), phá Phù Thành (nay là phía đông Miên Dương, Tứ Xuyên), lại phá Phồn Huyện (nay là huyện Bành, Tứ Xuyên), Bì Huyện (nay là huyện Bì, Tứ Xuyên), thắng lợi hội quân với Ngô Hán.
Tháng mười một, Công Tôn Thuật đích thân dẫn vài vạn người tấn công Ngô Hán, bộ hạ Ngô Hán vài vạn người đánh trả. Quân của Thuật đại loạn, Hán tướng cao thủ lao vào trận đâm trúng ngực phải Công Tôn Thuật, Công Tôn Thuật chết ngay trong đêm đó. Ngày hôm sau, Diên Sầm chiếm giữ Thành Đô đầu hàng, Ba Thục bình định, tin báo về.
Cuối cùng chỉ còn lại Lư Phương, vì có Hung Nô viện trợ, Lưu Tú nhiều lần phái Ngô Hán, Đỗ Mậu đi đánh đều không thắng.
Năm Kiến Vũ thứ mười hai (năm 36), Lư Phương biết Lưu Tú đã thống nhất Trung Quốc, cô lập không thể chống lại, bèn chạy trốn sang Hung Nô. Đến đây, cục diện thống nhất toàn quốc cơ bản đã thực hiện, mà Quang Vũ Hoàng đế Lưu Tú cũng đã hoàn thành nhiệm vụ trung hưng nhà Hán.
—— Toàn thư hoàn ——