Học Bá Yêu Nghiệt

Lượt đọc: 74 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 23
Tứ đại tạp chí toán học

❊ ❊ ❊

Nếu bạn hỏi một sinh viên khoa Toán rằng cảm giác khi học ở khoa Toán là như thế nào, anh ta có lẽ sẽ nhìn bạn bằng ánh mắt u sầu rồi đáp rằng: Chuyên ngành này nghe thì rất sang chảnh, nhưng đọc thực tế thì chẳng khác nào xem phim truyền hình Mỹ mà không có phụ đề, chua chát đến tận cùng.

Vậy cảm giác học khoa Toán tại Princeton là thế nào? Điều này giống như việc tham gia đại hội cờ Trân Lung của Vô Nhai Tử vậy. Bạn không chỉ cần trở thành một thiếu hiệp lừng lẫy trên giang hồ, mà còn phải thể hiện chỉ số thông minh vượt xa tất cả những người cạnh tranh khác. Chỉ có như thế, bạn mới nhận được chân truyền của Vô Nhai Tử để bước chân vào ngôi trường xếp hạng số một thế giới này.

Thế nhưng, ngay cả khi đã trải qua hết vòng sàng lọc này đến vòng sàng lọc khác, không phải sinh viên nào cũng có cơ hội đăng bài trên "Annals of Mathematics". Bởi thiếu hiệp suy cho cùng vẫn chỉ là thiếu hiệp, trên giang hồ còn vô số chưởng môn các môn phái danh giá, những huyền thoại võ lâm ở ẩn nhiều năm khổ luyện võ nghệ, cùng các bậc tiền bối thiếu hiệp của thế hệ trước, thế hệ trước nữa. Họ dù có thiên phú và đủ nỗ lực, nhưng vẫn thiếu đi vài chục năm nội công tu luyện, trong khi "Annals of Mathematics" lại chỉ có bấy nhiêu trang giấy.

Tất nhiên, tạp chí có chỉ số ảnh hưởng cao nhất trong giới toán học hiện nay không phải là "Annals of Mathematics" mà là "Acta Mathematica" của Thụy Điển. Nhưng điều này không có nghĩa là trình độ của "Annals of Mathematics" kém hơn "Acta Mathematica", bởi mỗi bên đều có lĩnh vực chuyên sâu khác nhau, có lý do lịch sử và cả sự thay đổi của các chủ đề học thuật nóng hổi.

Đối với Lữ Khâu Kiến hiện tại, nhờ mối quan hệ với giáo sư Wiles, việc gửi bài cho "Annals of Mathematics" sẽ dễ dàng thông qua hơn. Có được bài báo này, cậu có thể mở ra một cục diện nhỏ trong giới toán học, đặt nền móng cho những kế hoạch tiếp theo. Suy cho cùng, trong giới học thuật, không có danh tiếng là điều tuyệt đối không thể!

Về việc tại sao tạp chí số một giới toán học lại xuất phát từ Thụy Điển chứ không phải Mỹ, Anh, hay thậm chí là Pháp, Nga, Nhật, thì phải kể từ truyền thống toán học của Thụy Điển.

Mọi người đều rất tò mò tại sao giải Nobel khoa học tự nhiên chỉ có Vật lý, Hóa học và Y sinh mà không có giải Toán học. Một lời đồn đại cho rằng đó là vì chính Nobel đã bị một nhà toán học "cắm sừng", và nhà toán học đó chính là thủy tổ của giới toán học Thụy Điển - Gösta Mittag-Leffler.

Mittag-Leffler sinh mất tại thủ đô Stockholm, làm việc lâu năm tại Đại học Stockholm, là học trò của nhà toán học nổi tiếng người Đức, giáo sư tại Đại học Berlin - Karl Weierstrass. Mittag có nhiều công trình kinh điển trong lĩnh vực phân tích toán học và hàm biến phức, với 119 tác phẩm, trong đó có định lý Mittag-Leffler và ma trận Mittag-Leffler nổi tiếng. Mittag còn là một nhà giáo dục ưu tú và là một nhà tổ chức kiệt xuất. Dưới sự dày công vun đắp của ông, Thụy Điển thời bấy giờ sở hữu tài liệu và thư viện nghiên cứu toán học tốt nhất thế giới. Năm 1882, ông sáng lập và xuất bản tạp chí toán học hạng nhất là "Acta Mathematica", đào tạo và mời gọi các học giả lừng danh như Erik Ivar Fredholm, Ivar Bendixson, Helge von Koch, giúp Thụy Điển trở thành một trong những trung tâm nghiên cứu toán học của thế giới thời bấy giờ.

Có thể nói, bằng sức lực của chính mình, ông đã biến Thụy Điển thành một trung tâm nghiên cứu toán học sánh ngang với Cambridge, Princeton và Göttingen. Kể từ đó, giới toán học Thụy Điển nhân tài xuất hiện lớp lớp.

Tiếp đó, các đệ tử của ông là Fredholm và von Koch đã kế thừa và phát huy ưu thế này. Fredholm chủ yếu nghiên cứu về lý thuyết phương trình. Ông đưa ra nghiệm cơ bản cho phương trình đạo hàm riêng elliptic hệ số hằng số tổng quát, đồng thời nhận được sự chú ý trong nghiên cứu phương trình tích phân nhờ giải quyết "phương trình Fredholm", từ đó giành được "Giải thưởng Viện Hàn lâm Khoa học Pháp" và trở thành viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học của cả Thụy Điển và Pháp.

Định lý mà von Koch chứng minh vào năm 1901 đã tiết lộ giả thuyết Riemann tương đương với một dạng mạnh hơn của định lý số nguyên tố. Trong bài báo năm 1904 "Về một đường cong liên tục không có tiếp tuyến có thể xây dựng bằng phương pháp hình học cơ bản", ông đã mô tả phương pháp xây dựng đường cong bông tuyết, một trong những đường cong fractal sớm nhất, hậu thế gọi là "bông tuyết Koch".

Sau khi Mittag-Leffler qua đời, Torsten Carleman đã tiếp nhận y bát, bắt đầu nắm quyền điều hành Viện Mittag và "Acta Mathematica". Đóng góp chính của ông nằm ở lý thuyết hàm, lý thuyết phương trình tích phân và lý thuyết phổ. Tên ông còn được đặt cho hàng loạt định lý, quy tắc, bất đẳng thức, hạt nhân tích phân và đa thức trực giao. Cho đến tận bây giờ, bất đẳng thức Carleman vẫn là một lĩnh vực nóng trong nghiên cứu về bất đẳng thức.

Cùng thời kỳ với ông, Harald Cramér ban đầu nghiên cứu lý thuyết số giải tích, sau đó chuyển sang lý thuyết xác suất. Cuốn sách "Phương pháp toán học trong thống kê" do ông viết đã trình bày phương pháp suy luận thống kê dựa trên nền tảng lý thuyết xác suất chặt chẽ. Cuốn sách này từng được nhiều quốc gia sử dụng rộng rãi làm sách giáo khoa, năm 1960 Trung Quốc cũng đã xuất bản bản dịch tiếng Trung.

Sau đó, người nắm quyền điều hành Viện Mittag và "Acta Mathematica" là Lennart Carleson. Ông từng giữ chức Chủ tịch Liên đoàn Toán học Quốc tế, đồng thời là viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Thụy Điển, Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Mỹ, Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Hiệp hội Hoàng gia Anh, cùng các viện hàn lâm tại Pháp, Đan Mạch, Na Uy, Phần Lan, Hungary.

Vì những đóng góp quan trọng trong phân tích Fourier, phân tích phức, ánh xạ chuẩn hình và hệ động lực, ông đã nhận được giải thưởng Steele của Hội Toán học Mỹ và giải thưởng toán học Wolf. Nhìn vào quá trình công tác của ông, có thể thấy đây là một nhân vật có năng lực hoạt động cực kỳ mạnh mẽ; địa vị hiện nay của "Acta Mathematica" gắn liền mật thiết với ông.

Tiếp đến là Lars Hörmander, lĩnh vực ông nghiên cứu chính là lĩnh vực phương trình đạo hàm riêng mà bài báo của Lữ Khâu Kiến đang hướng tới. Ông đã thiết lập một cách hệ thống lý thuyết cục bộ và tổng thể của toán tử tích phân Fourier, lần lượt giành được giải thưởng Fields và giải thưởng Wolf - những giải thưởng cao quý nhất trong giới toán học.

Nếu dùng phép so sánh, "Acta Mathematica" giống như phái Toàn Chân của Vương Trùng Dương, thủy tổ khai phái Mittag-Leffler đã đặt nền móng cho sự phát triển của môn phái, còn những người kế nhiệm như Carleson giống như Toàn Chân thất tử, phát huy rạng rỡ môn phái của mình.

Còn "Annals of Mathematics" lại giống như Thiếu Lâm, tuy hiện tại có chút yếu thế hơn Toàn Chân một bậc, nhưng nhờ có "nhà sư quét rác" vô địch thiên hạ là Wiles, nó vẫn là nơi mà mọi khoa Toán trên toàn thế giới hằng mơ ước.

Hai tạp chí còn lại là "Bulletin of the American Mathematical Society" và "Inventiones Mathematicae" của Đức thì giống như Võ Đang và Minh Giáo, cũng là những tồn tại đỉnh cao trong võ lâm, hô mưa gọi gió trong lĩnh vực của riêng mình.

Trở lại học viện lưu trú Butler, Lữ Khâu Kiến nhanh nhẹn lắp ráp các linh kiện lại với nhau, sau khi tinh chỉnh thì cài đặt các phần mềm cần thiết. Đợi đến khi mọi thứ đã xong xuôi, Lữ Khâu Kiến kiểm tra tốc độ máy tính rồi hài lòng gật đầu. Chiếc máy tính cậu tự lắp ráp này nhìn thì không có gì đặc biệt, nhưng về chức năng thì đã có thể sánh ngang với một số máy tính cỡ nhỏ.

Tiếp đó, không màng nghỉ ngơi, Lữ Khâu Kiến dựa theo sự chuẩn bị trước đó để chuyển bài báo của mình thành bản điện tử bằng phần mềm LaTeX. Đợi đến thứ Hai khi lên lớp, cậu có thể cầm bản in đi đưa cho giáo sư Gowers và giáo sư Wiles xem, sau đó nhờ giáo sư Wiles giúp mình gửi bài.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »