Gió Bão Chiến Tranh (1939–1941)

Gió Bão Chiến Tranh (1939–1941)

Lượt đọc: 326 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1

❊ ❊ ❊

Trung tá Victor Henry bắt taxi từ Tòa nhà Hải quân trên đường Constitution để trở về nhà; thời tiết bão bùng u ám của tháng Ba rất giống với tâm trạng của ông lúc bấy giờ. Chiều nay, trong căn phòng nhỏ tại Phòng Kế hoạch Tác chiến, ông đã nghe được một tin tức vô cùng bất ngờ từ cấp trên. Theo đánh giá của một người lão luyện như ông, điều này có thể đặt dấu chấm hết cho tiền đồ xán lạn của mình. Giờ đây, ông buộc phải bàn bạc với vợ để đưa ra quyết định ngay lập tức; thế nhưng, ông lại chẳng hề tin tưởng vào nhận định của bà.

Rhoda Henry dù đã bốn mươi lăm tuổi nhưng vẫn là một người phụ nữ vô cùng xinh đẹp, chỉ có điều bà quá hay càm ràm, khiến khả năng phán đoán của bà bị che mờ. Trong mắt chồng, khuyết điểm này rất khó tha thứ. Bà không hề mơ hồ khi kết hôn với ông. Trong thời gian cao trào của cuộc cầu hôn, hai người từng thẳng thắn thảo luận về cuộc sống quân nhân. Khi đó, Rhoda Grover khẳng định rằng mọi bất lợi như: những cuộc chia ly kéo dài, thiếu một mái ấm thực sự và cuộc sống gia đình bình thường, phải từng bước leo lên theo hệ thống, phải khúm núm trước vợ của những người có địa vị cao hơn một chút—tất cả những điều đó đều không khiến bà bận lòng, bởi vì bà yêu ông, và bởi vì Hải quân là một nghề nghiệp vinh quang. Những lời đó bà nói vào năm 1915, khi Thế chiến đang diễn ra và quân phục vẫn còn lấp lánh ánh hào quang. Giờ đã là năm 1939, bà đã sớm quên sạch những lời ấy.

Ông từng cảnh báo bà rằng việc thăng tiến rất khó khăn. Victor Henry không xuất thân từ gia đình truyền thống hải quân. Khi leo lên nấc thang sự nghiệp trơn trượt, ở mỗi bậc thang đều có con cháu của các Đô đốc Hải quân chèn ép ông. Thế nhưng, bất cứ ai quen biết "Pug" Henry trong Hải quân đều nói rằng ông có tiền đồ. Cho đến tận bây giờ, ông vẫn đang thăng tiến một cách vững vàng.

Khi còn học trung học, ông từng viết một lá thư gửi cho nghị sĩ để có thể vào Học viện Hải quân. Lá thư này bộc lộ rõ tính cách của ông, vì vậy xin được trích dẫn như sau. Ông đã sớm thể hiện được phẩm chất của mình.

"Kính gửi ông:

Từ năm nhất trung học, con đã viết ba lá thư gửi cho ông để báo cáo thành tích học tập tại trường trung học Quận Sonoma, và ông cũng rất khách khí viết lại cho con ba lá thư, vì vậy con hy vọng ông vẫn còn nhớ tên con, cũng như nhớ đến hoài bão muốn vào Học viện Hải quân của con.

Hiện tại con sắp tốt nghiệp trung học. Liệt kê hết tất cả những thành tích ưu tú của bản thân nghe có vẻ hơi thiếu khiêm tốn, nhưng con hiểu ông chắc chắn sẽ thông cảm cho tâm ý của con. Năm nay con là đội trưởng đội bóng bầu dục của trường, chơi ở vị trí hậu vệ, đồng thời con cũng tham gia đội quyền anh.

Con đã được chọn vào Hội Arista. Môn Toán, Lịch sử và một vài môn khoa học tự nhiên, con đều là ứng viên nhận học bổng. Điểm môn tiếng Anh và ngoại ngữ (tiếng Đức) của con không cao bằng. Tuy nhiên, con là cán sự của câu lạc bộ tiếng Nga nhỏ trong trường. Chín thành viên trong câu lạc bộ tuy là cư dân bản địa, nhưng tổ tiên của họ từ lâu đã được Nga hoàng cho phép định cư tại Pháo đài Ross. Bạn thân nhất của con ở trong câu lạc bộ, vì vậy con cũng tham gia để học một chút tiếng Nga. Con đề cập đến điều này là muốn nói rằng năng lực ngôn ngữ của con không hề thấp kém.

Mục tiêu cả đời của con là trở thành một sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ để phục vụ đất nước. Con không thể giải thích rõ tại sao mình lại muốn làm vậy, bởi trong gia đình con không có ai làm nghề hàng hải. Cha con là kỹ sư khai thác gỗ hồng sam. Con luôn không thích khai thác gỗ, nhưng lại luôn hứng thú với tàu thủy và đại bác. Con thường cố ý đến San Francisco và San Diego để xem những chiến hạm đang neo đậu ở đó. Con đã dùng tiền tiết kiệm của mình để mua hơn hai mươi cuốn sách về kỹ thuật hàng hải và hải chiến để nghiên cứu.

Con biết ông chỉ có một suất ở đây, và trong khu vực của chúng ta, số người nộp đơn chắc chắn rất nhiều. Nếu ông thấy có người đủ tiêu chuẩn hơn con, thì con sẽ đi đăng ký gia nhập Hải quân, để bản thân xuất thân từ binh lính. Tuy nhiên, để ông cân nhắc yêu cầu của con, con đã nỗ lực hết sức mình, và con tin rằng mình không có gì phải hổ thẹn.

Học sinh kính trọng ông,

Victor Henry

Ngày 5 tháng 5 năm 1910"

Năm năm sau, Henry đã chinh phục được vợ mình bằng cách thẳng thắn tương tự, mặc dù bà cao hơn ông hai inch, và dù cha mẹ giàu có của bà cho rằng Henry không xứng với bà: ông chỉ là một học viên Hải quân thấp đậm đến từ bang California, hậu vệ đội bóng bầu dục, không gia sản, không môn đăng hộ đối. Khi theo đuổi Rhoda, ông đã gạt bỏ tham vọng cá nhân thấm đẫm tâm hồn sang một bên, thể hiện sự dịu dàng, hài hước, ân cần và phong thái hào hoa vô cùng. Một, hai tháng sau, Rhoda gần như không thể thốt ra chữ "không". Những chi tiết trần tục như chiều cao hay thấp sớm đã không còn trong mắt bà.

Tuy nhiên, về lâu dài, việc một người phụ nữ xinh đẹp luôn phải cúi đầu nhìn chồng mình, đó chưa bao giờ là chuyện tốt. Một vài người đàn ông cao lớn cảm thấy cặp đôi này có chút buồn cười, sẽ tìm cách quyến rũ bà. Rhoda tuy là một người phụ nữ rất đoan chính, nhưng về điểm này không tránh khỏi tâm trí xao động—chỉ là chưa đến mức xảy ra chuyện—đôi khi thậm chí còn thẹn thùng cố ý trêu chọc người khác. Henry là một người đàn ông sắt đá nổi tiếng lạnh lùng, khiến những kẻ nhắm vào vợ ông phải thấy lạnh sống lưng, không dám mạo muội ra tay. Ông cũng thực sự có bản lĩnh để chế ngự Rhoda. Dẫu vậy, khiếm khuyết về hình thể này khiến vợ chồng họ thường xuyên xảy ra bất hòa.

Bóng đen thực sự bao trùm lên cặp vợ chồng này là việc Trung tá Henry trách Rhoda nuốt lời, vứt bỏ toàn bộ những hiểu biết trước hôn nhân ra sau đầu. Bà vẫn làm tròn bổn phận của một người vợ Hải quân, nhưng bà than vãn quá nhiều, quá ồn ào và quá vô lý. Mỗi khi đến một nơi bà không thích, ví dụ như Manila, bà sẽ càm ràm không dứt trong nhiều tháng liền. Dù đi đâu, bà cũng phải than phiền một trận, không phải thời tiết quá nóng thì là quá lạnh, hoặc trời mưa, hoặc thời tiết quá khô hanh, hoặc là ghét người làm, tài xế taxi, nhân viên bán hàng, thợ may, thợ cắt tóc, v.v. Nghe Rhoda Henry cằn nhằn mỗi ngày, cứ như thể cuộc sống của bà là một cuộc chiến, ngày nào cũng phải sống chết với cái thế giới làm việc kém hiệu quả và thời tiết khắc nghiệt này. Đây chỉ là chuyện thường tình của phụ nữ, không có gì đáng ngạc nhiên. Nhưng sự giao tiếp giữa vợ chồng chủ yếu là trò chuyện chứ không phải tình dục. Henry ghét nhất là kiểu rên rỉ vô cớ. Ông ngày càng dùng sự im lặng để đáp lại. Nó có thể át đi tiếng nói.

Mặt khác, Rhoda có hai phương diện khiến ông hài lòng, ông cho rằng một người vợ nên như vậy: vừa là người phụ nữ quyến rũ, vừa là người nội trợ đảm đang. Họ kết hôn bao nhiêu năm, rất ít khi bà khiến ông không động lòng. Và những năm qua, họ cũng đã chuyển nhà không biết bao nhiêu lần, mỗi khi đến một nơi, Rhoda luôn có thể sắp xếp phòng ở hoặc căn hộ một cách thoải mái, có cà phê nóng hổi và thức ăn ngon miệng, căn phòng luôn được quét dọn sạch sẽ, giường chiếu luôn được gấp gọn gàng, trong bình hoa luôn cắm hoa tươi. Bà cũng có những thủ đoạn nhỏ đầy mê hoặc, khi tâm trạng tốt có thể trở nên vô cùng đáng yêu, vô cùng được yêu thích. Victor Henry tuy không tiếp xúc với nhiều phụ nữ, nhưng ông biết đa số họ là những kẻ lôi thôi lếch thếch ham hư vinh, suốt ngày líu lo, không giống như Rhoda vẫn có mặt tốt để bù đắp khuyết điểm. Quan điểm kiên định của ông là: Rhoda dù có khuyết điểm, nhưng nếu so sánh bà với những người vợ bình thường, ông thực sự có thể nói mình đã cưới được một người vợ tốt. Điều này không có gì phải bàn cãi.

Nhưng trên đường về nhà sau một ngày bận rộn, ông luôn không thể đoán trước mình sẽ gặp một Rhoda như thế nào, là một Rhoda đáng yêu hay một Rhoda càm ràm. Ở một thời khắc quan trọng như hôm nay, tâm trạng tốt hay xấu của bà sẽ đóng vai trò rất quan trọng. Gặp lúc tâm trạng bà không tốt, phán đoán của bà sẽ thô lỗ, và thường cũng rất ngu ngốc.

Vừa bước vào cửa nhà, ông đã nghe thấy bà đang hát trong hành lang kính có hệ thống sưởi, hành lang này thông với phòng khách, trước bữa tối, họ thường uống một ly ở đây. Ông thấy bà đang cắm hoa, cầm một bó thủy tiên đặt vào chiếc bình hoa màu đỏ thẫm mua ở Manila. Bà mặc một chiếc áo lụa màu nâu nhạt, thắt lưng da đen có khóa bạc lớn ở eo. Mái tóc đen của bà uốn lượn sóng, để xõa sau tai. Vào năm 1939, đây là kiểu tóc mà ngay cả phụ nữ trung niên cũng yêu thích. Ánh mắt bà chào đón ông tràn đầy yêu thương và vui vẻ. Nhìn thấy bà như vậy, lòng ông lập tức thấy dễ chịu hơn nhiều; cả đời ông đều có cảm giác này.

"Ồ, nhìn anh kìa. Sao anh không báo trước cho em biết Kip Tolliver sẽ đến? Anh ấy gửi những bông hoa này, may mà còn gọi một cú điện thoại. Em cứ như một cô hầu làm việc vặt, bận rộn trong nhà suốt cả buổi rồi." Khi trò chuyện phiếm, giọng điệu của Rhoda cao vút, giống như những phụ nữ Washington kiêu kỳ thông thường. Giọng bà rất hay, hơi khàn nhẹ, những từ ngữ bà thốt ra một cách nhẹ nhàng này thường làm tăng thêm ngữ điệu cho những gì bà nói, và mang lại ảo giác về sự tài hoa. "Anh ấy nói có thể sẽ đến trễ một chút. Chúng ta uống một ly trước đi, Pug, được không? Đồ pha rượu đều ở đó cả. Em sắp khát khô cả họng rồi."

Henry đi đến bên quầy bar có bánh xe, bắt đầu pha rượu Martini. "Anh bảo Kip tiện đường ghé qua một lát để nói chuyện với cậu ấy. Đây không phải là một chuyến thăm xã giao."

"Ồ? Em có cần tránh mặt không?" Bà mỉm cười nhẹ với ông, nụ cười rất đáng yêu.

"Không, không."

"Tuyệt quá. Em thích Kip. Này, vừa rồi nghe thấy giọng anh ấy, em thực sự kinh ngạc. Em cứ tưởng anh ấy vẫn còn ở Berlin chứ."

"Cậu ấy đã được điều chuyển rồi."

"Anh ấy cũng nói với em như vậy. Ai tiếp quản chức vụ của anh ấy, anh có biết không?"

"Vẫn chưa có ai tiếp quản. Trước mắt cứ để trợ lý tùy viên không quân tạm thay thế." Victor Henry đưa cho bà một ly cocktail. Ông ngồi phịch xuống một chiếc ghế mây tròn màu nâu, hai chân gác lên đệm chân bằng nhung, nhấp một ngụm rượu, tâm trạng lại trở nên u ám.

Rhoda đã quen với sự ít nói của chồng. Bà sớm nhìn thấu tâm trạng không tốt của ông. Victor Henry bình thường luôn ưỡn ngực thẳng tắp, trừ những lúc đau khổ và căng thẳng. Những lúc đó ông sẽ khom lưng cúi người, như thể vẫn đang chơi bóng bầu dục vậy. Vừa nãy lúc vào nhà ông đã gù lưng, ngay cả lúc này ngồi trên ghế tròn gác chân, lưng ông vẫn hơi gù. Mái tóc đen thẳng rủ xuống trán ông. Dù đã bốn mươi chín tuổi, trên đầu ông gần như không có một sợi tóc bạc nào, chiếc quần thể thao màu đen, áo thể thao màu nâu và chiếc nơ đỏ trên người ông phù hợp với những người trẻ hơn ông. Đây là chút hư vinh nhỏ của ông, chỉ cần không mặc quân phục, luôn thích ăn mặc cho mình trông thật trẻ trung. Thể chất cường tráng đã giúp ích cho ông, khiến ông trông không bị chói mắt. Rhoda nhìn thấy từ những nếp nhăn quanh đôi mắt màu nâu xanh của ông, ông đã rất mệt mỏi, và lòng đầy tâm sự. Có lẽ là kết quả của việc nhìn xa ngoài biển khơi suốt bao năm tháng, quanh hốc mắt Henry luôn có những đường nhăn như thể do cười mà thành. Người lạ nhìn thấy, sẽ hiểu lầm ông là một người hòa ái dễ gần.

"Còn rượu không?" Cuối cùng ông nói. Bà rót cho ông một ly rượu.

"Cảm ơn. Này, em bỗng nhiên nhớ ra, anh từng viết một bản ghi nhớ về thiết giáp hạm, anh có biết việc này không?"

"Ồ, anh biết. Có phản hồi gì không? Anh biết em vẫn luôn quan tâm."

"Hôm nay họ gọi anh đến văn phòng của Bộ trưởng Hải quân."

"Lạy Chúa, đi gặp Preble sao?"

"Chính là Preble. Kể từ sau khi chia tay ông ấy trên tàu 'California' nhiều năm trước, anh vẫn chưa gặp lại ông ấy. Ông ấy béo lên rồi."

Henry kể cho bà nghe quá trình trò chuyện với Bộ trưởng Hải quân. Trên mặt Rhoda lộ ra vẻ nghiêm nghị, u ám, bối rối. "Ồ, em hiểu rồi. Anh gọi Kip đến là vì việc này sao?"

"Không sai chút nào. Em có ý kiến gì về việc anh đi làm tùy viên không?"

"Khi nào anh mới có quyền lựa chọn chứ?"

"Cậu ấy cho anh ấn tượng như thể anh có thể lựa chọn. Nếu anh không chấp nhận công việc này, lần sau có lẽ có thể đến một chiến hạm để làm phó hạm trưởng."

"Trời ạ, Pug, thế mới ra dáng chứ!"

"Em thích anh quay lại biển sao?"

"Em thích? Ý kiến của em khi nào có tác dụng chứ?"

"Dù sao đi nữa, anh muốn nghe xem rốt cuộc em thích cái nào."

Rhoda ngập ngừng một chút, liếc mắt đánh giá ông. "Ừm—tất nhiên em thích đi Đức rồi. Đối với em, việc đó thú vị hơn nhiều so với việc anh đi tuần tra quanh Hawaii trên những chiếc tàu chiến kiểu như 'New Mexico', còn em thì ngồi cô đơn một mình ở nhà. Đức là đất nước đáng yêu nhất toàn châu Âu. Người dân đều rất thân thiện. Tiếng Đức từng là ngoại ngữ chính của em, anh biết đấy, nhưng đó là chuyện không biết bao nhiêu năm trước rồi."

"Không sai, anh biết," Victor Henry nói, cau mày mỉm cười nhẹ, đây là lần đầu tiên ông mỉm cười kể từ khi về nhà. "Em học tiếng Đức rất giỏi." Ông nhớ lại cảnh họ cùng nhau ngâm thơ tình của Heine khi đi hưởng tuần trăng mật.

Rhoda liếc nhìn ông đầy tình tứ. "Ừm, tất cả đều tùy thuộc vào anh. Ý em là, nếu anh bắt buộc phải rời Washington—em đoán những tên phát xít đó đều hơi xấu xa và nực cười. Nhưng Madge Nadson từng đến Đức tham dự Thế vận hội. Cô ấy luôn nói, nơi đó vẫn tốt lắm, vật giá rẻ, dùng số tiền Mark du lịch họ đưa cho, anh có thể mua được không ít thứ."

"Không sai, chúng ta không nghi ngờ gì có thể tận hưởng một thời gian. Vấn đề là, Rhoda, làm như vậy, liệu có phải sẽ chôn vùi hoàn toàn tiền đồ của anh không. Liên tiếp hai nhiệm kỳ ở trên bờ, em hiểu đấy, đặc biệt là trong giai đoạn này—"

"Ồ, Pug, anh sẽ giành được bốn vạch thôi. Em biết anh sẽ làm được. Đến lúc đó, anh cũng sẽ trở thành chỉ huy thiết giáp hạm thôi. Trời ạ, anh có nhiều cờ thưởng như vậy, còn có cả những bản thẩm định tốt như thế—Pug, có lẽ ý kiến của Bộ trưởng Hải quân là đúng? Biết đâu ở đó sẽ bùng nổ chiến tranh. Đến lúc đó công việc của anh sẽ quan trọng, đúng không?"

"Đó là lời nói vô căn cứ." Pug đứng dậy lấy một miếng phô mai ăn. "Ông ấy nói Tổng thống hiện yêu cầu đưa những người giỏi nhất đến Berlin làm tùy viên. Được thôi, cứ cho là tin vào điều này đi. Ông ấy còn nói, việc này sẽ không ảnh hưởng đến tiền đồ của anh. Lời này thì anh không cách nào tin nổi. Điều đầu tiên mà hội đồng bình chọn chú ý trong lý lịch của anh—hiện tại là vậy, tương lai cũng sẽ như vậy—là thời gian anh phục vụ trên biển dài bao lâu."

"Pug, anh chắc chắn Kip không ăn tối ở đây chứ? Đồ ăn thì có đầy ra. Warren sắp đến New York rồi."

"Không, Kip phải đến Đại sứ quán Đức tham dự tiệc chiêu đãi. Chết tiệt, sao Warren lại phải đến New York nữa? Nó mới về nhà có ba ngày."

"Hỏi nó đi," Rhoda nói.

Cửa trước vang lên tiếng "bộp", theo sau là tiếng bước chân nhanh và chắc chắn, không nghi ngờ gì nữa là Warren đến. Nó bước vào hành lang, một tay cầm hai chiếc vợt bóng quần vung lên, chào họ. "Hey."

Nó mặc một bộ đồ thể thao màu xám, vì vừa đánh bóng xong nên khuôn mặt gầy gò rám nắng trông rạng rỡ, tóc hơi rối, cái miệng mỏng ngậm một điếu thuốc, trông hoàn toàn là kiểu đứa trẻ không bị gia đình ràng buộc, vừa tốt nghiệp đại học đã biến mất khỏi cuộc sống của cha mẹ. Pug đến giờ vẫn hơi thắc mắc: Warren ăn khẩu phần ăn trên tàu, sao có thể càng lớn càng khỏe mạnh như vậy. Dáng người mảnh khảnh của nó ngày càng cao lớn vạm vỡ. Lần này về nhà, trong mái tóc đen của nó đã lưa thưa vài sợi tóc bạc sớm, khiến cha mẹ nó nhìn thấy rất ngạc nhiên. Victor Henry có chút ghen tị với làn da rám nắng trên người Warren, bởi vì nó chứng minh rất nhiều thứ: đài chỉ huy trên tàu khu trục, quần vợt, những ngọn núi xanh ở đảo Oahu, đặc biệt là nhiệm vụ trên biển cách đường Constitution hàng ngàn dặm. Ông nói: "Ta nghe nói con sắp đến New York?"

"Vâng, thưa cha. Con có thể đi không? Phó hạm trưởng của con vừa đến Washington. Chúng con đến đó xem vài vở kịch. Ông ấy là một nông dân Idaho thực thụ, chưa từng đến New York bao giờ."

Trung tá Henry càu nhàu không vui. Warren thực sự muốn lấy lòng phó hạm trưởng thì tất nhiên không tệ. Người làm cha chỉ sợ có người đàn bà nào đó ở New York đang đợi nó. Warren vốn là học sinh ưu tú trong học viện, nhưng số lần lẻn ra ngoài quá nhiều, gần như ảnh hưởng đến bản đánh giá tốt nghiệp của nó. Lưng nó từng bị thương nặng, theo lời nó nói là bị thương trong một lần đấu vật, nhưng một cách giải thích khác là, nó dan díu với một người đàn bà lớn tuổi hơn, nửa đêm đâm xe bị thương. Cha mẹ chưa bao giờ nhắc đến người đàn bà đó trước mặt nó; một phần là vì xấu hổ—họ đều là những tín đồ giữ đạo, khó mà mở lời về những chủ đề như vậy—một phần là vì họ hiểu rõ trong lòng, nói chuyện loại này với Warren hoàn toàn là phí công vô ích.

Chuông cửa reo. Một người đầy tớ tóc hoa râm mặc quân phục trắng, đi qua phòng khách ra mở cửa. Rhoda đứng dậy, dùng bàn tay thon thả vuốt lại tóc, nhẹ nhàng phủi phủi phần mông mặc áo lụa. "Còn nhớ Kip Tolliver không, Warren? Chắc là Kip đến đấy."

"Hey, tất nhiên là nhớ. Cái ông thiếu tá Hải quân cao lớn sống ngay cạnh nhà chúng ta lúc ở Manila ấy. Hiện tại ông ấy đang phục vụ ở đâu?"

"Ông ấy làm tùy viên Hải quân ở Berlin, vừa mới rời chức," Victor Henry nói.

Warren làm một bộ mặt hài hước, thì thầm: "Trời ạ, cha, sao ông ấy lại làm cái nghề này cơ chứ? Làm công chức trong Đại sứ quán!" Rhoda nhìn chồng mình một cái, mặt chồng bà không hề có chút biểu cảm nào.

"Trung tá Tolliver đến rồi, thưa bà," người đầy tớ nói ở cửa.

"Hello, Rhoda!" Tolliver sải bước đi vào, chìa hai cánh tay dài của mình ra; ông mặc một bộ lễ phục quân đội rất vừa vặn: một chiếc áo khoác xanh đính khuy vàng, trên đó cài vài tấm huân chương, một chiếc cà vạt đen, một chiếc áo sơ mi trắng phẳng phiu. "Hey, lạy Chúa! Cô còn trẻ hơn mười tuổi so với lúc ở Philippines."

"Ồ, anh nói gì vậy," bà nói, đôi mắt lấp lánh, để ông hôn nhẹ lên má mình.

"Hal, Pug." Tolliver giơ một bàn tay được cắt tỉa rất đẹp lên, vuốt lại mái tóc xoăn dày đang bạc dần của mình, trừng mắt nhìn đứa con trai. "Nói thật lòng, đây là đứa con nào của anh vậy?" Warren chìa một bàn tay ra. "Hello, thưa ông. Đoán thử xem."

"Aha. Là Warren. Byron cười không phải như thế này. Còn có tóc đỏ, ta nhớ ra rồi."

"Ông đoán đúng rồi ạ, thưa ông."

"Rusty Trainer nói với ta, cháu đang phục vụ trên tàu 'Monaghan'. Byron đang làm gì?" Sau một hồi im lặng, Rhoda lúc này vui vẻ nói chuyện. "Ồ, Byron là kẻ mơ mộng lãng mạn trong nhà chúng ta, Kip. Nó đang học mỹ thuật ở Ý. Anh cũng nên gặp Madeline! Đều lớn cả rồi." Warren nói một câu, "Xin lỗi, con xin phép, thưa ông," rồi đi ra ngoài.

"Mỹ thuật! Ý!" Trên khuôn mặt gầy gò và điển trai của Tolliver, một hàng lông mày rậm nhướn lên, đôi mắt màu xanh kim cương mở to. "Ừm, cái đó thì đúng là lãng mạn thật. Này, Pug, anh bắt đầu uống rượu từ khi nào vậy?" Tolliver nhận lấy một ly Martini, thấy Henry tự rót cho mình một ly, liền hỏi như vậy.

"Sao, Kip, anh đã uống rượu từ lúc ở Manila rồi. Uống dữ dội lắm."

"Vậy sao? Ta quên mất. Ta chỉ nhớ lúc ở học viện anh là người phản đối uống rượu nhất. Ngay cả thuốc lá cũng không hút."

"Ừm, anh đã bỏ cữ từ lâu rồi."

Victor Henry kể từ sau khi đứa con gái nhỏ trong nôi qua đời, bắt đầu uống rượu hút thuốc, dần dần thành nghiện, sớm đã vứt bỏ lời dặn dò đinh ninh của người cha tín đồ Giám lý nghiêm khắc bắt ông cai thuốc cai rượu ra sau đầu. Chủ đề này ông không thích mở rộng thảo luận. Tolliver mỉm cười nhẹ, nói: "Chủ nhật anh cũng đánh bài chứ?"

"Không. Anh vẫn chưa bỏ được cái tính khí ngốc nghếch này."

"Đừng nói đây là cái tính khí ngốc nghếch gì, Pug."

Trung tá Tolliver bắt đầu nói về công việc tùy viên ở Berlin. Câu đầu tiên của ông là: "Anh sẽ thích nước Đức, Rhoda cũng sẽ thích. Nếu anh bỏ lỡ cơ hội như vậy, thì thật quá ngốc nghếch."

Khuỷu tay ông đặt trên hai tay vịn ghế, một chân gác gọn gàng lên chân kia, cách nói chuyện của ông vẫn lôi cuốn như trước. Cho đến tận bây giờ ông vẫn là một trong những bạn học điển trai nhất khóa của Pug, nhưng cũng là người bất hạnh nhất. Hai năm sau khi tốt nghiệp Học viện Hải quân, ông gặp tai nạn trong một cuộc diễn tập quân sự của hạm đội. Lúc đó ông là sĩ quan trực ban tổng quát của một chiếc tàu khu trục, đúng lúc ngoài biển nổi bão, thời gian lại vào ban đêm, một chiếc tàu ngầm không phát tín hiệu cảnh báo trước, bỗng nhiên nổi lên mặt nước ở khoảng cách một trăm thước trước mặt ông, kết quả là đâm vào tàu khu trục. Trách nhiệm không thuộc về ông, cũng không ai bị thương, tòa án quân sự thông thường chỉ ghi vào hồ sơ kỷ luật ông. Nhưng kỷ luật này đã cản trở sự thăng tiến của ông, ảnh hưởng đến tiền đồ của ông. Ông vừa nói chuyện vừa uống rượu, trong khoảng mười lăm phút đã uống hết hai ly Martini.

① Sĩ quan trực ban trên tàu, trong thời gian làm nhiệm vụ, đại diện cho hạm trưởng chịu trách nhiệm quản lý công việc của toàn tàu. Ngoài phó hạm trưởng ra, tất cả nhân viên trên tàu đều phải tuân theo mệnh lệnh của sĩ quan này.

Sau đó, Victor Henry hỏi ông ta về tình hình của Đức Quốc xã và cách thức để giao tiếp với họ. Kip Toliver bỗng ngồi thẳng người, khi ra hiệu bằng tay, ông ta duỗi thẳng cả những ngón tay vốn đang co lại, giọng điệu trở nên vô cùng kiên định. Ông ta nói, Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa đã lên nắm quyền, còn các đảng phái khác của Đức thì đã xuống đài, cũng giống như việc Đảng Dân chủ lên nắm quyền và Đảng Cộng hòa thất thế ở Mỹ vậy. Đó là nhìn nhận vấn đề từ một khía cạnh. Người Đức yêu mến nước Mỹ và đang cố gắng hết sức để giành lấy tình hữu nghị của chúng ta. Pug chỉ cần đối xử với họ như những con người bình thường, thì anh sẽ thấy mọi con đường đều mở rộng với mình, tin tức tình báo sẽ không ngừng tuôn chảy. Những bình luận trên báo chí về nước Đức mới đều bóp méo sự thật. Đợi sau khi Pug quen thân với đám phóng viên đó, anh sẽ hiểu được lý do bên trong — phần lớn họ đều là những kẻ cánh tả bất mãn và những gã bợm nhậu.

"Hitler thực sự là một kẻ đáng kinh ngạc," Toliver nói, đặt ngay ngắn hai khuỷu tay, dùng một bàn tay được rửa sạch sẽ chống lấy cằm, bàn tay kia buông thõng một cách tùy tiện, gương mặt rạng rỡ. "Tôi không nói rằng ông ta, hoặc Goering, hay bất kỳ kẻ nào trong nhóm của họ, sẽ không giết chết bà nội của chính mình để gia tăng quyền lực hoặc thúc đẩy lợi ích của nước Đức. Nhưng đó chính là chính trị của châu Âu ngày nay. Chúng ta, những người Mỹ, thực sự quá ngây thơ. Liên Xô là một thực tế khổng lồ mà châu Âu phải đối mặt, Pug à — những kẻ man di Slav đó đang làm mưa làm gió ở phương Đông. Chúng ta rất khó thấu hiểu loại tình cảm đó, nhưng đối với họ, đó lại là nền tảng của chính trị. Quốc tế Cộng sản không phải đang ngồi đó chơi mạt chược đâu, anh biết đấy, đám Bolshevik đó sắp sửa ra mặt để thống trị châu Âu, dù là dùng mưu kế, vũ lực, hay kết hợp cả hai. Nhưng Hitler không để họ làm thế. Đó mới là cốt lõi của vấn đề. Cách người Đức làm chính trị không giống chúng ta — ví dụ như thủ đoạn đối phó với người Do Thái — nhưng đây chỉ là một hiện tượng chuyển tiếp, hơn nữa cũng chẳng liên quan gì đến anh hay tôi. Hãy nhớ lấy điều này. Công việc của anh là thu thập tin tức tình báo quân sự. Anh có thể lấy được một đống thông tin từ những kẻ này. Họ cảm thấy rất tự hào về thành tựu của mình và cũng thích khoe khoang với người khác, ý tôi là họ sẽ cung cấp cho anh những thông tin xác thực."

Pug đi pha thêm rượu Martini, Rhoda liền đặt ra vài câu hỏi liên quan đến người Do Thái. Toliver quả quyết nói với cô rằng những bản tin trên báo chí đều phóng đại sự thật. Tệ nhất cũng chỉ là cái gọi là "Đêm Thủy tinh" (Kristallnacht), một vài tên côn đồ Đức Quốc xã ra ngoài đập phá cửa kính các cửa hàng bách hóa, phóng hỏa đốt vài giáo đường Do Thái. Ngay cả chuyện đó cũng là do người Do Thái tự chuốc lấy, là họ đã ra tay sát hại một quan chức tại đại sứ quán Đức ở Paris trước. Toliver còn nói, bản thân ông ta với tư cách là một nhân viên đại sứ quán, có cái nhìn bi quan về sự việc này. Hôm đó ông ta và vợ đang xem kịch trong rạp, lúc về nhà nhìn thấy trên đại lộ Kurfürstendamm có không ít mảnh kính vỡ, đằng xa cũng có một, hai đốm lửa. Thế nhưng theo bản tin của tạp chí "Time", thì cứ như thể cả nước Đức đang bốc cháy, người Do Thái đang bị thảm sát tập thể. Không ít tin tức báo chí mâu thuẫn lẫn nhau, nhưng theo những gì ông ta biết, không một ai thực sự bị tổn thương về mặt thể xác. Để bồi thường cho nhân viên đại sứ quán đã chết kia, họ đã bị phạt một số tiền khổng lồ, đại loại như mười tỷ Mark. Hitler là người tin vào việc dùng liều thuốc mạnh. "Còn về việc Tổng thống ra lệnh triệu hồi đại sứ của chúng ta, tôi thấy đó là một cử chỉ thừa thãi, hoàn toàn thừa thãi," Toliver nói. "Điều này chỉ khiến tình cảnh của người Do Thái tồi tệ hơn, đồng thời làm xáo trộn hoàn toàn công việc của đại sứ quán chúng ta. Ở Washington này, quả thực chẳng có lấy một chút kiến thức thông thường nào về nước Đức."

Vị chiến binh vốn đang ngồi thẳng tắp này sau khi uống thêm hai ly Martini nữa thì lưng cũng đã cong lại, lời nói cũng nhiều hơn. Ông ta thao thao bất tuyệt kể về những chuyện thâm cung bí sử trong hải quân, hồi tưởng lại các buổi tiệc rượu, những ngày cuối tuần, vài chuyến đi săn, v.v.; ông ta nhớ lại có lần sau cuộc mít tinh của Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa đã uống thâu đêm suốt sáng với một vài sĩ quan không quân Đức thế nào, đến tận lúc bình minh mọi người đều uống canh khoai tây để giải rượu; ông ta còn nhớ lại việc mình đã kết bạn với những diễn viên và nhân vật chính trị nổi tiếng ra sao. Ông ta cười hì hì nói, chỉ cần anh không đánh sai bài, công việc tùy viên quân sự vô cùng thú vị, cũng có thể sống rất thoải mái. Hơn nữa, làm những trò này vốn dĩ là công việc của anh, để thu thập tình báo. Đây là công việc trong mơ. Một người một khi đã vào hải quân, thì có quyền nhận được những thứ tốt nhất trong hải quân! Anh ta ngồi ở hàng ghế đầu, nhìn lịch sử diễn ra từng màn, đồng thời cũng đạt được sự hưởng thụ tối đa. "Tôi nói với anh này, Pug, anh sẽ thích công việc này thôi. Đây là chức vụ thú vị nhất ở châu Âu hiện nay. Trong hàng ngũ Đức Quốc xã quả thực là vàng thau lẫn lộn. Có những người rất có năng lực, nhưng tôi nói thật lòng với anh, cũng có những kẻ khá thô lỗ. Các sĩ quan chuyên nghiệp nói chung đều có chút coi thường họ. Nhưng chết tiệt thật, chúng ta thấy các chính trị gia của chính mình thì sao nào? Hitler hiện đang nắm quyền lớn, điểm này đã không còn gì để tranh cãi. Ông ta quả thực là một nhân vật lớn, tôi không lừa anh đâu. Vì vậy đừng bàn luận về chủ đề đó, như vậy cuộc sống của anh sẽ rất dễ chịu, bởi vì thực sự không có ai hiếu khách hơn người Đức đâu. Theo một nghĩa nào đó, họ còn rất giống chúng ta, anh biết đấy, giống chúng ta hơn người Pháp, thậm chí hơn cả người Anh. Họ gặp một sĩ quan hải quân Mỹ, chỉ hận không thể móc tim gan mình ra." Ông ta nhìn Pug, lại nhìn Rhoda, gương mặt lộ ra một nụ cười kỳ lạ, mang chút u sầu, cũng hơi có chút chán nản. "Đặc biệt là một người giống như anh. Không đợi anh đến nơi, họ đã hiểu rõ anh từ đầu đến chân rồi. Có lẽ tôi hỏi hơi quá thẳng thắn — nếu vậy, hãy bảo tôi nhé — nhưng một người say mê súng ống như anh, sao bỗng nhiên lại làm công việc này?"

"Tại tôi tự chuốc lấy phiền phức thôi," Pug nói như đang than phiền. "Anh biết đấy, khi tôi còn ở Cục Quân giới, tôi đã từng nghiên cứu về ngòi nổ ngư lôi từ tính —"

"Chết tiệt, tất nhiên là tôi biết. Chẳng phải anh đã nhận được bằng khen sao?"

"Ừ, sau đó tôi vẫn luôn chú ý đến sự phát triển của ngư lôi. Một phần công việc của tôi ở Phòng Kế hoạch Tác chiến là chú ý đến những thông tin tình báo mới nhất về vũ khí và trang bị. Người Nhật đang chế tạo một số loại ngư lôi rất uy lực, Kip à. Một đêm nọ, tôi lấy thước tính cũ của mình ra để tính toán các con số, và phát hiện thiết bị trên tàu chiến của chúng ta đã lạc hậu dưới mức an toàn. Tôi đã viết một bản báo cáo, đề nghị lắp thêm hoặc làm dày thêm vách ngăn chống ngư lôi① trên các tàu chiến thuộc lớp Maryland và New Mexico. Hôm nay, Bộ trưởng Tác chiến Hải quân đã gọi tôi đến văn phòng của ông ấy. Bản báo cáo của tôi đã trở thành một củ khoai tây nóng bỏng. Cục Tàu thuyền và Cục Quân giới đổ lỗi cho nhau, các bản ghi nhớ bay đầy trời, vách ngăn chống ngư lôi đã quyết định lắp thêm hoặc làm dày thêm —"

① Phần vỏ hình bán trụ ở hai bên mạn tàu, nhô ra ngoài, dùng để ngăn chặn việc bị ngư lôi hoặc thủy lôi đánh chìm, thường nằm dưới mực nước của tàu.

"Kết quả là, lạy Chúa, Pug, anh lại tự kiếm cho mình một tấm bằng khen nữa rồi. Làm tốt lắm!" Đôi mắt xanh thẳm của Toliver lóe lên tia sáng, ông ta liếm liếm môi.

"Tôi tự kiếm cho mình một mệnh lệnh đi Berlin," Victor Henry nói.

"Trừ khi tôi có thể đưa ra lý do đủ thuyết phục để không tuân theo mệnh lệnh này. Bộ trưởng Tác chiến Hải quân nói rằng Nhà Trắng đã khẳng định vị trí này cực kỳ quan trọng vào thời điểm hiện tại."

"Không sai, Pug, không sai chút nào."

"Ừ, có lẽ là không sai, nhưng cái gì cũng có hai mặt, Kip à, anh rất giỏi làm những việc kiểu này. Tôi thì không. Tôi chỉ biết làm công việc kỹ thuật thôi. Tôi không thuộc về cái giới đó. Cấp trên muốn tìm một người phù hợp, tôi lại xui xẻo bị chọn trúng, chỉ thế thôi. Tôi lại tình cờ biết chút tiếng Đức. Bây giờ tôi đâm lao phải theo lao rồi."

Toliver nhìn đồng hồ. "Ừ, đừng từ bỏ cơ hội này. Đây là lời khuyên của một người bạn cũ dành cho anh. Hitler là một nhân vật rất, rất quan trọng, châu Âu có lẽ sắp xảy ra chuyện lớn rồi. Tôi phải đến đại sứ quán đây."

Victor Henry tiễn ông ta ra cửa, tiễn đến tận nơi chiếc xe Mercedes màu xám mới tinh đang đỗ. Dáng đi của Toliver có chút lảo đảo, nhưng giọng nói lại rất bình tĩnh và rõ ràng. "Pug, nếu anh quyết định đi, hãy gọi cho tôi một cuộc điện thoại. Tôi có thể chép cho anh một danh sách số điện thoại để anh tiện tìm những người phù hợp mà nói chuyện. Thực ra —" một nụ cười khổ thoáng hiện trên mặt ông ta. "Không, không cần đưa cho anh số điện thoại của phụ nữ đâu, đúng không? Ừ, tôi luôn rất ngưỡng mộ con người của anh." Ông ta vỗ vỗ vai Henry. "Lạy Chúa, tôi đã đặt rất nhiều kỳ vọng vào buổi tiệc rượu này đấy! Kể từ khi rời Berlin, tôi vẫn chưa được uống một ly rượu vang Mosel chính hiệu nào."

Khi Victor Henry quay vào, anh suýt nữa vấp phải một chiếc vali và một hộp đựng mũ. Con gái anh đang đứng cạnh tấm gương ở hành lang, mặc một chiếc áo len màu xanh lá cây, cầm một chiếc mũ có kích cỡ rất vừa vặn đội lên đầu. Rhoda đang nhìn con gái mình trang điểm, Warren đứng đợi bên cạnh, chiếc áo khoác quân đội vắt trên vai, tay cầm một chiếc túi du lịch bằng da lợn cũ kỹ. "Sao thế, Madeline? Con định đi đâu đấy?"

Cô bé nhìn anh mỉm cười, mở to đôi mắt đen láy. "Ồ, mẹ chưa nói với bố sao? Warren định đưa con đến New York." Pug nhìn Rhoda đầy nghiêm khắc, Rhoda liền nói: "Có gì không ổn sao anh yêu? Warren mua dư vài vé xem kịch. Con bé thích xem kịch, mà ở Washington lại ít khi diễn kịch."

"Nhưng đại học đã nghỉ chưa? Đã đến kỳ nghỉ lễ Phục sinh chưa?"

Con gái nói: "Bài vở của con đều đã chuẩn bị xong rồi. Chỉ đi hai ngày thôi, hai ngày đó không có thi cử."

"Con định ở đâu?" Warren xen vào: "Có thể ở khách sạn nữ Barbizon."

"Bố không thích thế," Victor Henry nói.

Madeline nhìn cha bằng ánh mắt cầu khẩn, ánh mắt đó khiến ngay cả người sắt đá cũng phải mềm lòng. Cô bé năm nay mười chín tuổi, vóc người nhỏ nhắn, thanh mảnh, làn da rất giống Rhoda, nhưng đôi mắt nâu sâu thẳm cùng vẻ quyết đoán đó khiến cô bé trông rất giống cha mình. Cô bé cố gắng nhăn cái mũi nhỏ của mình về phía anh. Động tác nhỏ này của cô bé thường khiến anh mỉm cười và đáp ứng nguyện vọng của cô. Lần này, sắc mặt anh không hề thay đổi. Madeline nhìn mẹ trước, rồi nhìn anh trai Warren, cầu cứu họ, nhưng họ đều không biểu cảm gì. Môi Madeline cong lên thành một nụ cười, đây là một nụ cười làm nũng, đôi khi còn khó đối phó hơn cả việc giận dỗi hay cãi lại. Cô bé tháo mũ xuống. "Được rồi! Thôi vậy. Warren, em hy vọng anh có thể xử lý mấy cái vé thừa đó. Khi nào thì ăn tối?"

"Ngay bây giờ," Rhoda nói.

Warren mặc áo khoác quân đội, cầm túi du lịch lên. "Này, nhân tiện hỏi bố một câu, bố ơi, con đã từng nói với bố chưa nhỉ, khoảng hai tháng trước phó hạm trưởng của chúng con đã đề nghị tiến hành huấn luyện bay? Con đã nộp đơn đăng ký, chỉ là muốn góp vui thôi. Ừ, hôm nay thấy Chet lảng vảng ở Cục Nhân sự Hải quân. Có vẻ như cả hai chúng con đều có hy vọng được nhận."

"Huấn luyện bay?" Rhoda tỏ vẻ rất không vui. "Ý con là con muốn làm phi công tàu sân bay sao? Cứ thế mà quyết định? Cũng không bàn bạc với cha con một tiếng?"

"Sao thế mẹ, đây cũng chỉ là một cách để tích lũy kinh nghiệm thôi. Con nghĩ làm vậy là có ý nghĩa, mẹ thấy sao, bố?"

Trung tá Henry nói: "Không sai chút nào. Tương lai của hải quân chắc chắn thuộc về đám người đi giày da màu nâu này."

"Cái đó con không biết, nhưng Pensacola chắc chắn là nơi rất thú vị, chỉ cần con không làm trò hề trong tuần đầu tiên là được. Thứ Sáu con về. Xin lỗi nhé, Madeline." Cô bé nói: "Cảm ơn ý tốt của anh. Chúc anh chơi vui vẻ." Anh hôn mẹ mình rồi rời đi.

Pug Henry mặt căng như dây đàn, không nói một lời, lơ đễnh uống món súp kem kiểu Pháp, ăn món gà nướng kiểu London và bánh nhân quả mâm xôi. Việc Kip Toliver say mê công việc gián điệp tầm thường đó chỉ làm tăng thêm sự khó chịu trong lòng Henry. Madeline cứ muốn trốn học luôn khiến anh phiền lòng. Nhưng tồi tệ nhất vẫn là tin tức Warren vừa thốt ra. Pug vừa cảm thấy tự hào, vừa cảm thấy sợ hãi. Làm phi công trên tàu sân bay là công việc nguy hiểm nhất trong hải quân, mặc dù ngay cả những sĩ quan ở độ tuổi của anh cũng đang nộp đơn đến Pensacola để được huấn luyện bay, nhằm mục đích sau này có thể phục vụ trên tàu sân bay. Henry là một nhân viên hải quân trung thành, anh vừa ăn vừa tự hỏi trong lòng: Warren làm vậy rốt cuộc có đúng không, liệu chính anh có nên nộp đơn xin tham gia huấn luyện bay để có thể trốn tránh nhiệm vụ đi Berlin một cách đường hoàng (dù hơi có chút tàn nhẫn) hay không.

Madeline vẫn luôn giữ vẻ mặt phấn khởi, trò chuyện với mẹ về đài phát thanh sinh viên tại Đại học George Washington, đây là điều cô bé hứng thú nhất ở trường. Người giúp việc là một ông già người Ireland, khi thời tiết ấm áp còn kiêm luôn việc chăm sóc vườn tược, ông bước vào bước ra trong phòng ăn thắp nến, bày biện những món đồ cổ của nhà Rhoda. Rhoda cũng bỏ tiền chi trả chi phí gia đình, nhờ vậy họ mới có thể duy trì lối sống như hiện nay ở Washington, và ở bên cạnh những người bạn cũ của cô. Victor Henry dù trong lòng đầy khó chịu nhưng lại không thể nói ra. Lương của một trung tá không nhiều, mà Rhoda đã quen sống cuộc sống khá giả hơn.

Madeline hôn lên trán cha mình rồi rời khỏi phòng ăn từ rất sớm. Khi ăn món tráng miệng, trên bàn vẫn bao trùm một bầu không khí im lặng ảm đạm, chỉ nghe thấy tiếng bước chân khẽ khàng của người giúp việc già. Rhoda không nói một lời, chờ đợi tâm trạng của chồng dần dần tốt hơn. Sau đó anh hắng giọng, nói hay là ra hành lang uống rượu Brandy và cà phê đi, cô liền mỉm cười vui vẻ trả lời: "Được thôi, chúng ta đi đi, Pug."

Người giúp việc đặt bộ ấm trà bằng bạc lên hành lang, bật đèn đỏ nhấp nháy trong lò sưởi giả. Cô kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi chồng mình ngồi vào chiếc ghế yêu thích, chậm rãi uống cà phê và rượu Brandy. Sau đó cô nói: "Anh biết không, Byron viết thư đến rồi."

"Cái gì? Nó còn nhớ là chúng ta vẫn còn sống sao? Nó có khỏe không?"

Họ đã mấy tháng không nhận được thư của nó. Henry thường gặp ác mộng, mơ thấy con trai mình chết trong một chiếc xe bốc khói rơi xuống mương ở Ý, hoặc mơ thấy nó chết theo cách khác hoặc bị thương. Tuy nhiên, kể từ sau khi nhận được bức thư cuối cùng, anh vẫn chưa hề nhắc đến Byron.

"Nó khỏe lắm. Hiện nó đang ở Siena. Nó đã không còn học ở Florence nữa, nói rằng nó đã chán ngấy mỹ thuật rồi."

"Tôi nghe thấy cũng chẳng thấy lạ gì. Siena. Nơi đó vẫn thuộc Ý, phải không?"

"Đúng vậy, gần Florence. Ở vùng núi Tuscany. Nó cứ quanh quẩn ở vùng núi Tuscany mãi. Có vẻ như nó đã có cảm tình với một cô gái."

"Một cô gái, hửm? Cô gái như thế nào? Cô gái người Ý à?"

"Không, không. Một cô gái người New York. Natalie Jastrow. Nó nói chú của cô ấy là người nổi tiếng."

"Tôi hiểu rồi. Chú của cô ấy là ai?"

"Là một nhà văn. Ông ấy sống ở Siena, tên là Tiến sĩ Aaron Jastrow. Briny① nói, ông ấy từng dạy lịch sử tại Đại học Yale."

① Briny là biệt danh của Byron.

"Thư đâu?"

"Để trên bàn điện thoại."

Vài phút sau anh quay lại với bức thư, còn cầm theo một cuốn sách dày có bìa đen, trên bìa in một cây thánh giá màu trắng và một ngôi sao sáu cánh màu xanh. "Đây là cuốn sách do chú của cô ấy viết."

"Ồ, không tệ. "Chúa Jesus của người Do Thái". Cuốn sách này là do một câu lạc bộ đọc sách nào đó gửi đến. Em đọc chưa?"

"Em đọc hai lần rồi. Viết hay tuyệt." Henry soi bức thư của con trai dưới ánh đèn vàng rồi đọc. "Ừ. Mọi chuyện xem ra tiến triển khá nhanh đấy."

"Cô bé có vẻ rất đáng yêu," Rhoda nói. "Nhưng trước đây nó cũng từng như vậy mà, tình yêu nồng cháy chín ngày."

Trung tá Henry nhẹ nhàng ném bức thư lên bàn cà phê, lại rót cho mình một ly Brandy nữa. "Lát nữa tôi sẽ đọc kỹ. Nó chưa bao giờ viết bức thư nào dài như thế này. Trong thư có nói chuyện gì quan trọng không?"

"Nó muốn tiếp tục ở lại Ý."

"Thật sao? Nó định sống thế nào?"

"Nó làm nghiên cứu cùng Tiến sĩ Jastrow. Cô gái kia cũng làm việc ở đó. Nó nghĩ dựa vào số tiền tự mình kiếm được, cộng thêm vài đồng lẻ từ tài sản ủy thác của mẹ em, là có thể xoay xở được."

"Thật ư?" Henry nhìn cô chằm chằm. "Ngay cả Byron Henry cũng nói đến chuyện tự nuôi sống bản thân, đây đúng là tin tức lớn nhất nghe được từ nó kể từ khi em sinh nó ra đến giờ." Anh uống cạn ly cà phê và rượu Brandy, đứng dậy, đập mạnh tay xuống bàn, rồi mới cầm bức thư trên tay.

"Đừng giận, Pug. Byron là đứa trẻ kỳ lạ, nhưng nó rất có đầu óc."

"Tôi còn chút việc phải làm."

Henry vào phòng làm việc riêng của mình, châm một điếu xì gà, đọc kỹ bức thư của Byron hai lần. Phòng làm việc này vốn được cải tạo từ phòng dành cho người giúp việc nữ. Dưới lầu vốn có một thư phòng đẹp, lắp cửa kính sát đất, nhìn ra ngoài có thể thấy vườn. Thư phòng này theo lý thuyết là thuộc về anh. Nhưng căn phòng này thực sự quá đáng yêu, Rhoda đôi khi thích dùng nó để tiếp khách, nếu chồng để lại vài tài liệu và sách vở trong đó, cô lại lải nhải không ngừng với anh. Cứ như vậy vài tháng, Henry liền mang vài cái giá sách, một chiếc giường nhỏ, một cái bàn làm việc nhỏ đã cũ vào căn phòng nhỏ vốn dành cho người giúp việc nữ, tự mình ở trong đó, anh cảm thấy rất hài lòng với thế giới nhỏ bé này: khoang tàu khu trục anh từng ở còn nhỏ hơn thế này nữa!

Henry hút xong điếu xì gà, liền đi tới chiếc máy đánh chữ cầm tay cũ kỹ của mình. Anh đặt hai tay lên bàn phím, dừng lại một chút, nhìn chăm chú vào ba bức ảnh trong khung da trên bàn: Warren, mặc quân phục, mái tóc dựng đứng như lông nhím, khuôn mặt nghiêm túc và trẻ con, nó là người kế nghiệp của sĩ quan cấp tướng hải quân; Madeline, mới mười bảy tuổi, nhưng trông còn trẻ hơn bây giờ rất nhiều: Byron đứng ở giữa, cái miệng rộng đầy thách thức, đôi mắt phân tích khép hờ, mái tóc dày đặc, trên khuôn mặt có phần giống hình trái xoan là sự pha trộn kỳ lạ giữa sự dịu dàng và bất trị. Ngoại hình của Byron không giống cha cũng chẳng giống mẹ. Nó chỉ là chính nó, một cá thể kỳ quặc.

Briny thân mến:

Mẹ con và ta đã nhận được bức thư dài của con. Ta dự định sẽ đối xử nghiêm túc với bức thư này. Mẹ con thà cười cho qua chuyện, nhưng ta nhớ rằng trước đây con chưa từng viết bức thư nào dài như vậy, cũng chưa từng dùng những từ ngữ như thế để mô tả một cô gái. Ta rất vui vì con khỏe mạnh, còn tìm được công việc có thu nhập. Đây là tin tốt. Ta chưa bao giờ thực sự coi trọng việc con muốn học mỹ thuật.

Bây giờ hãy nói về Natalie Jastrow. Trong những ngày tháng bi thảm này, nhất là khi cân nhắc đến tình hình hiện tại ở Đức, trước hết ta phải bày tỏ rằng, ta không hề có chút định kiến nào đối với dân tộc Do Thái. Ta không có nhiều mối quan hệ với họ, vì trong hải quân rất ít người Do Thái. Khi học ở Học viện Hải quân, lớp ta có bốn người, vào năm 1911 đây cũng là hiện tượng rất hiếm gặp. Trong số họ có một người đã tốt nghiệp, tên là Hank Goldfarb, là một sĩ quan rất giỏi.

Ở Washington này, định kiến đối với người Do Thái khá sâu sắc. Bản lĩnh kinh doanh của họ quá lớn, gần đây cuối cùng đã bị dư luận bàn tán. Cách đây không lâu, một người bạn của mẹ con kể cho ta nghe một câu chuyện cười. Ta nghe xong không thấy buồn cười, có lẽ vì cụ tổ của ta đến từ Glasgow. Anh ta nói, ba cuốn sách mỏng nhất trong Thư viện Quốc hội là: "Lịch sử từ thiện của Scotland", "Sự trinh tiết của phụ nữ Pháp" và "Nghiên cứu về đạo đức kinh doanh của người Do Thái". Ha ha ha! Kiểu đùa này có thể là ảnh hưởng từ tuyên truyền của Hitler, nhưng người kể câu chuyện này cho ta lại là một luật sư và một tín đồ Cơ đốc giáo rất tốt.

Con tốt nhất nên suy nghĩ kỹ về ý nghĩa sâu xa của việc kết hôn. Ta biết ta nói lời này hơi sớm, nhưng vào lúc con chưa lún quá sâu, bây giờ chính là lúc nên suy nghĩ thấu đáo. Tuyệt đối đừng quên một chân lý: Cô gái mà con định kết hôn, và người phụ nữ mà con phải chung sống suốt đời, là hai người hoàn toàn khác nhau.

Phụ nữ thường thích chú ý đến cuộc sống trước mắt. Trước khi kết hôn, cô ấy hết lòng muốn chinh phục con. Sau khi kết hôn, con chỉ là một trong nhiều yếu tố trong cuộc sống của cô ấy. Theo một nghĩa nào đó, tầm quan trọng của con chỉ đứng hàng thứ hai, vì cô ấy đã chiếm hữu được con rồi, còn những thứ khác lại đang thay đổi — con cái, cuộc sống gia đình, quần áo mới, các mối quan hệ xã hội. Nếu những yếu tố khác này không vừa ý cô ấy, cô ấy sẽ khiến cuộc sống của con không được dễ chịu đâu.

Nếu con kết hôn với một cô gái như Natalie Jastrow, tất cả những yếu tố khác sẽ thường xuyên mang đến cho con những phiền muộn, từ những đứa con mang dòng máu lai cho đến sự kỳ thị dù là nhỏ nhất trong giao tiếp xã hội. Giống như cách người Trung Quốc dùng nước mắt để dày vò người khác, tất cả những điều này sẽ khiến con đau khổ. Nếu như vậy, cả hai đứa sẽ dần cảm thấy phiền não và bi thương, nhưng đến lúc đó hai đứa đã có con cái, không thể tách rời, kết quả là hai đứa sẽ cảm thấy mình đang sống trong địa ngục trần gian.

Cha chỉ nói cho con biết những gì trong lòng cha nghĩ. Có lẽ cha là kẻ cổ hủ, hoặc quá ngu ngốc, hoặc quá thiếu lòng trắc ẩn. Cha không bận tâm việc cô gái này là người Do Thái, mặc dù đức tin của bọn trẻ sẽ trở thành một vấn đề nghiêm trọng, bởi cha thấy con là một tín đồ Cơ Đốc giáo rất tốt, tốt hơn cả Warren hiện tại. Con mô tả cô ấy thông minh ra sao, điểm này làm cha rất ấn tượng, và cha cũng không hề nghi ngờ, vì việc cô ấy là cháu gái của Aaron Jastrow chính là minh chứng. "Jesus của một người Do Thái" là một tác phẩm xuất sắc. Nếu cha cho rằng cô ấy thực sự có thể khiến con hạnh phúc, có thể đưa ra cho con vài chỉ dẫn trong cuộc sống, thì cha sẽ chào đón cô ấy, và nếu có kẻ nào dám vô lễ với cô ấy, cha sẽ đích thân đấm vào mũi hắn một cái. Nhưng cha cảm thấy đây có lẽ sẽ trở thành công việc thứ hai mà cha phải làm.

Ừm, cha đã đồng ý để con hành động theo ý chí của mình. Điều này chắc hẳn con đã sớm biết. Viết một lá thư như thế này thật chẳng dễ dàng gì. Cha cảm thấy mình thật giống một kẻ ngốc, đi phát triển những đạo lý mà ai cũng hiểu, đi giải thích những chân lý mà chính bản thân cha cũng chán ghét, nhất là việc để bản thân mình can thiệp vào chuyện tình cảm riêng tư của con. Nhưng cha làm vậy là có lý do. Con đã viết cho chúng ta một lá thư. Cha hiểu rằng con muốn một lá thư hồi đáp. Cha chỉ có thể làm được đến mức này. Nếu con coi cha là một lão già bảo thủ, cha cũng không có ý kiến gì.

Lá thư này cha sẽ đưa cho mẹ con xem. Bà ấy chắc chắn sẽ không tán thành việc cha viết như thế này, vì vậy cha sẽ gửi thư cho con mà không cần bà ấy ký tên. Có lẽ bà ấy sẽ viết thêm vài dòng, nói với con vài lời tâm sự của bà ấy. Warren đang ở nhà. Nó đã nộp đơn xin tham gia huấn luyện bay, có khả năng sẽ được phê chuẩn.

Cha

Rhoda thích ngủ nướng, nhưng chồng cô đã đánh thức cô dậy lúc tám giờ sáng hôm sau, đưa cho cô một lá thư ông viết cho Byron và một tách cà phê nóng. Cô ngồi bật dậy khỏi giường như đang nổi cáu, vừa uống cà phê vừa đọc thư, đọc xong không nói một lời, trả lại thư cho ông.

"Em có muốn thêm thắt gì vào thư không?"

"Không." Cô sa sầm mặt mày. Lúc nãy khi đọc đến đoạn Pug viết về phụ nữ và hôn nhân, cô hơi nhíu mày lại.

"Em tán thành cách viết này chứ?"

"Những lá thư như thế này chẳng giải quyết được vấn đề gì cả," Rhoda nói, thể hiện sự khinh miệt sâu sắc và đầy chắc chắn.

"Cha có thể gửi đi không?"

"Em không quan tâm."

Ông cất lá thư vào túi áo trước ngực. "Sáng nay mười giờ cha phải đi gặp Đô đốc Preble. Em còn suy nghĩ gì khác không?"

"Pug, làm ơn hãy làm đúng theo ý của anh đi được không?" Rhoda nói, giọng điệu đầy đau khổ và chán chường. Ngay khi ông rời đi, cô liền chui tọt vào chăn.

Khi Pug nói ông sẵn sàng nhận chức vụ này, Bộ trưởng Hải quân dường như không hề cảm thấy kinh ngạc. Ngay từ lúc rạng đông, Henry tỉnh giấc, cảm thấy sâu sắc rằng mình đã không thể trốn tránh sứ mệnh này, nên cũng chẳng buồn nghĩ đến nó nữa. Preble bảo ông hãy chuẩn bị gấp. Lệnh đi Berlin đã được ban ra rồi.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »