Gió Bão Chiến Tranh (1939–1941)

Lượt đọc: 330 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 62

❊ ❊ ❊

Đối đầu với nước Mỹ (trích từ "Đế quốc thế giới đã mất")

Sai lầm của Hitler

Ngày 11 tháng 12, tai họa cuối cùng đã ập đến. Sau bốn ngày do dự đến mức ngay cả lịch sử cũng phải nín thở vì căng thẳng, Adolf Hitler đã triệu tập Quốc hội và tuyên chiến với nước Mỹ.

Khi Franklin Roosevelt đọc bài diễn văn tuyên chiến trước Quốc hội vào ngày 8 tháng 12, ông thậm chí còn không nhắc đến nước Đức. Điều đó hoàn toàn có lý do! Nhiệt huyết chiến đấu sục sôi mà quốc gia của ông khơi dậy, trăm phần trăm đều nhắm vào Nhật Bản "đáng khinh bỉ". Như mọi khi, vị tổng thống cáo già này không bao giờ vượt quá phạm vi dư luận dù chỉ một tấc.

Trong bốn ngày đầy lo âu và bất an đó, một vài người trong Bộ Tổng tham mưu chúng tôi cho rằng cuộc tấn công Trân Châu Cảng có thể là bước ngoặt quan trọng của cuộc chiến. Có thể hình dung rằng, nước Mỹ sẽ quay lưng hoàn toàn với châu Âu để đối phó với Nhật Bản. Những áp lực chiến tranh đầy cuồng loạn mà Roosevelt tạo ra đều sẽ trút hết sang Thái Bình Dương, chấm dứt "Đạo luật Cho vay - Cho thuê". Như vậy, cuối cùng chúng ta sẽ có cơ hội thở phào, bóp nghẹt nước Anh, đánh bại Liên Xô, rồi sau đó chúng ta có thể tùy ý đối phó với nước Mỹ theo thời gian và cách thức của riêng mình.

Thế nhưng, Quốc trưởng lại chịu áp lực mạnh mẽ từ phía Nhật Bản, buộc ông phải "tôn trọng" cái gọi là Hiệp ước Tam cường.

Hiệp ước trở thành cái bẫy

Hiệp ước này chủ yếu là một thủ đoạn lừa bịp về mặt tuyên truyền, giống như "Hiệp ước Thép" giữa Đức và Ý vậy. Nhật Bản gia nhập "Hiệp ước Thép" vào năm 1940, từ đó nó trở thành Hiệp ước Tam cường, tạo ra cái gọi là "Trục phát xít" nổi tiếng thế giới một cách hư ảo. Đó chỉ là một lời nói khoác lác. Ý thì bằng không. Nhật Bản muốn mượn tay Đức để dọa người Mỹ, còn Hitler lại muốn mượn tay Nhật Bản để dọa người Mỹ. Hai quốc gia nghèo khó kết hợp với nhau qua hiệp ước, hy vọng có thể làm tê liệt một quốc gia giàu có nằm giữa chúng đến mức không thể nhúc nhích.

Tuy nhiên, trái đất là hình tròn, ở hướng khác vẫn còn một quốc gia hùng mạnh khác nằm giữa chúng—đó chính là Liên Xô. Tình hình này có chút khác biệt. Đức và Nga được gắn kết bởi Hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau của Ribbentrop, vì vậy các nhà ngoại giao của chúng ta đã thêm một điều khoản vào Hiệp ước Tam cường: quan hệ với Liên Xô không bị ảnh hưởng bởi hiệp ước mới này.

Khi chúng ta bắt đầu cuộc chiến với Nga, người Nhật nhận thấy điều khoản này của chúng ta là một cái cớ đáng mừng để họ trốn tránh nghĩa vụ. Họ rất lịch sự viện dẫn điều khoản này, cùng với hiệp ước trung lập mà họ đã ký với Nga lúc bấy giờ, để từ chối tấn công Nga. Họ nói rằng, một khi tình hình cho phép, họ sẽ làm như vậy—nghĩa là phải đợi đến khi nước Đức đánh đến mức đổ máu gần hết, chiến thắng đã ở ngay trước mắt. Nhưng sự kiện Trân Châu Cảng xảy ra, tình hình thế giới đột ngột đảo ngược; giờ đây Nhật Bản yêu cầu Đức giúp họ tấn công nước Mỹ, mặc dù trước đó họ đã không giúp Đức tấn công Nga.

Không cần nói cũng biết, Hitler chẳng nợ nần gì người Nhật. Hiệp ước Tam cường quy định, khi bất kỳ bên nào trong hiệp ước bị bên thứ ba tấn công, các bên còn lại có nghĩa vụ hỗ trợ lẫn nhau. Gọi sự kiện Trân Châu Cảng là một cuộc "tấn công" của Mỹ vào Nhật Bản, ngay cả trong lối tu từ của người phương Đông cũng là một sự gượng ép. Hitler đương nhiên có quyền yêu cầu Nhật Bản ít nhất phải tuyên chiến với Liên Xô để đổi lại sự hỗ trợ. Tin tức về hành động này của Nhật Bản sẽ làm tinh thần của quân đội chúng ta đang chiến đấu giữa băng tuyết nước Nga tăng lên vô hạn. Như vậy, toàn bộ cục diện sẽ thay đổi.

Nhưng Hitler chưa bao giờ đưa ra yêu cầu đó. Ông để mặc Nhật Bản tiếp tục giữ thái độ trung lập với Nga, trong khi chính mình lại đẩy nhân dân Đức vào cuộc chiến với nước Mỹ. Với sai lầm gây khó hiểu này, Quốc trưởng đã vứt bỏ chiến thắng lịch sử và tiền đồ của đế quốc. Tại sao?

Khi Quốc trưởng đến Berlin để tuyên chiến, bản thân tôi đang bay đến mặt trận Moscow để thị sát trên không. Giữa tháng 12, khi tôi gặp lại ông tại "Hang Sói", ông coi nước Mỹ như một gã công tử bột, chẳng hề bận tâm. Một buổi tối nọ khi đang ăn cơm, tôi cũng có mặt, ông gọi nước Mỹ là một dân tộc tạp chủng, một nửa Do Thái hóa, một nửa da đen hóa, không thể tiến hành một cuộc chiến tranh lớn. Ông đắc ý nói rằng nước Mỹ đang bận đối phó với Nhật Bản, chắc chắn sẽ bị đánh bại. Nó không thể còn cơ hội để can thiệp vào chuyện của châu Âu. Đó là những gì ông nói. Nhưng khi đó tôi tin, và bây giờ vẫn tin, những lời này chẳng qua là những lời nói dối mà ông dùng để làm vui lòng cấp dưới, hoặc là những lời tự lừa dối chính mình. Không giống như các nhà lãnh đạo Nhật Bản, Hitler biết rõ một sự thật quân sự quyết định về nước Mỹ: đừng bao giờ làm cái việc đánh thức và đoàn kết gã khổng lồ hỗn loạn, hay tranh cãi và xa hoa đồi bại này. Nhưng sự kiện Trân Châu Cảng đã làm đúng điều đó.

Cuộc chiến này về cơ bản là một ván cờ với con người và quốc gia làm quân cờ, là cuộc đọ sức giữa hai ý chí và hai thế giới quan. Kể từ năm 1933, Adolf Hitler và Franklin Roosevelt đã chơi ván cờ này. Về mặt nhà máy, dân số, đồng minh và tài nguyên thiên nhiên, Hitler ngay từ đầu đã nhường một xe hai tốt. Những điều kiện này buộc ông phải áp dụng phương thức khoác lác và bất chấp tất cả. Còn người đàn ông ngồi trên chiếc xe lăn kia lại có thể chậm rãi, cẩn thận đi từng quân cờ, chờ đợi đối thủ của mình tự làm mình thất bại bằng những canh bạc vụng về.

Năm này qua năm khác, Hitler dường như đã vượt qua Roosevelt một cách xuất sắc. Những chiến thắng không đổ máu trước năm 1939, sự chinh phục nhanh chóng của ông đối với Ba Lan và Tây Âu, cùng với sự chiếm đóng đáng kinh ngạc đối với phần châu Âu của nước Nga vào năm 1941, đã khiến ván cờ này có lợi cho ông rất nhiều. Đúng lúc Adolf Hitler đang chuẩn bị chiếu bí đối phương thì Nhật Bản bất ngờ tấn công Trân Châu Cảng. Đây chính là cơ hội mà Roosevelt đã chờ đợi từ lâu.

Tôi biết rõ có một cách nói quen thuộc, rằng Hitler cảm thấy dù sao chúng ta cũng đã thực sự chiến đấu với nước Mỹ trên Đại Tây Dương, nên vì danh dự, cần phải đánh bại Roosevelt bằng cách tuyên chiến. Cũng có người cho rằng, tuyên chiến với nước Mỹ là một bước đi thông minh để nâng cao tinh thần, khiến công chúng không chú ý đến sự đình trệ và thất bại của chúng ta ở mặt trận phía Đông. Nhưng những suy đoán này đều bỏ qua điểm yếu chí mạng là chúng ta đã không yêu cầu Nhật Bản chiến đấu với Nga, cũng như cách dùng từ trong bản tuyên chiến lúc bấy giờ. Tài liệu thiếu phong độ chính trị này là tiếng thét dài đầy tuyệt vọng và phẫn nộ gửi đến Roosevelt. Tôi luôn cho rằng, Hitler thấy ván cờ này đã bất ngờ mất đi hy vọng chiến thắng, nên trong cơn giận dữ đã đá văng bàn cờ xuống đất.

Kết cục của nước Đức

Các tác giả khác đi theo quan điểm của Churchill, đặt bước ngoặt của cuộc chiến vào một năm sau đó, quy kết vào ba sự kiện xảy ra cùng lúc: Stalingrad, El Alamein và cuộc đổ bộ ở Bắc Phi, khi đó cục diện chiến trường đã có chuyển biến rõ rệt. Tuy nhiên, sự thay đổi thực sự vẫn là sự kiện Trân Châu Cảng.

Không còn nghi ngờ gì nữa, phải đến năm 1942, rất lâu sau sự kiện Trân Châu Cảng và sự tắc nghẽn ở Moscow, chúng ta mới đạt được những chiến thắng to lớn, mở rộng đế quốc đoản mệnh của mình đến những nơi xa xôi nhất một cách đáng kinh ngạc. Tàu ngầm của chúng ta gần như kiểm soát hoàn toàn Đại Tây Dương, đánh chìm toàn bộ hạm đội Anh - Mỹ xuống đáy biển. Quân đội của chúng ta tiến vào dãy núi Caucasus, biển Caspian và sông Nile. Đồng minh tràn đầy năng lượng của chúng ta là Nhật Bản, trong những chiến thắng huy hoàng chớp nhoáng đã giành được đế quốc Đông Á của nó.

Nhưng, trong suốt thời gian đạt được tất cả những chiến thắng đó, một ký ức thường ám ảnh trong lòng tôi, đó chính là chuyến bay đến mặt trận Moscow ngay sau khi sự kiện Trân Châu Cảng xảy ra. Từ trên không, tôi nhìn thấy xe tăng, xe tải và pháo của Đức lầm lũi di chuyển trên hàng trăm dặm đồng bằng hoang vắng, dưới ánh mặt trời Nga u ám và thấp thỏm, bị đóng băng trong bùn lầy, lún sâu trong tuyết. Tôi nhìn thấy những con ngựa chết nằm trên tuyết, binh lính của chúng ta dùng dao chặt xác chúng cứng đờ để ăn thịt. Máy bay của chúng ta thường hạ cánh giữa đám binh lính trẻ và già, họ run rẩy trong bộ quân phục mùa hè xám xanh rách rưới, đốt những đống lửa dưới gầm xe để tránh cho bộ tản nhiệt của động cơ bị nứt, và để xăng không bị đông cứng thành chất dính không thể chảy ra được. Tôi nghe thấy họ phàn nàn không dứt về việc thiếu ủng, tất dày, găng tay, chất chống đông và một loại thuốc mỡ được cho là có thể làm kính ngắm trên xe tăng xoay được. Một khi kính ngắm bị đóng băng mà không có thuốc mỡ để xoay, lính tăng trở thành kẻ mù, không thể điều khiển xe tăng và tự bảo vệ mình. Những người lính run rẩy vì lạnh, mặc những chiếc áo khoác lông thú của phụ nữ mà Goebbels huy động đưa ra mặt trận, thật đáng thương.

Chuyến đi đó đã cho tôi thấy những quả bóng chặn máy bay và hỏa lực phòng không của Moscow. Ở đó, tôi cảm nhận sâu sắc nỗi đau của sự đình trệ đầy khổ sở; ở đó, lần đầu tiên tôi nghe tin chúng ta lại đang chiến đấu với nước Mỹ. Trong lòng tôi hiểu rõ, điều này cho thấy kết cục của nước Đức cuối cùng đã đến.

Sau năm 1941, nước Đức giống như một con voi điên cuồng bị trúng đạn vào đầu, trước khi gục ngã, nó dốc toàn bộ sức lực để giẫm đạp, húc chết những kẻ hành hạ mình. Viên đạn đó chính là sự kiện Trân Châu Cảng.

Đế quốc thế giới đã mất

Tôi kết thúc tập đầu tiên của bài phân tích về các chiến dịch trong Thế chiến II bằng những bình luận này, việc tóm tắt lại nó là điều đương nhiên.

Tướng George Marshall trong báo cáo chiến thắng năm 1945 của ông đã gọi Đức, Nhật và Ý là "ba quốc gia tội phạm cướp bóc tùy tiện". Nhưng giả sử chúng ta chiến thắng—điều mà chúng ta suýt chút nữa đã làm được—thì những nhà lãnh đạo phải lên giá treo cổ sẽ là Stalin, Churchill, Roosevelt và ông Marshall. Các quốc gia tội phạm phải là phe Đồng minh, vì để cố gắng giữ lấy những thứ mà các tập đoàn tài chính của họ cướp bóc được qua nhiều thế kỷ, họ đã tàn sát phụ nữ và trẻ em Đức, Nhật từ trên không. Hitler không hề ra lệnh ném bom Hiroshima và Dresden!

Trong lịch sử thế giới chưa bao giờ có đạo lý. Chỉ có sự tiến hóa của trào lưu dựa vào bạo lực và cái chết. Người chiến thắng viết nên lịch sử, tuyên án, treo cổ hoặc bắn chết kẻ thất bại. Trên thực tế, lịch sử là một chuỗi biến đổi quyền bá chủ liên tục dựa trên sự mục nát của cấu trúc chính trị cũ và sự trỗi dậy của cấu trúc chính trị mới. Chiến tranh là bước ngoặt nhiệt độ cao của những biến đổi đó. Chiến tranh là không thể tránh khỏi; chiến tranh sẽ luôn xảy ra; và tội ác chiến tranh duy nhất chính là thất bại. Đây là hiện thực, những thứ khác đều là lời nói nhảm đầy cảm tính.

Chúng ta đi theo Adolf Hitler từ đầu đến cuối, từ những chiến thắng khó tin cho đến thảm họa chưa từng có, từ sự kiện Trân Châu Cảng cho đến sự sụp đổ của Berlin, bởi vì ông chính là vận mệnh của dân tộc chúng ta. Ông là một nhà lý tưởng lãng mạn, một nhà lãnh đạo truyền cảm hứng, mang trong mình giấc mơ vĩ đại về việc đạt đến những tầm cao và chiều sâu mới của nhân loại, đồng thời ông cũng là một nhà mưu lược lạnh lùng với ý chí thép. Ông là linh hồn của nước Đức. Chúng ta là một dân tộc giàu trí tưởng tượng, và Hitler chính là hiện thân cho những ảo tưởng của nước Đức. Nếu không nhìn thẳng vào sự thật này, lịch sử chân thực của dân tộc chúng ta sẽ không bao giờ được viết ra. Ông có những khuyết điểm của mình, bao gồm sở thích tàn nhẫn một cách chính xác, sự thô bỉ của tầng lớp tiểu tư sản thâm căn cố đế, sự đánh giá quá cao tài năng quân sự của bản thân, và khuynh hướng bài Do Thái đáng tiếc mà ai cũng biết. Đó đều là những khuyết điểm của nhân vật có ý nghĩa lịch sử thế giới này, nhưng trong nhân loại, ai mà không có khiếm khuyết chứ.

Lời người dịch tiếng Anh: Armin von Roon đã đặt cột mốc chia cắt cho hai tập sách phân tích chiến dịch Thế chiến II của mình một cách chính xác vào sự kiện Trân Châu Cảng. Trong giai đoạn được bao gồm trong "Đế quốc thế giới đã mất", một cuộc chiến tranh châu Âu với đội hình tương tự đang diễn ra ác liệt như Thế chiến I, nên Winston Churchill gọi đó là sự tiếp nối sau khi đình chiến, hai cuộc đại chiến này gộp lại trở thành một cuộc Chiến tranh Ba mươi năm mới. Nhưng trong suốt thời gian này, nước Mỹ không tham gia vào. Sau sự kiện Trân Châu Cảng, chúng ta đã lún sâu vào cuộc chiến, vì vậy nó trở thành cuộc chiến tranh toàn cầu đầu tiên. Nhưng đó lại là một câu chuyện khác.

Tóm tắt tập thứ hai của Roon, với tựa đề "Sự hủy diệt mang tính thế giới", gần đây đã được xuất bản tại Đức, chủ yếu phân tích sự thất bại và sụp đổ của nước Đức, nhưng không đạt được thành công lớn.

Đánh giá tổng kết của ông về Hitler đã bỏ qua một hai chi tiết nhỏ. Tên sát nhân có năng lực và kiên quyết này đã sử dụng nước Đức hiện đại làm công cụ tàn sát của mình, trực tiếp gây ra cái chết cho từ 25 đến 35 triệu người; con số này sẽ không bao giờ được tính toán chính xác. Để ngăn chặn hắn, toàn thế giới đã tiêu tốn hàng tỷ đô la, có lẽ là một nghìn tỷ đô la. Nếu người Đức nhốt gã quái vật này vào trại tâm thần thay vì tôn sùng hắn làm nhà lãnh đạo và dốc toàn bộ sức lực ủng hộ hắn suốt 12 năm, thì những cái chết và sự lãng phí này đã không xảy ra. Trong ghi chép của lịch sử, Hitler chắc chắn là kẻ nói dối, kẻ lừa đảo, kẻ phá hoại tồi tệ nhất và là hung thủ giết người hàng loạt trong biên niên sử thế giới. Roon lẽ ra nên đề cập đến những sự thật này trong các khuyết điểm của Hitler.

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:2
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »