Hai ngày sau, quân Đường chiếm được thành Thiên Tuyền. Đây là thành phố lớn thứ hai của nước Thạch, nhưng toàn bộ dân cư trong thành đã bị quân đội của Sabakh đưa đi, lương thực và tài sản cũng bị cướp đoạt sạch bách, để lại một tòa thành trống rỗng.
Lúc này, từ phía Câu Chiến Đề truyền tin tới, nơi đó đã bị Lệ Phi Nguyên Lễ chiếm lĩnh, trên đường đi không phát hiện ra tung tích của đội quân mười lăm ngàn người kia.
Đây là lần đầu tiên quân Đường phán đoán sai lầm. Bạch Hiếu Đức từng cho rằng đội quân này nhất định sẽ xuôi nam về phía Câu Chiến Đề, bởi vì đó là con đường huyết mạch đi tới Đại Thực, vị trí chiến lược vô cùng quan trọng.
Bạch Hiếu Đức đã sắp xếp cho Lệ Phi Nguyên Lễ chiếm đóng Câu Chiến Đề trước, đợi đội quân kia tiến xuống phía nam sẽ giáp công hai mặt, tiêu diệt gọn mười lăm ngàn quân địch, những kẻ cầm đầu gây ra vụ tập kích Toái Diệp.
Không ngờ đội quân này cuối cùng lại không tới Câu Chiến Đề, khiến kế hoạch của Bạch Hiếu Đức đổ bể.
Trong đại trướng, Lý Thành Hoa nhìn sa bàn một hồi lâu, nàng chỉ vào sông Chân Châu nói: "Đội quân này chắc chắn đã dọc theo sông Chân Châu đi về phía tây, mục tiêu của họ hẳn là nước An. Theo ta được biết, thủ lĩnh quân đội là Sabakh từng bị quốc vương nước An đuổi khỏi Bukhara, hắn chắc chắn vô cùng căm hận nước An. Trước đây hắn không có cách nào báo thù, nhưng hiện tại hắn nắm trong tay mười lăm ngàn quân, đủ sức đánh bại quân đội nước An. Họ chắc chắn đang tiến về Bukhara."
Bạch Hiếu Đức hậm hực nói: "Thật là quá hời cho hắn rồi!"
Lý Thành Hoa cười lắc đầu: "Tướng quân Bạch, chúng ta không dừng lại ở nước Thạch. Chỉ cần chiếm được nước Thạch, phía Túc Đặc nhất định sẽ đại loạn. Những đội quân ẩn mình của Đại Thực sẽ thừa cơ khởi binh, cộng thêm đội quân báo thù nước An này nữa, đủ để cho chúng nếm mùi đau khổ, cũng vừa vặn tạo cơ hội cho chúng ta xuất binh."
Bạch Hiếu Đức gật đầu: "Vậy thì hành động theo phương án thứ hai, tiếp tục tấn công về phía tây vào nước Thạch!"
Dãy núi Thiên Tuyền ở vùng Hà Trung là một kho báu, tức dãy núi Kyrgyzstan ngày nay, sản sinh nhiều vàng bạc. Dãy Thiên Tuyền vắt ngang qua nước Thạch và nước Bạt Hãn Na. Nước Thạch chủ yếu sản xuất bạc, Bạt Hãn Na sản xuất vàng. Vùng Hà Trung thời Trung cổ được mệnh danh là thủ phủ vàng bạc, tám mươi phần trăm lượng kim loại quý này đều xuất phát từ nước Thạch và Bạt Hãn Na, một phần khác từ Câu Chiến Đề.
Vàng bạc từ Con đường Tơ lụa luôn là nguồn tài chính quan trọng của Đại Đường. Trận Đát La Tư suy cho cùng cũng là cuộc tranh giành vàng bạc Trung Á giữa Đại Đường và Đại Thực.
Lần Tây chinh này của quân Đường cũng là để chiếm lấy những nơi sản xuất vàng bạc trù phú. Những người Túc Đặc mất đi nguồn sản xuất vàng bạc cũng sẽ không gục ngã, họ sẽ tiếp tục mở rộng thị trường sang phía tây, kiếm vàng bạc của người châu Âu, rồi quay lại phương Đông mua tơ lụa và đồ sứ, Con đường Tơ lụa sẽ còn vươn xa hơn nữa.
Ba ngày sau, quân Đường tới thành Thác Chi. Nước Thạch cũng bị Thánh Nữ Hội kiểm soát. Nữ vương nước Thạch tên là A Liên, bà là bậc trưởng bối, năm nay đã sáu mươi tuổi. Bà là em gái của quốc vương Mặc Đa nước Bạt Hãn Na, là mẹ của vương tử Thạch Côn năm xưa. Con trai út của bà là Triệt Tất Thạch lên ngôi vua chưa được mấy năm đã lâm bệnh qua đời, chỉ để lại một tiểu vương tử mới ba tuổi. A Liên trở thành nữ vương giám quốc, quyền thế cực lớn, sau đó bà thẳng tay phế bỏ đứa cháu nội để tự mình lên làm nữ vương.
A Đại Nhĩ của Bạt Hãn Na chính là bắt chước bà mà trở thành nữ vương.
Thế nhưng, nước Thạch trong cuộc chiến tấn công Bạt Hãn Na năm xưa và trận Đát La Tư sau đó đã tổn thất nặng nề, binh lực chỉ còn lại hai ngàn người. Đến tận hôm nay binh lực vẫn chưa hồi phục, toàn quốc chưa tới mười ngàn quân, là quốc gia có binh lực ít nhất trong toàn vùng Túc Đặc.
Nếu không có sự hỗ trợ toàn lực của Thánh Nữ Hội, nước Thạch không biết đã bị bao nhiêu quốc gia giày xéo.
Ngoài ra, còn một lý do rất quan trọng nữa, đó là kinh đô Thác Chi của nước Thạch vô cùng khó công. Nó giống như thành Minas Tirith trong "Chúa tể những chiếc nhẫn", dựa vào núi mà xây, tường thành kiên cố, dễ thủ khó công. Cho dù có mười ngàn quân, cũng đủ sức chống lại cuộc tấn công của vạn quân địch. Nếu không nhờ vậy, thành Thác Chi với danh xưng "Thành phố Bạc" sớm đã bị hai vạn quân của Sabakh cướp phá sạch sẽ.
Thành Thác Chi được gọi là Thành phố Bạc, trong kho của nó chất đống năm triệu lượng bạc, bao gồm cả ngôi Thánh Nữ Tự mới xây phía sau vương cung, tất cả đều được xây bằng bạc.
Trên đầu thành Thác Chi còn có một trăm cỗ máy bắn đá cỡ lớn. Những bức vẽ mà Thạch Côn mang từ Đại Đường về năm xưa đã giúp thợ thủ công nước Thạch học được cách làm giấy và các loại khí tài quân sự.
Quân Đường dựng đại doanh cách thành Thác Chi ba dặm về phía đông. Lúc này, Tịch Vạn Lý tiến lên xin lệnh: "Ty chức nguyện dẫn một vạn kỵ binh tấn công thăm dò, dùng tên bạo liệt công phá cổng thành, xin tướng quân phê chuẩn!"
Bạch Hiếu Đức gật đầu: "Đồng ý xuất kích!"
Tịch Vạn Lý lập tức dẫn một vạn kỵ binh dàn trận lao về phía thành trì. Bạch Hiếu Đức lại lệnh cho Hổ Bôn tướng quân Tào Lệnh Trung dẫn thêm một vạn kỵ binh theo sau tiếp ứng, một khi phá được cổng thành sẽ lập tức xông vào.
Đội quân của Tịch Vạn Lý dần áp sát thành trì. Đột nhiên trên đầu thành tiếng trống vang dội, hàng trăm quả cầu lửa khổng lồ ném xuống đầu kỵ binh quân Đường. Kỵ binh quân Đường vội vàng né tránh, quả cầu lửa rơi xuống đất lập tức bốc cháy ngùn ngụt.
Tịch Vạn Lý vô cùng kinh ngạc, chẳng phải đây là đạn dầu lửa của quân Đường sao? Bên trong là một vò gốm đựng dầu lửa, bên ngoài bọc rơm lúa mạch tẩm dầu, khi cháy trên không trung tạo thành một quả cầu lửa khổng lồ, khi rơi xuống đất vò gốm vỡ ra, dầu lửa bắn tung tóe tạo thành một vùng cháy, uy lực rất lớn. May mà quân Đường là kỵ binh, khả năng cơ động cao nên né được đạn dầu lửa, nếu là bộ binh thì thật thảm hại.
Tịch Vạn Lý thấy một vạn quân Đường không thể áp sát, bèn lệnh cho đại quân lùi lại một dặm, ra lệnh cho một đội kỵ binh ngàn người xông lên.
Kỵ binh ngàn người linh hoạt hơn, họ lách trái né phải, dần áp sát cổng thành. Cách cầu treo cổng thành còn trăm bước, Trung lang tướng Vương Huy ra lệnh: "Tên bạo liệt, bắn!"
Kỵ binh vừa chạy vừa đồng loạt giương cung bắn tên về phía cầu treo. Một ngàn mũi tên bạo liệt bắn tới cầu treo và cổng thành. Chỉ thấy một chuỗi tiếng nổ, khói lửa mịt mù, cầu treo bị nổ nát, ầm ầm sập xuống. Cổng thành cũng bị hàng trăm mũi tên bạo liệt tập trung bắn trúng, nổ tung ba cái lỗ lớn. Thế nhưng, đằng sau không lộ ra cửa hang đen ngòm, mà là những khối đá khổng lồ màu xám trắng. Hóa ra cổng thành Thác Chi đã sớm bị đá tảng lấp kín, uy lực của tên bạo liệt quá nhỏ, không thể phá vỡ đá tảng.
Bất lực, Tịch Vạn Lý đành ra lệnh thu quân.
"U——"
Tiếng kèn thu quân vang lên, một ngàn kỵ binh nhanh chóng rút lui, rời khỏi thành trì, lui về phía sau một dặm.
Tịch Vạn Lý quay về chắp tay nói: "Khởi bẩm tướng quân, ty chức vô năng, không thể công phá cổng thành, xin tướng quân trách phạt!"
Bạch Hiếu Đức xua tay: "Chuyện này không liên quan tới ngươi, không cần tự trách!"
Bạch Hiếu Đức cũng rất buồn bực. Họ không mang theo bất kỳ vũ khí công thành nào, vùng xung quanh trăm dặm cũng không có lấy một cái cây. Họ vốn trông chờ dùng hỏa khí nổ tung cổng thành để đại quân xông vào như ở thành Khát Sắt, không ngờ đối phương chuẩn bị chu đáo, lại dùng đá tảng chặn cổng thành. Không chỉ tên bạo liệt vô dụng mà ngay cả lôi tiễn cũng không nổ được đá. Nếu dùng hỏa công, vũ khí dầu lửa của đối phương không hề thua kém quân Đường, thế này thì đánh làm sao?
Lúc này, Giám quân Lý Thành Hoa cười nói: "Tướng quân Bạch, vẫn là phải dùng hỏa pháo thôi. Không nổ cổng thành thì nổ tường thành, dùng đạn bạo liệt oanh tạc, tường thành sụp đổ, chúng ta vẫn có thể xông vào."
Bạch Hiếu Đức gật đầu, đây đúng là cách duy nhất để công thành.
Bạch Hiếu Đức lập tức ra lệnh: "Điều mười cỗ Đại tướng quân pháo tới đây, dùng đạn bạo liệt oanh tạc tường thành!"
Hỏa pháo ở thành Khát Sắt không phát huy được tác dụng, nhưng ở thành Thác Chi này, dường như lại chính là chiến trường để hỏa pháo phô diễn uy lực.