Gió Bão Chiến Tranh (1939–1941)

Lượt đọc: 330 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13

❊ ❊ ❊

Dưới góc nhìn của người Đức, cuộc xâm lược Ba Lan diễn ra một cách đầy hứng khởi. Những mũi tên và ghim nhỏ trên bản đồ quân sự ngày qua ngày tiến sát về phía Warsaw và Byron Henry từ khắp mọi hướng.

Trên khắp lãnh thổ Ba Lan, từng hàng binh lính Đức đội mũ sắt, bụi bặm đầy mình, nối đuôi nhau kéo dài hàng dặm, khi thì đi bộ, khi thì ngồi trên xe tải hoặc cưỡi ngựa. Xe tăng và pháo tự hành lầm lũi lăn bánh cùng họ, hoặc được chở trên những chuyến tàu hỏa rầm rập chạy qua gần đó. Tất cả đều tiến lên một cách chậm rãi, nặng nề, và nhìn chung là khá yên ổn. Cuộc phiêu lưu ngoài trời của đám đông này, mặc dù không thể nói rõ ràng đó là một chuyến dã ngoại—dọc đường đã có mười nghìn lính Đức bị tiêu diệt—nhưng cũng chẳng đến mức khiến người ta mất đi sự sảng khoái. Sau mỗi ngày hành quân, đám đông lại dùng bữa trên cánh đồng hoặc bên vệ đường, cắm trại dưới ánh sao, hay dựng lều trong những trận mưa lớn; họ oán trách cuộc sống thiếu tiện nghi, nhưng vẫn tận hưởng những điều tốt đẹp bình dị: vận động mạnh, không khí trong lành, ăn ngon uống say, cờ bạc đùa nghịch, tình bằng hữu và những giấc ngủ ngọt ngào.

Tất nhiên, người Ba Lan liên tục nổ súng vào họ. Điều này đã nằm trong dự tính. Người Đức phản công, tiến hành pháo kích có kế hoạch theo tọa độ trên bản đồ. Thế là những khẩu đại bác Howitzer phát ra tiếng gầm thỏa mãn, họng pháo lóe lên ánh lửa, thân pháo giật lùi về sau. Mọi người đều hành động nhanh chóng, mồ hôi nhễ nhại làm việc; sĩ quan quát lệnh, thúc đẩy sĩ khí. Có vài người chết hoặc bị thương, nhưng đa số thì không. Cây cối bốc cháy, nhà cửa trong làng bị san phẳng. Một lúc sau, tiếng súng dừng lại, quân xâm lược lại nặng nề tiến về phía trước.

Tiền tuyến, chính là một biên giới chính trị đang di chuyển; người Đức đang áp đặt ý chí dân tộc của họ lên người Ba Lan. Giống như các frông khí tượng, những đường bão dữ dội nằm ở rìa của sự thay đổi thời tiết. Một cơn cuồng phong phá hủy mọi thứ càn quét qua những bình nguyên xanh mướt, để lại phía sau một dải hỗn độn. Dẫu vậy, ngay cả trong vùng chiến sự này, thời gian yên tĩnh trên chiến tuyến vẫn nhiều hơn. Sau một giờ chiến đấu, lại có nhiều giờ cắm trại, sửa chữa cơ khí và hành quân qua những cánh đồng xanh hay những ngôi làng đã bị thiêu rụi. Tuy nhiên, khi đường chiến tuyến lượn sóng này biến thành vòng tròn, siết chặt lấy thành phố Warsaw, tình hình lại không còn như vậy nữa. Mục tiêu thu hẹp lại, hỏa lực cũng trở nên dữ dội hơn, thường xuyên hơn và tập trung hơn.

Những kẻ xâm lược này là thế hệ lính Đức mới, họ chưa từng đối mặt với đạn của kẻ thù, mặc dù một vài sĩ quan cấp cao của họ từng tham gia cuộc Đại chiến lần trước. Tại mỗi điểm bắt đầu xâm lược, chỉ có vài trăm thanh niên Đức run rẩy vượt qua biên giới, chờ đợi bị bắn hạ. Nhưng phía sau họ là những đội ngũ thanh niên vũ trang đông đảo, tiến vào Ba Lan theo sự bố trí chính xác trên các con đường của Đức, và việc biết được điều này là một nguồn khích lệ lớn lao. Trong ánh sáng xám xịt lúc bình minh, việc xô đổ rào chắn biên giới Ba Lan, đánh bại vài tên lính canh, đặt chân lên những con đường ngoại quốc mà họ từng quan sát qua ống nhòm quân sự, tất cả đều là những điều đầy phấn khích. Thế nhưng một khi quân biên phòng Ba Lan khai hỏa, họ liền do dự, hoảng loạn, quay đầu bỏ chạy, tiến thoái lưỡng nan trong sự bối rối. Người Đức vẫn may mắn hơn, bởi người Ba Lan thậm chí còn hoảng loạn và hỗn loạn hơn, lại thêm việc không kịp trở tay, nên càng không thể đưa ra hành động. Thế chiến thứ hai đã bắt đầu trong tình trạng hỗn độn, mù mịt như thế. Tuy nhiên về phía người Đức, dù cá nhân có sợ hãi đến đâu, ít nhất họ vẫn hành động theo kế hoạch. Họ có nhiều đại bác hơn, nhiều đạn dược hơn tại các điểm mấu chốt, hơn nữa đầu óc còn tỉnh táo, biết rõ nên khai hỏa vào lúc nào và ở đâu. Thực tế, họ đã tiến hành một cuộc đánh úp.

Nếu hai người đàn ông đứng trò chuyện thân thiện, một trong số đó bất ngờ đấm vào bụng người kia, đá vào bụng dưới của hắn, kết quả là ngay cả khi người kia tỉnh ngộ để tự vệ, hắn cũng sẽ thảm bại, bởi vì người thứ nhất đã đánh úp. Không có cuốn sách nào về nghệ thuật chiến tranh mà không tán dương lợi ích của nó. Nó có vẻ hơi không đứng đắn, nhưng điều này chẳng liên quan gì đến nghệ thuật chiến tranh cả. Nhìn từ những lời đe dọa công khai và sự chuẩn bị chiến tranh của người Đức, có lẽ người Ba Lan không nên bị đánh úp, nhưng họ đã bị. Các nhà lãnh đạo chính trị của họ có lẽ đã hy vọng những lời đe dọa của người Đức chỉ là dọa dẫm. Các tướng lĩnh của họ có lẽ đã nghĩ quân đội của mình đã sẵn sàng. Một loạt những phỏng đoán sai lầm sẽ nảy sinh cùng lúc với sự bắt đầu của một cuộc chiến.

Kế hoạch chinh phục Ba Lan của người Đức, gọi là "Phương án Trắng", đã cung cấp toàn bộ tình tiết diễn ra sau đó. Họ có rất nhiều phương án như vậy, ví dụ như "Phương án Xanh", là cuộc xâm lược Tiệp Khắc (họ chưa từng sử dụng); "Phương án Vàng", là cuộc tấn công vào Pháp. Những kế hoạch toàn diện dùng màu sắc làm mật danh để đánh bại các quốc gia khác đã được vạch ra từ rất lâu trước khi xảy ra bất kỳ tranh cãi nào với họ, đây là phát minh mới về chiến tranh hiện đại của người Đức. Tất cả các quốc gia tiên tiến đều bắt chước nguyên lý này. Ví dụ như Mỹ, vào năm 1939 đã có một "Kế hoạch Cam" để tác chiến với Nhật Bản, thậm chí còn có một "Kế hoạch Đỏ" để tác chiến với Anh; còn Mỹ cuối cùng tham chiến là theo "Kế hoạch Cầu vồng số 5".

Các nhà sử học đang tranh luận—và sẽ còn tiếp tục tranh luận—về nguồn gốc của Bộ Tổng tham mưu Đức, nơi đã khai mở phương châm hành động mới trong các sự vụ nhân loại. Có người nói, những thiên tài của Đức đã tạo ra Bộ Tổng tham mưu này như một sự phản ứng trước nỗi sỉ nhục mà Napoleon áp đặt lên họ; những người khác lại khẳng định, một quốc gia bằng phẳng, xung quanh tiếp giáp với nhiều nước địch, trong thời đại công nghiệp này, chỉ có thể phát triển những mưu kế như vậy để tồn tại. Dù thế nào, không nghi ngờ gì khi người Đức là những người đầu tiên nắm vững chiến tranh công nghiệp, và dạy cho các quốc gia khác biết: chiến tranh tổng lực—huy động đường sắt, nhà máy, liên lạc thông tin hiện đại và toàn bộ cư dân trong nước vào một hệ thống kiểm soát trung ương từ trước, để tiêu diệt nước láng giềng nếu xuất hiện sự cần thiết hoặc thôi thúc đó.

Hệ thống Đức này đã được kiểm nghiệm rất tốt trong Thế chiến thứ nhất; về mặt địa lý, họ đã lao lên rất xa rồi mới rút lui. Sau bốn năm chiến đấu với những đội quân hùng mạnh trên nhiều mặt trận, họ yêu cầu đình chiến, khi ấy họ vẫn đang lấn sâu vào đất địch ở khắp mọi nơi. Chỉ là cuộc tấn công quy mô lớn năm 1918 của họ đã thất bại, nguồn lực cũng ngày càng cạn kiệt. Kể từ đó, mặc dù họ đã đầu hàng và trải qua tất cả những biến động chính trị này, họ vẫn tiếp tục vạch ra những "phương án" đó. Hai mươi mốt năm sau, Phương án Trắng đã thành hiện thực, nhanh chóng khiến một quốc gia có bốn mươi triệu dân, có một đội quân từ một triệu rưỡi trở lên phải khiếp sợ, buộc nó phải ngoan ngoãn nghe theo mệnh lệnh của người Đức. Điều này, theo cách nói của Napoleon, chính là tất cả của chiến tranh—uy hiếp kẻ thù, khiến nó phục tùng ý chí của bạn.

Người Đức đã phạm sai lầm khi xâm lược Ba Lan, họ đôi khi tản ra chạy loạn dưới hỏa lực, họ không tuân lệnh, họ từ chối tiến lên trước những vị trí kiên cố, họ báo cáo sai chiến quả, họ phóng đại hỏa lực của đối phương để làm cái cớ rút lui. Họ cũng chỉ là những thanh niên bình thường. Nhưng trong số họ vẫn có những người lãnh đạo giỏi và những kẻ kiên cường, hơn nữa người Đức là một dân tộc phục tùng và có ý chí kiên định. Người Ba Lan cũng đã làm tất cả những điều sai lầm đó, hơn nữa ưu thế hỏa lực, đánh úp, ưu thế quân số và Phương án Trắng đều nằm về phía người Đức, vì thế cuộc xâm lược này diễn ra rất suôn sẻ.

Chẳng bao lâu sau, các sư đoàn xe tăng mới, chính là lực lượng bọc thép Đức về sau trở nên vô cùng nổi tiếng, bắt đầu mạo hiểm thọc sâu vào vị trí của địch. Đây là sai lầm quân sự kinh điển. Kẻ địch bao vây phía sau một sư đoàn mạo hiểm rời xa chiến tuyến, vây khốn rồi tiêu diệt nó. Đây chính xác là cách người Nga đối phó với lực lượng bọc thép nổi tiếng vài năm sau đó, kể từ đó danh tiếng của nó đã biến mất. Nhưng lúc này chúng vẫn đầy kinh ngạc. Lần đầu xuất hiện, trong thời tiết thuận lợi trên những bình nguyên bằng phẳng, đối mặt với một kẻ thù hoảng sợ, tổ chức kém, nhỏ và yếu hơn, chúng đã phô trương sức mạnh. Chúng tiến lên chậm rãi, mỗi giờ chỉ đi được năm hoặc mười dặm; chúng không giống như những mũi tên đỏ bay nhanh được vẽ trên bản đồ trong sách báo thông thường, mà giống như một hàng dài những con bọ hung bằng sắt khổng lồ đang di chuyển. Nhưng chúng trông rất đáng sợ trong mắt binh lính và dân thường Ba Lan, và thực sự là đủ để gây chết chóc. Những cỗ máy màu xanh này bò lên đường cái, bò ra khỏi rừng, nghiền nát những cánh đồng lúa chín, nhả ra những quả đạn pháo khổng lồ. Trên bầu trời trong xanh tháng Chín, một loại máy bay nhỏ vụng về bay rất chậm gọi là "Stuka" liên tục bổ nhào, xả súng vào binh lính, hoặc trẻ em, hoặc gia súc, hoặc phụ nữ, hay bất cứ thứ gì gặp trên đường, làm tăng thêm sự đổ máu và tiếng ồn kinh hoàng. Xe tăng và Stuka đã giết chết rất nhiều người Ba Lan, dọa cho đám đông lớn của họ từ bỏ cuộc chiến xem chừng vô ích này.

Đây chính là cái gọi là Chiến tranh chớp nhoáng (Blitzkrieg). Nó dừng lại dưới chân thành Warsaw. Sự thật này vào thời điểm đó đã không được nhấn mạnh nhiều. Người Đức buộc phải dùng pháo kích kiểu cũ, dùng ngựa kéo theo kiểu Napoleon để đánh vào thành phố này, bởi vì những cỗ máy cơ giới bọc thép kia đã khập khiễng đi vào xưởng sửa chữa, xăng dầu đã cạn, nhiều xe tăng bị hỏng. Chúng đã hoàn thành nhiệm vụ. Quân đội Ba Lan đã bị cắt vụn, sợ hãi đến mức tan thành tro bụi. Báo chí của phe Đồng minh và Mỹ đưa ra những mô tả kinh hoàng về Chiến tranh chớp nhoáng, "Đây là phương thức chiến tranh mới".

Thế nhưng lực lượng bọc thép Đức đã đến Warsaw vào ngày 9 tháng Chín. Ngày mùng 10, Tổng tư lệnh Đức đã viết trong nhật ký chiến đấu của mình: Chiến tranh đã kết thúc. Đến ngày 17, Warsaw vẫn đứng vững. Tất cả những chiếc máy bay có thể điều động của Không quân Đức đều bay qua thành phố này mà không gặp sự kháng cự nào, ném bom rồi vội vã bay về Đức để nạp đạn. Vô số ngựa được kéo từ Phổ và Pomerania đến để chở thêm nhiều lựu pháo, bao vây thành phố, bắn đạn vào bên trong. Thế nhưng đài phát thanh Warsaw vẫn phát những bản nhạc khiêu vũ Ba Lan.

Người hiện đang phụ trách số nhân viên ít ỏi còn lại tại Đại sứ quán Mỹ ở Warsaw là Leslie Slut. Ông là một người có năng lực, đặc biệt thông minh, nhưng vào lúc này ông lại không thể phát huy sở trường của mình, bởi vì ông là một kẻ hèn nhát. Nhưng vẻ ngoài hay hành vi của ông lại không giống như vậy. Tại Đại học Yale, ông tham gia điền kinh—đây là lựa chọn có chủ ý của ông, vì ông biết yêu cầu của học bổng Rhodes—biểu tượng của sự nam tính này, cộng với công việc tại tờ báo của trường, tư cách thành viên hội nam sinh Mỹ, và tình bạn với vài giáo sư rất có ích, đã giúp ông dễ dàng đạt được học bổng này. Đến Đại học Oxford, ông lại trở thành một trong những người Mỹ rất nổi bật ở đó; sau này vào Bộ Ngoại giao, người ta lại nói ông là một quan chức kiệt xuất trong thế hệ của mình. Ông khá tự biết rõ vấn đề của bản thân, nếu ông biết hoàn cảnh này đòi hỏi sự dũng cảm trong hành động, ông chắc chắn sẽ không bao giờ xung phong. Ông suy nghĩ rất nhiều về điểm yếu này trong tính cách của mình, và còn có cả một bộ lý thuyết, điểm mấu chốt là do sự quan tâm quá mức của mẹ và vài sự kiện không may thời thơ ấu. Lý thuyết này không thể thay đổi bất cứ điều gì, tuy nhiên nó có thể được dùng để dung thứ cho điểm yếu này trong tâm trí ông, coi nó như sự bất hạnh của một kẻ bị bệnh còi xương khập khiễng, chứ không phải là chứng khô héo khiến lòng tự trọng bị tổn thương. Slut tự đánh giá rất cao về bản thân, về năng lực và tương lai của chính mình. Thế nhưng giờ đây, vận xui đen đủi lại đẩy ông đến một nơi mà kiến thức chính trị uyên bác, năng lực phân tích, khiếu hài hước, ngoại ngữ của ông đều vô dụng, chỉ cần có sự can đảm đơn thuần là đủ. Thứ này thì ông lại hoàn toàn không có.

Ông che giấu khiếm khuyết này trong cuộc đấu tranh nội tâm, những gì thể hiện ra bên ngoài chỉ là sự thẫn thờ, đau đầu liên miên, cáu bẳn và xu hướng cười không lý do. Khi Đại sứ chuẩn bị rời đi và bảo ông ở lại, ông đã cười lớn. Kể từ khi tin tức quân Đức đánh tới truyền đến, đặc biệt là từ khi quả bom đầu tiên rơi xuống Warsaw, ông đã vô cùng hoảng loạn, lo lắng chờ đợi lệnh để ông và những người Mỹ khác có thể rời đi. Ông cắn móng tay đến mức phải băng bó mấy đầu ngón tay. Thế nhưng vị Đại sứ này lại bắt ông phải ở lại trong nỗi kinh hoàng như vậy! Tràng cười sắc lẹm đó thực sự xuất phát từ nội tâm ông. Đại sứ nhìn ông với ánh mắt châm biếm, không để ý đến ông. Hầu hết mọi người ở Warsaw đều có thái độ rất tốt trước các cuộc không kích, chỉ cần loạt bom đầu tiên rơi xuống không giết chết họ, họ liền trở nên nhẹ nhõm, kiên trì và quyết tâm. Nhưng đối với Slut, địa ngục này không có đáy. Chỉ cần còi báo động không kích vang lên, nó liền tước đoạt khả năng suy nghĩ của ông. Ông cùng mọi người lao xuống tầng hầm tường dày của Đại sứ quán, và luôn luôn là người lao xuống đầu tiên, ở dưới đó cho đến khi còi báo động hoàn toàn chấm dứt. Vì ông là người phụ trách, điều này ngược lại lại giúp ích cho ông. Ông danh chính ngôn thuận chuyển ra khỏi căn hộ, dọn vào Đại sứ quán, sống ở đó, trở thành tấm gương kiên quyết tuân thủ quy định về còi báo động không kích. Không ai đoán được nỗi khổ tâm của ông.

Bình minh ngày 17 tháng Chín, ông ngồi trước một chiếc bàn làm việc lớn, miệng ngậm tẩu thuốc, đang cẩn thận soạn thảo lại báo cáo mới nhất gửi Bộ Ngoại giao về tình hình của Đại sứ quán và hơn một trăm người Mỹ đang bị vây hãm trong thành phố Warsaw. Ông vừa loại bỏ những dấu vết kích động thần kinh cá nhân, vừa cố gắng duy trì tính cấp bách và nghiêm trọng của tin tức này. Đây là thời khắc ngàn cân treo sợi tóc, nhất là khi có quá nhiều báo cáo gửi đi mà không có hồi âm. Ông không thể nói liệu Chính phủ Mỹ có biết về tình cảnh của công dân mình tại thủ đô Ba Lan hay không.

"Vào đi." Ông nghe thấy tiếng gõ cửa nói.

"Bên ngoài trời đã sáng rõ rồi," Byron Henry bước vào, giọng khàn khàn. "Có cần kéo rèm ra không?"

"Bên ngoài có chuyện gì không?" Slut nheo mắt nói.

"Không có gì đặc biệt."

"Được rồi, cho chút ánh sáng đi," Slut cười. Họ cùng nhau kéo tấm rèm đen dày nặng ra, ánh nắng nhạt nhẽo xuyên qua những thanh gỗ đóng chéo trên cửa sổ, biến thành những mảnh vụn nhỏ chiếu vào. "Nước thế nào rồi, Byron?"

"Tôi đã lấy được rồi."

Rèm cửa vừa kéo ra, đã có thể nghe thấy tiếng ầm ầm trầm đục từ xa của đại bác Đức. Slut thà để tấm rèm dày này đóng thêm một lúc nữa, chặn đi cái sự ồn ào ban ngày của Warsaw xám xịt, đổ nát và đang bốc cháy này. Căn phòng yên tĩnh đóng kín rèm đen, thắp một ngọn đèn bàn, có lẽ sẽ tạo ra ảo giác, gợi lên những suy tư về thời sinh viên an nhàn, có thể khiến ông cảm thấy an ủi. Ông nhìn ra từ khe cửa sổ. "Nhiều khói quá! Có nhiều nơi đang cháy vậy sao?"

"Trời ạ, đúng vậy. Bầu trời đáng sợ lắm, cho đến tận lúc bình minh. Ông không thấy sao? Ông nhìn đâu cũng là một mảng đỏ rực, khói bụi mù mịt. Chẳng khác nào địa ngục của Dante. Còn cả những quả đạn pháo màu cam lớn sáng rực kia, chúng nổ vang khắp nơi, chúng bay rất cao, rồi chậm rãi lững lờ rơi xuống. Thật đẹp! Bên phía đường Walewski, họ vẫn đang dùng xẻng và cát cố gắng dập tắt hai đám cháy lớn. Vấn đề nước lại càng khiến họ bó tay."

"Hôm qua họ nên chấp nhận đề nghị của người Đức," Slut nói. "Như vậy ít nhất họ còn giữ được một nửa thành phố. Làm thế này không có lối thoát. Anh dùng cách gì để lấy nước? Có phải cuối cùng anh cũng lấy được chút xăng rồi không?"

Byron lắc đầu, ngáp dài, ngồi xuống chiếc ghế sofa da màu nâu. Áo thể thao và quần của anh dính đầy bụi gạch và muội than, mái tóc dài rối bù bện chặt vào nhau, đôi mắt đờ đẫn, xung quanh có quầng thâm. "Không có cơ hội nào cả. Từ giờ trở đi chúng ta phải quên chiếc xe tải đó đi. Tôi thấy xe cứu hỏa đỗ giữa đường không đi nổi nữa. Thành phố này đã hết xăng rồi. Tôi đang đi dò la khắp nơi, kết quả phát hiện ra một chiếc xe ngựa kéo. Việc này tốn của tôi gần hết cả đêm." Anh cười với Slut, môi dưới hơi hóp lại vì mệt mỏi. "Chính phủ Mỹ nợ tôi 175 đô la Mỹ. Việc tốn sức nhất là chuyển nồi hơi từ xe tải xuống xe ngựa. Nhưng người nông dân bán xe cho tôi đã giúp tôi một tay. Đây là tính trong giao dịch rồi. Một gã lùn râu dài, nhưng khá khỏe. Trời ạ!"

"Tất nhiên, sẽ trả tiền cho anh. Hãy nói với Ben một tiếng."

"Tôi có thể nằm đây một lúc không?"

"Anh có muốn ăn sáng không?"

"Khó nói là tôi có còn sức để nhai không. Tôi chỉ cần nửa tiếng thôi. Ở đây khá yên tĩnh. Dưới tầng hầm kia đúng là trại tâm thần." Byron gác chân lên, nằm dài trên đệm da, đặt cơ thể gầy gò bẩn thỉu xuống. "Chỗ góc nhà hát Opera đã hết nước rồi," anh nhắm mắt nói. "Tôi không còn cách nào khác đành chạy thẳng đến trạm bơm nước. Con ngựa này đi rất chậm, chắc chắn nó không thích kéo một cái nồi hơi sắt đầy nước sóng sánh đâu."

"Cảm ơn anh, Byron. Anh đã giúp được rất nhiều."

"Tôi và Gunga Din. 'Ông có thể nói về rượu gin và bia,' " Byron dùng một cánh tay che mặt nói giọng nghẹn lại, " 'miễn là ông đang đóng quân an toàn tại đây.' Natalie đâu? Ở bệnh viện à?"

"Chắc là vậy."

Byron đã ngủ thiếp đi. Điện thoại reo vang chói tai, nhưng anh thậm chí không cử động. Đây là cuộc gọi từ văn phòng Thị trưởng; Thị trưởng Stachynski đang trên đường đến Đại sứ quán, ông muốn thảo luận với Đại biện Mỹ về một tình huống khẩn cấp đột xuất. Slut kích động, lập tức gọi điện cho lính thủy đánh bộ gác cổng để Thị trưởng vào. Đây chắc chắn là tin tốt: để người nước ngoài ở Warsaw rút lui an toàn, hoặc có lẽ là đầu hàng ngay lập tức! Bây giờ chỉ còn cách đầu hàng là một giải pháp. Ông muốn đánh thức Byron, để anh rời khỏi văn phòng, nhưng lại quyết định đợi một chút. Thị trưởng có lẽ phải một lát nữa mới đến. Gã thanh niên bẩn thỉu này cần phải ngủ.

Nước đã trở thành một vấn đề lớn của toàn Warsaw. Trong Đại sứ quán có bảy mươi người, hơn nữa còn có rất nhiều người chuyển đến, đây là—hoặc có lẽ đã là—một tình huống khẩn cấp, một vấn đề thảm khốc. Nhưng kể từ ngày đường ống dẫn nước bị phá hủy, Byron Henry bắt đầu làm công việc cung cấp nước, mặc dù không ai yêu cầu anh làm vậy. Slut vẫn đang gọi điện cho văn phòng Thị trưởng—đã gọi 20 lần trong ngày đầu tiên xui xẻo này—yêu cầu vận chuyển nước cho người Mỹ dưới sự bảo hộ của ông ngay lập tức, và nhanh chóng sửa chữa đường ống nước, trong khi Byron đã lái chiếc xe tải nhỏ Ford của Đại sứ quán ra ngoài, anh lấy về một chiếc nồi hơi nhỏ bị rỉ sét và nứt từ tầng hầm của một ngôi nhà bị bom phá hủy. Không biết từ đâu, anh kiếm được dụng cụ hàn, sửa chữa nó lại, và giờ đây anh tận dụng nó làm xô đựng nước tạm thời, vận chuyển nước về Đại sứ quán. Nếu anh không làm như vậy thì kết quả sẽ ra sao, không ai nói được. Đường ống nước vẫn vỡ, hơn nữa hiện giờ đường ống khắp nơi đều đã vỡ, xe chở nước của chính quyền thành phố chỉ cung cấp cho bệnh viện và đội cứu hỏa thôi đã khó khăn lắm rồi.

Ngày này qua ngày khác, Byron vẫn vận chuyển nước dưới làn đạn và các cuộc không kích như một lẽ đương nhiên, tự đùa cợt với nỗi sợ hãi của chính mình, thường xuyên trở về với bộ dạng bẩn thỉu hơn bây giờ, bởi vì mỗi khi nghe thấy tiếng "xù xù" của đạn lựu pháo bay trên không trung, anh đều phải chui vào đống đổ nát để trốn. Slut chưa từng nghe thấy tiếng "xù xù" mà nhiều người mô tả này, và ông cũng vĩnh viễn không muốn nghe. Mặc cho những nỗi kinh hoàng này, Byron Henry thực sự có vẻ khá tận hưởng trong cuộc vây hãm này. Trạng thái tư tưởng này Slut cho rằng còn ngu ngốc hơn cả chính mình, chẳng có gì đáng ngưỡng mộ. Nỗi sợ hãi của chính ông ít nhất còn hợp tình hợp lý. Natalie từng kể với ông những điều Byron nói nghe khá thú vị. Slut nghĩ, gã thanh niên này bị bệnh thần kinh, cái tính khí tốt bụng quá mức của anh ta chỉ là mặt nạ. Nhưng việc anh vận chuyển nước mỗi ngày đúng là một việc tốt không thể chối cãi.

Henry luôn quấn lấy Natalie Jastrow mỗi khi cô không ở bệnh viện, Slote cũng vì thế mà cảm kích anh, dù là một cách khá kín đáo. Natalie là người duy nhất ở Warsaw có thể nhìn thấu nỗi sợ hãi trong lòng anh. Cho đến tận bây giờ, anh vẫn tin chắc rằng cô chưa phát hiện ra, chỉ là vì cô không tiếp xúc với anh quá nhiều. Cô gái này ở Warsaw giống như một gánh nặng mà anh không thể rũ bỏ, khiến lòng anh đau đớn đến mức muốn hận cô. Đó là vì sự hiện diện của cô, việc cô không biến mất khỏi thế giới này, làm anh cảm thấy tội lỗi và phiền muộn. Anh có một ham muốn xác thịt cuồng nhiệt với cô gái Do Thái tóc đen kiên cường này, nhưng lại chẳng hề muốn kết hôn với cô. Anh vốn nổi tiếng là người khéo léo trong các mối quan hệ lãng mạn, nhưng chưa từng gặp một cô gái nào cứng rắn như sắt thép đến vậy. Cô đã cắt đứt quan hệ thể xác với anh ở Paris và chưa bao giờ khôi phục lại; cô đã nói với anh năm, sáu lần rằng đừng bận tâm đến cô nữa, hãy quên cô đi—đây là điều anh không thể làm được. Vậy thì, đáng ghét thay, tại sao vào cái thời khắc xui xẻo này, tại nơi đổ nát này, trong thành phố đang run rẩy dưới bom đạn này, khi anh đang gánh vác trách nhiệm nặng nề nhất cuộc đời mình và cảm thấy bản thân bị nỗi sợ hãi làm cho choáng váng, tê liệt, thì cô lại lao vào anh? Anh sợ nhất là để lộ nỗi sợ của mình trước mặt Natalie, còn hơn cả việc thực sự bị thương. Lúc này anh nghĩ, nếu họ đều sống sót thoát ra ngoài, anh nhất định phải tập trung ý chí để dứt khoát đoạn tình cảm dây dưa này. Cô có lẽ có khả năng khơi dậy dục vọng của anh, nhưng cô lại bướng bỉnh một cách vô phương cứu chữa và mang phong thái ngoại quốc, hoàn toàn bất lợi cho tương lai và chính bản thân anh. May mà giờ đây cô không còn đứng chắn trước mặt gây cản trở anh nữa, điều này thật phải cảm ơn chàng thanh niên đang nằm ngủ khò khò, người đầy bụi bẩn kia.

Chẳng bao lâu sau, Thị trưởng Starzynski đi một chiếc xe hơi cũ kỹ đến. Ông là một người đàn ông thấp đậm, để râu, bên trong mặc chiếc áo ghi-lê len màu xanh, bên ngoài khoác bộ đồ đen bẩn thỉu chưa ủi, giày dính đầy bùn đỏ. Ông có vẻ ngoài nhiệt huyết, xúc động và gần như đầy phấn chấn. Người đàn ông này lãnh đạo một thành phố đang hấp hối, những bài phát biểu trên đài phát thanh của ông có tác dụng thúc đẩy Warsaw tiếp tục chiến đấu hiệu quả hơn bất cứ thứ gì. Mỗi đêm ông khó mà ngủ được quá hai tiếng. Gánh nặng của cả thành phố đều đè lên vai ông. Bất cứ ai, từ đoàn ngoại giao đến lính cứu hỏa trên phố hay bác sĩ bệnh viện, hễ có yêu cầu gì là lại bỏ qua bộ máy quan liêu lười biếng của tòa thị chính mà trực tiếp tìm đến ông. Thế nhưng ông vẫn trông tràn đầy năng lượng, giàu tinh thần chiến đấu; ông là anh hùng trước mắt, cũng là đối tượng của mọi lời giễu cợt cay nghiệt. Những ngày gần đây, loại bom hạng nặng mới mà máy bay Đức ném xuống được gọi là "Bắp cải Starzynski"; những cọc thép chống tăng được gọi là "Tăm xỉa răng Starzynski".

"Đây là ai?" Thị trưởng chỉ ngón cái to thô kệch về phía chiếc ghế sofa hỏi.

"Một cậu nhóc. Đang ngủ. Cậu ta không hiểu tiếng Ba Lan. Tôi có thể bảo cậu ta ra ngoài."

"Không sao, không sao," Starzynski xua hai tay, ngồi xuống chiếc ghế Slote chỉ, hai bàn tay dày đặt trên đầu gối, thở dài một hơi thật dài. Ông nhìn quanh căn phòng rộng rãi được bày biện đồ đạc tinh xảo, ngón tay vẽ lên mặt bàn viết sáng loáng. "À, xem ra mọi thứ ở chỗ các ông đều ổn. Có việc gì cần chúng tôi giúp không? Người của ông đều khỏe cả chứ?"

"Chúng tôi đều ổn. Chúng tôi vô cùng ngưỡng mộ người dân Warsaw."

"Vậy sao? Người Đức hết đường chối cãi rồi, đúng không? Tối qua chúng tôi đã đánh bật họ ở phía Bắc. Đài Berlin nói rằng chiến tranh đã kết thúc. Để xem nào." Mặt thị trưởng đỏ bừng vì tự hào. "Sáng nay, quân đội của chúng tôi chỉ còn cách điểm hẹn với quân phòng thủ Modlin mười hai dặm! Đến lúc đó cả thế giới sẽ được chứng kiến vài thứ! Chúng ta sẽ có lại một chiến tuyến, thay vì một vòng vây."

"Đó là tin tuyệt vời, thưa ngài." Ngón tay Slote vuốt ve chiếc tẩu thuốc ấm nóng, cố gắng mỉm cười với sự vui mừng mà chính anh cũng không cảm nhận được.

"Đúng vậy, nhưng một tin khác lại không tốt lắm." Thị trưởng khựng lại, nhìn vào mặt Slote, nói đầy kịch tính: "Người Nga đã tiến quân. Lúc bình minh hôm nay, Liên Xô đã xâm lược nước ta. Họ tràn qua biên giới hàng triệu người. Cái cớ của họ là bảo vệ đồng bào ở Ba Lan khỏi tay người Đức. Tất nhiên, đây là một lời nói dối trắng trợn, ngụy tạo, nhưng người Nga chưa bao giờ thay đổi. Họ đã chiếm Ternopil và Baranovichi, Rovno sẽ thất thủ trong vòng một giờ nữa, nếu nó chưa thất thủ. Chúng ta không có quân đội ở phía Đông. Chúng ta đã hy sinh tất cả để chặn người Đức ở phía Tây, đợi đồng minh tiến quân. Bây giờ người Nga lại đến. Không có gì cản bước họ giữa Warsaw và biên giới." Slote bật cười thành tiếng. Thị trưởng mở to mắt nhìn anh. "Sao vậy, thưa ông? Ông không tin tôi sao? Tôi nói cho ông biết, người Nga đã đâm sau lưng khi Ba Lan đang chịu nạn. Đây là một sự phản bội mang tính lịch sử. Tôi có một lá thư gửi Tổng thống của ông!" Ông rút một tờ giấy từ túi áo trước ngực, mở ra, trải lên mặt bàn trước mặt Slote. "Nếu ông có đề nghị gì về cách dùng từ, chúng tôi rất hoan nghênh, nhưng vấn đề sinh tử lúc này là tốc độ, cần dùng tốc độ nhanh nhất."

Slote gần như không thể dịch nổi những chữ Ba Lan trên văn bản chính thức màu xám này trong đầu. Tất cả những gì anh có thể nghĩ đến lúc này là xe tăng và binh lính Liên Xô đang tiến gần Warsaw. Anh gần như nhìn thấy những cỗ máy đang bò lổm ngổm và những khuôn mặt kiểu Slav đó. Có lẽ họ chẳng vì mục đích gì khác ngoài việc đến đòi phần của mình trong cuộc giao dịch đê hèn này. Có lẽ họ sẽ giao chiến với người Đức, biến Warsaw thành Armageddon. Có lẽ họ sẽ mang những khẩu đại bác Nga nổi tiếng đến, giúp người Đức biến thủ đô Ba Lan này thành tro bụi nhanh gấp đôi. Tin tức này đối với anh giống như ngày tận thế thực sự, và anh không hề chú ý rằng mình đang cười. Anh liếc nhìn tờ giấy đang bay lơ lửng trước mắt. "Tôi hiểu, tình hình này thật bất thường," cuối cùng anh cũng lên tiếng, chính anh cũng cảm thấy ngạc nhiên trước lời nói trôi chảy, mạch lạc của mình, "nhưng người đứng đầu một thành phố viết thư cho người đứng đầu một chính phủ là thất lễ. Nếu đích thân Tổng thống Moscicki hoặc Nguyên soái Smigly-Rydz hoặc ai đó trong chính phủ của ngài đứng ra, có lẽ sẽ hiệu quả hơn."

"Nhưng thưa ông, chính phủ quốc gia của chúng tôi đã vượt biên giới sang Romania rồi. Bây giờ họ có thể đã bị quản thúc tại gia, không quá tuần này, người Đức sẽ treo cổ tất cả họ. Bây giờ chỉ còn lại Warsaw, nhưng chúng tôi không sợ, chúng tôi đang tiếp tục chiến đấu. Chúng tôi muốn biết mình có thể hy vọng điều gì." Slote trấn tĩnh lại, đọc qua lá thư. Đó là những lời cầu khẩn quen thuộc, đáng thương, giống như những gì đài phát thanh Warsaw đã truyền đi cho Pháp và Anh trong mấy tuần qua. Thực tế, phong cách của vị thị trưởng này cũng giống với những gì ông nói trên đài. "Thưa ngài, tôi không thể chắc mình có thể gửi cái này đi nhanh đến mức nào, gần đây thông qua Stockholm, tôi thường xuyên bị chậm trễ mười hai giờ hoặc lâu hơn."

"Tôi đảm bảo ông sẽ gửi ngay lập tức. Ông có thể dùng văn bản không mã hóa để cả thế giới đều biết," thị trưởng vung nắm đấm, hét lớn, "Mặc dù người Nga bội tín, người dân Warsaw vẫn đang chiến đấu, chúng tôi kêu gọi Tổng thống Mỹ nói một lời hy vọng. Chỉ cần ông ấy lên tiếng, đồng minh sẽ lắng nghe. Họ sẽ tiến quân, ngay khi còn chưa quá muộn. Vẫn có thể đánh bại người Đức từ phía sau. Tất cả lực lượng của họ đều ở Ba Lan. Chỉ cần hai tuần, đồng minh có thể gầm thét trước Berlin. Chỉ cần để Tổng thống lên tiếng, họ sẽ tiến quân!"

"Chúng tôi có thể nhanh chóng dịch nó sang mật mã, thưa ngài. Tôi thấy như vậy thỏa đáng hơn. Trong vòng nửa giờ chúng tôi có thể chuẩn bị gửi đi."

Starzynski nói với giọng nghiêm túc hơn: "Hãy gọi điện đến văn phòng của tôi, chúng tôi có thể sắp xếp cho ông gọi trực tiếp đến Stockholm hoặc Bern." Ông đứng dậy, nhìn quanh căn phòng. "Một ốc đảo hòa bình. Không quân Đức quả là tôn trọng quốc kỳ Mỹ. Họ rất khôn ngoan. Cậu nhóc này ngủ ngon thật."

"Cậu ấy mệt rồi. Thưa thị trưởng, vấn đề sơ tán kiều dân các nước trung lập thì sao? Hôm qua ngài đã thảo luận vấn đề này với người Đức chưa?"

"Bây giờ không phải lúc. Họ mang cờ ngừng bắn đến để yêu cầu chúng ta đầu hàng. Tướng Czuma không chịu nhận lá thư này, sĩ quan Đức cũng không chịu thảo luận bất cứ vấn đề nào khác. Họ nói muốn biến chúng ta thành một đống đổ nát!" Giọng thị trưởng cao vút lên như khi phát thanh. "Sáng nay họ rải truyền đơn khắp thành phố, cũng đe dọa như vậy. Nhưng 'đàn máy bay' và 'cơn bão đạn pháo' mà họ nói đâu rồi? Người Đức đã trút hết tất cả những gì họ có lên đầu chúng ta rồi. Ngoài những lời đe dọa, họ chẳng còn gì để thêm vào cả. Hai tuần nay, họ làm đủ mọi điều xấu xa, nhưng chúng ta vẫn tồn tại! Xin Tổng thống Roosevelt chỉ cần nói một câu, văn minh thế giới vẫn có thể nhìn thấy một thắng lợi lịch sử trên sông Vistula." Giọng ông trầm xuống, vẻ phấn khích biến mất khỏi khuôn mặt. "Tôi đã đề cập đến vấn đề kiều dân các nước trung lập. Sứ giả của họ chỉ ra rằng, sớm muộn sẽ có cách." Thị trưởng nhìn Slote một cách lạnh lùng, mỉm cười đến mức bộ râu cong cả lên, rồi nói tiếp: "Chúng tôi không mong ông ở lại cùng chung số phận với chúng tôi."

"Ngài phải hiểu, chúng tôi có mười chín phụ nữ ở đây," Slote cảm thấy cần phải biện minh dưới áp lực của nụ cười đó.

"Đàn ông, phụ nữ, chẳng phải đều như nhau sao? Các ông là nước trung lập." Thị trưởng chìa tay ra. "Xin ông hãy gửi lá thư đi. Cuối cùng tôi vẫn phải phát sóng nó. Tôi muốn dành cho vị Tổng thống vĩ đại của các ông một khoảng thời gian để suy nghĩ riêng về câu trả lời của mình."

Slote siết chặt tay ông. "Người Mỹ chúng tôi ở đây ngưỡng mộ sự kiên cường bất khuất của Warsaw; điểm này tôi có thể đảm bảo với ngài. Chúng tôi sẽ không bao giờ quên, sau khi trở về chúng tôi sẽ kể cho mọi người nghe."

Thị trưởng có vẻ cảm động. "Vậy sao? Ông thấy đấy, người Đức không phải là siêu nhân. Warsaw đã dạy cho cả thế giới điểm này. Một vài người Đức với tư cách cá nhân là những người rất tốt, nhưng với tư cách một quốc gia, họ là lũ lợn. Đây là vấn đề về sự ấu trĩ và mặc cảm tự ti sâu sắc của dân tộc; một vấn đề vô cùng phức tạp. Họ có máy móc, có đường sắt, có nhà máy, nhưng chúng tôi không sợ họ. Tất cả những gì chúng tôi yêu cầu, chính là cơ hội để tiếp tục chiến đấu với họ."

"Tôi nhất định sẽ chuyển những lời này đến chính phủ của mình."

"Chúng tôi cần sự giúp đỡ. Ra khỏi đây, tôi sẽ đi đào chiến hào." Thị trưởng làm bộ làm tịch xòe bàn tay đầy chai sạn ra cho anh xem, rồi bước ra ngoài. Slote viết trên bàn vài phút, sau đó gọi một nhân viên giải mã đến.

"Byron, dậy đi!" Anh lay vai Byron, tay dính đầy bụi gạch. "Dậy đi, dậy nhanh lên. Chuyện lớn rồi." Byron lật người, mở đôi mắt nặng trĩu. "Người Nga đánh tới rồi. Trời biết khi nào họ mới đến đây, sáng nay họ đã xâm lược Ba Lan rồi. Đi gọi Natalie đến đây." Byron ngồi dậy với động tác linh hoạt, tỉnh cả người. "Người Nga? Lạy Chúa. Mọi chuyện ngày càng thú vị rồi."

"Thú vị? Byron, cậu nhìn xem, Warsaw có lẽ sẽ trở thành vùng đệm giữa quân đội Đức và quân đội Nga. Thành phố này có thể bị bom đạn nghiền thành bột! Đi tìm Natalie, bảo cô ấy đến đây, ở lại đây. Làm việc trong bệnh viện của một nước tham chiến, mẹ kiếp, dù thế nào cũng là một vấn đề, và bây giờ—" Slote đi về phía cửa, một tay nắm chiếc tẩu thuốc, đầu óc rối bời ấn vào thái dương. "Thật là hỗn loạn, có quá nhiều việc phải làm."

Byron ngáp một cái rồi đứng dậy. "Vội gì chứ? Biên giới Nga cách đây bao xa, hai, ba trăm cây số? Quân đội của họ có khi một tuần nữa cũng chưa đến được Warsaw."

Slote cười. Anh không nghĩ quân đội Nga cần vài ngày mới có thể tiến được ba trăm cây số này, nhưng đây là sự thật, và vô cùng hiển nhiên. Anh lấy bao thuốc lá ra, chậm rãi nhồi vào tẩu để lấy lại bình tĩnh, rồi nói: "Tất nhiên, nhưng vấn đề là, diễn biến mới này đã thay đổi mọi thứ. Không có bất kỳ thông báo nào về việc người Nga hay người Đức sẽ làm gì tiếp theo. Hôm nay có lẽ sẽ có một trận hỗn chiến trên bầu trời Warsaw. Người Đức có thể quyết định thông báo nửa giờ để kiều dân trung lập rút đi."

"Được rồi, tôi sẽ tìm cách tìm cô ấy, nhưng cậu biết tính Natalie rồi đấy."

"Hãy nói với Natalie đây không phải lời nhắn của tôi," Slote một tay nắm tay nắm cửa, gật đầu, nói bằng giọng căng thẳng, thô bạo. "Mà là thông báo chính thức của Chính phủ Mỹ. Chúng tôi không thể chịu trách nhiệm về sự an toàn của bất cứ ai ngoài bức tường của ngôi nhà này nữa. Nếu chúng tôi đột nhiên phải thu dọn đồ đạc rời khỏi đây dưới lá cờ ngừng bắn—điều này có thể xảy ra bất cứ lúc nào—mà cô ấy lại không có ở đó, tôi không thể vì thế mà chậm trễ dù chỉ năm phút. Chúng tôi đi, cô ấy sẽ trở thành người nước ngoài duy nhất ở lại Warsaw. Nếu cô ấy nổi hứng, bom không ném chết cô ấy, Đức Quốc xã không giết cô ấy, thì cô ấy có thể viết cả một cuốn sách đấy. Nói với cô ấy như vậy, được chứ?" Anh đóng sầm cửa lại.

Lúc này Byron đã rất quen đường đến bệnh viện. Anh phải đi xuyên qua những phần bị quân Đức pháo kích dữ dội nhất trong thành phố. Dọc đường toàn là những đống đổ nát đen sì chất cao như núi; trên đường là những hố bom lớn, đường ống dẫn nước bị vỡ, dây điện đứt, cột điện thoại đổ, cây cối bị bật gốc, cùng vô số mảnh thủy tinh, gạch vỡ, mảnh gỗ vụn và đủ thứ hỗn độn khác. Trẻ em chơi đùa trên những đống đổ nát, trong những ngôi nhà bị phá hủy. Phụ nữ giặt quần áo ngoài trời, hoặc nhóm một đống lửa nhỏ dưới nắng để nấu ăn. Những người làm việc đào bới trong những ngôi nhà sụp đổ, dọn dẹp những sợi dây điện rối rắm trên đường, san phẳng những mặt đường lồi lõm. Hầu như ai cũng tỏ ra vui vẻ và nghiêm túc; đây là điều rất đáng kinh ngạc, dù Byron đã quen mắt. Anh không gặp đám tang hay dấu hiệu nào khác của cái chết. Trẻ em nhảy nhót, leo trèo, cười đùa trong những ngôi nhà bị phá hủy, như thể phát hiện ra chiến tranh là một điều mới mẻ thú vị, trường học rõ ràng là đã đóng cửa. Ở đây đó có vài người phụ nữ trùm khăn đen cúi đầu ngồi trên ghế hoặc trên đá. Có người lộ cả ngực ra cho con bú. Nhiều người với gương mặt đờ đẫn, vô cảm đi lại trên những đống đổ nát, ngó nghiêng hoặc mò mẫm tìm đồ đạc. Không có nơi nào bị cháy. Đây là kiểu phá hoại tùy tiện. Một con phố có thể không hề hấn gì, nhưng con phố tiếp theo vừa bị phá hủy một nửa, như thể một chiếc máy bay ném tất cả bom nó mang theo xuống cùng một lúc. Trên những bức tường đổ nghiêng, những căn phòng như bối cảnh sân khấu treo lơ lửng giữa không trung, giấy dán tường hoặc sơn nhiều màu sắc lộ ra một cách thê lương. Byron nhìn thấy một chiếc đàn piano bị hỏng treo lơ lửng từ một căn phòng như thế.

Anh chen vào từ sảnh bệnh viện. Ở đây, bầu không khí vui vẻ đáng ngạc nhiên của Warsaw biến thành một cảnh tượng thê lương, đáng ghét. Những người bị thương nằm thành từng đống, từng nhóm trên sàn đá cẩm thạch, chật vật chờ băng bó. Đàn ông, phụ nữ, đa số quần áo rách nát, người đầy bụi bẩn, có người rên rỉ, có người khóc thét, có người hôn mê, có người Ba Lan, cũng có người Do Thái, tất cả đều bê bết máu, quần áo rách tơi tả, không được băng bó, có người mặt bị xé toạc, có người gãy tay gãy chân, thỉnh thoảng cũng có người bị nổ mất tứ chi, để lại một đoạn thịt nát, lộ ra những mẩu xương trắng đáng sợ. Trẻ em nằm riêng ở một sảnh tiếp đón lớn, tiếng gào khóc vang lên thảm thiết, hòa lẫn với vài tiếng cười không ăn nhập. Byron vội vã đi qua cánh cửa mở, đi xuống cầu thang đá xoắn ốc, đến một tầng hầm thấp, ở đây ấm hơn bên trên nhiều, nhưng mùi hôi nồng nặc của những chiếc bếp dầu hỏa bị đốt quá mức còn khó chịu hơn cả mùi thuốc men.

"Anh ta bị điên à?" Natalie hét lên. "Sao tôi có thể rời đi? Tôi vừa mới bắt đầu làm việc. Nhìn kìa!" Cô giơ tay vung một vòng, chỉ vào những người xung quanh. Những người phụ nữ nằm trên những chiếc giường bệnh xếp sát nhau, có người rên rỉ, có người khóc bằng tiếng Ba Lan; những người phụ nữ khác thì ngồi mặt mày ủ rũ trên giường bệnh hoặc ghế thấp, để lộ bầu ngực trắng béo cùng đầu vú màu nâu cho con bú; ba bác sĩ mặt tái mét, mồ hôi nhễ nhại đi lại giữa các giường bệnh: vài y tá bận rộn, có người giống cô mặc áo trắng dính đầy máu, tóc quấn bằng vải trắng, có người mặc áo nữ tu xám đậm. "Ở dưới này chúng tôi tổng cộng có năm người, nhưng sáng nay chúng tôi đã tiếp nhận tám mươi hai người phụ nữ! Đây là bệnh viện sản khoa duy nhất còn lại ở Warsaw rồi. Người Đức tối qua đã ném bom Bệnh viện Saint Catherine. Họ nói, thật khủng khiếp không thể tả, những phụ nữ mang thai chạy loạn trong đám cháy, những đứa trẻ sơ sinh bị thiêu chết—"

"Vấn đề là, Natalie, người Nga đánh tới rồi—"

"Tôi nghe rồi! Họ còn cách đây hàng trăm dặm, phải không? Đi đi, Byron, tôi phải làm việc rồi."

Một bác sĩ lưng khòm, mũi to, bộ râu đỏ vuông vức, ánh mắt đờ đẫn và đáng thương vừa đi ngang qua. Ông hỏi Natalie bằng tiếng Đức có chuyện gì xảy ra, cô kể lại cho ông nghe.

"Đi đi, nhất định phải đi." Ông nói bằng giọng mệt mỏi. "Đừng ngốc nữa, cô nhất định phải đi cùng những người Mỹ khác. Nếu đại sứ quán đến gọi cô, cô phải tuân lệnh."

"Hừ, đại sứ quán! Chưa có ai nói chúng tôi phải rời đi cả. Nếu họ muốn đi, chàng thanh niên này không mất đến năm phút là có thể đến đây gọi tôi."

"Không được, không được, cô không thể mạo hiểm. Cô không phải người Ba Lan, cô không thể nghĩ rằng mình có thể mang tính mạng ra đánh cược. Hơn nữa cô là người Do Thái, cô là người Do Thái." Bác sĩ đưa tay lên đầu cô, kéo tấm vải trắng đó ra. Mái tóc dày, xoăn, sẫm màu của cô xõa xuống. "Cô nhất định phải về nhà."

Nước mắt trào ra từ mắt Natalie, chảy xuống má. "Người phụ nữ sinh đôi đó vẫn đang xuất huyết, anh đã xem qua cô ấy chưa? Còn đứa trẻ bị hỏng chân nữa—" Cô vội vã làm dấu về phía chiếc giường bệnh gần đó.

"Họ đều nằm trong danh sách cả rồi. Cô mau về đại sứ quán ngay đi. Rất cảm ơn cô, cô đã giúp đỡ chúng tôi. Chúc cô lên đường bình an." Bác sĩ chậm rãi bước đi. Cô quay sang Byron. "Leslie Slote là một kẻ ích kỷ tồi tệ. Anh ta chỉ là không muốn phải bận tâm đến tôi, để anh ta bớt đi một nỗi lo." Đột nhiên cô kéo váy lên tận mông; động tác này khiến Byron không khỏi giật mình, dù thực tế chiếc quần lót dày dài đến đầu gối đó còn chẳng gợi cảm bằng chiếc váy trắng bên ngoài. Anh thầm nghĩ, chiếc quần lót xấu xí này chắc là cô lấy được từ chỗ các nữ tu. "Cầm lấy," cô nói, lấy từ trong quần lót ra một chiếc ví dày, hạ váy xuống. "Tôi về cái đại sứ quán chết tiệt đó đây. Nhưng tôi muốn anh tìm giúp Ben Ariel, đưa cái này cho anh ấy. Tất cả số đô la của tôi đều ở đây rồi. Anh có làm việc này giúp tôi không?"

"Tất nhiên."

"Nói cho tôi biết, Byron," Natalie nói, "anh vẫn thấy thú vị chứ?"

Anh nhìn quanh phòng bệnh ồn ào, đông đúc, đầy mùi khó chịu này, nơi những người phụ nữ Ba Lan đang bất lực đưa những sinh linh mới đến với thành phố đã bị người Đức ném bom thành thành phố chết, chịu đựng những cơn đau đẻ không thể trì hoãn dưới sự chăm sóc tốt nhất mà một thành phố đang hấp hối có thể mang lại. "Thú vị hơn cả một đàn khỉ trong thùng đấy. Lúc về đại sứ quán nhớ cẩn thận, được không? Một nhà thờ trên phố Francoska bị cháy, họ đã phong tỏa con phố đó rồi. Đi vòng qua phía viện bảo tàng ấy."

"Được. Anh có lẽ sẽ tìm thấy Ben Ariel ở tòa nhà màu xám đó, anh biết không, chính là nơi làm việc của Hội đồng Do Thái ấy. Anh ấy làm việc ở bộ phận bếp ăn hay đại loại thế."

"Tôi nghĩ tôi sẽ tìm thấy anh ấy."

Byron bước ra từ một con hẻm nhỏ phía sau. Ở đó, hai người đàn ông đang chất những thi thể từ bệnh viện lên một chiếc xe kéo hai bánh, trông rất giống chiếc xe anh đã mua để chở nước. Những xác chết nằm trên mặt đường lát đá, người đàn ông mặc tạp dề vải dầu màu trắng dính đầy vết máu đỏ lần lượt bế từng xác lên, ném cho người kia để chất lên xe. Đó là những cái xác cứng đờ với đôi mắt trợn trừng và cái miệng há hốc, trông giống như những con cá chết ở chợ. Người đàn ông kia vứt xác một bà lão gầy trơ xương lên xe, cái xác không nặng, từ những mảnh vải hồng còn vương trên cơ thể lộ ra lớp lông xám xịt.

Anh vội vã băng qua Đại lộ Nguyên soái Piłsudski, hướng về phía khu Do Thái. Anh nghe thấy tiếng đại bác gầm vang và tiếng nổ gần đó, như thể chúng đang nổ tung trên đống đổ nát của một tòa nhà nào đó. Byron lầm bầm chửi rủa người Đức bằng những câu nguyền rủa quen thuộc. Sau khi rời Đại học Florence, anh từng sống ở Đức một tuần. Họ trông có vẻ kỳ lạ, nhưng cũng chẳng lạ lùng hơn người Ý là bao. Họ là người nước ngoài, nhưng vẫn có tình người, thích ồn ào đùa giỡn, nhưng đối nhân xử thế lại rất lễ phép. Thế mà giờ đây họ lại ở đây, bao vây thủ đô của Ba Lan, dùng thuốc nổ và thép bay để bắn phá, phá hủy đường ống nước, giết hại trẻ em, biến những con người đang sống thành những cái xác cứng đờ với đôi mắt thủy tinh, phải dùng xe kéo đi để xử lý. Đây quả thực là hành vi tàn bạo đáng phẫn nộ nhất. Gọi nó là "chiến tranh" cũng chẳng khiến nó dễ hiểu hơn chút nào.

Mặc dù vậy, Byron lại nhận thấy môi trường kỳ lạ và đáng sợ mà mình vô tình sa chân vào này, lại phong phú, sống động và thú vị hơn nhiều so với cái "hòa bình" mà anh từng biết. Vận chuyển nước cho Đại sứ quán Mỹ là việc làm khiến anh hài lòng nhất trong đời. Anh yêu công việc này. Anh sẵn lòng hy sinh khi làm việc đó. Thế nhưng, vận may của anh lại quá tốt. Đây chính là điều mới mẻ mà anh đang tìm kiếm. Phần lớn người dân ở Warsaw vẫn còn sống, không hề hấn gì và đang tiếp tục công việc của họ. Thành phố này còn lâu mới bị phá hủy, hay thậm chí là bị phá hủy một nửa. Khi anh đi dọc theo quận Nareścaia, anh đã đi qua những dãy nhà ba tầng màu nâu nguyên vẹn, chúng đứng sừng sững, bình thản, tĩnh lặng, trông hoàn toàn giống như trước khi người Đức tấn công.

Thế nhưng ở khu Do Thái thì không có những khu phố không bị hư hại như vậy. Đó là một đống đổ nát khổng lồ đang bốc khói. Rõ ràng là người Đức đã ném một lượng đạn pháo và bom đặc biệt lớn vào khu vực này - một việc làm vô nghĩa, bởi người Do Thái ở Warsaw không thể nào ép thành phố đầu hàng. Một trận mưa hỏa lực và thuốc nổ như vậy, nếu không trút xuống đầu người Do Thái mà tập trung vào huyết mạch của thành phố - như điện lực, cấp nước, vận tải, cầu cống - thì có lẽ đã đánh sập Warsaw từ lâu. Cuộc oanh tạc vào Nareścaia là một cuộc tấn công lãng phí đạn dược điên cuồng của một đội quân hùng mạnh nhắm vào những thường dân tay không tấc sắt đáng thương.

Dòng chữ "Juden Verboten" (Người Do Thái không được phép ngồi) mà Byron nhìn thấy trên băng ghế công viên ở Đức dường như quá kỳ quái, có chút không thực tế. Cuộc oanh tạc vào quận Nareścaia lần đầu tiên giúp anh hiểu ra sự thật quái đản này, đó là người Đức thực sự có ý đồ sát hại dân tộc này. Chiếc xe điện bị lật úp, cháy đen. Những xác ngựa trương phình bốc mùi hôi thối dưới đám ruồi đen béo mầm bu đầy trên phố, lũ ruồi đôi khi còn bám chặt lấy mặt và tay Byron. Cũng có cả xác mèo, xác chó và những con chuột chết vương vãi dưới cống. Anh chỉ nhìn thấy một người chết, một ông lão co quắp trốn trong hốc cửa. Trước đó, anh đã nhận ra người Do Thái đưa xác người đi nhanh đến mức nào, họ tôn trọng thi thể ra sao, che đậy chiếc xe chở xác bằng vải, lặng lẽ và đau buồn đi theo sau trên đường phố.

Nhưng bất chấp những ngôi nhà bị bom phá hủy, lửa cháy khói bay không ngừng, khắp nơi là gạch vụn, khu vực này vẫn tràn đầy cuộc sống bận rộn và chen chúc. Ở một góc phố, bên ngoài một ngôi trường bị đánh bom, những cậu bé đội mũ nhỏ ngồi trên vỉa hè cùng với những người thầy có râu, ôm những cuốn sách dày cộp mà hát. Một vài cậu bé còn chẳng to hơn những cuốn sách là mấy. Các sạp báo vẫn treo đầy hơn mười loại báo chí khác nhau in bằng chữ Do Thái thô đậm. Anh nghe thấy tiếng ai đó đang tập đàn violin trong một ngôi nhà. Những người bán hàng rong bán rau củ héo úa và trái cây chưa chín, bán đồ hộp và quần áo cũ, đứng dọc vỉa hè hoặc đẩy những chiếc xe kéo kêu cọt kẹt giữa đám đông. Từng đội người làm việc đang dọn dẹp gạch vụn của những ngôi nhà bị đánh bom khỏi đường phố và vỉa hè. Người làm việc này rất đông. Byron cảm thấy lạ lùng về điều đó, bởi vài tuần trước, những người đàn ông và thanh niên Do Thái - có lẽ vì họ quá dễ nhận diện - dường như đã xuất hiện từ khắp Warsaw; họ đào chiến hào, dập lửa, sửa đường ống nước. Một ông lão đội mũ nhỏ, mặc áo dài, râu xám, khom lưng vung xẻng trong chiến hào, khiến tất cả những người cùng làm việc trông đều giống người Do Thái. Nhưng họ quả thực trông như đang đào bới ở khắp mọi nơi.

Berel Jastrow không có ở nhà hội. Những hành lang đông đúc, u tối và mờ mịt chỉ được thắp sáng bằng những cây nến to leo lét. Byron tìm kiếm xung quanh và gặp một người từng thấy anh nói chuyện với Berel, đó là một người Do Thái nhỏ con, gọn gàng, có bộ râu, đeo một con mắt giả, ánh mắt nhìn người sáng quắc. Ông ta dùng một thứ ngôn ngữ pha trộn giữa tiếng Đức và tiếng Yiddish để giải thích rằng Berel đang đi thị sát bếp ăn công cộng. Byron lập tức đi tìm ông và thấy ông trong một hội đường Do Thái khổng lồ xây bằng đá xám theo phong cách La Mã. Hội đường này chưa bị hư hại, chỉ có ngôi sao sáu cánh bằng đá trên một lỗ cửa sổ tròn bị vỡ mất kính. Jastrow đang đứng trong một phòng tiếp đón thấp và oi bức, nơi mọi người đang xếp hàng chờ đợi vài người phụ nữ quấn khăn, mồ hôi nhễ nhại múc những bát canh rau thơm nồng từ những chiếc thùng lớn đặt trên bếp củi.

"Người Nga!" Berel vuốt râu nói. "Điều này chắc chắn chứ?"

"Chính thị trưởng của các ông đã gửi tin đến Đại sứ quán."

"Hãy ra ngoài nói chuyện."

Họ đi ra phố để nói chuyện, cách xa hàng người đang nhận canh. Những người mặc quần áo rách rưới trong hàng nhìn họ, muốn nghe họ nói gì, thậm chí còn đưa lòng bàn tay lên sau tai. "Tôi phải báo cáo việc này với Ủy ban Trung ương," Berel nói.

"Có lẽ là tin tốt. Ai mà biết được? Biết đâu hai tên cướp đó lại đang đâm họng lẫn nhau? Chuyện này từng xảy ra rồi. Người Nga có thể là sứ giả của Chúa."

Khi Byron đưa ví của Natalie cho ông, ông ngạc nhiên. "Con bé nghĩ gì vậy?" ông nói. "Ta có tiền. Ta có đô la. Nó có thể tự dùng đến. Nó còn chưa ra khỏi Warsaw đâu."

Byron không biết phải làm sao. Anh không nghĩ Jastrow sẽ cảm thấy không vui, nhưng giờ đây phản ứng này có vẻ rất tự nhiên. Anh nói, người Mỹ có lẽ sẽ sớm rút khỏi Warsaw dưới lá cờ ngừng bắn.

"Ra là vậy. Vậy là chúng ta không thể gặp lại con hay Natalie nữa sao?"

"Có lẽ là không."

"Ừm, được thôi. Nếu người Đức để tất cả các người, những người Mỹ, rút đi cùng nhau, thì con bé sẽ an toàn. Nó từng nói với ta rằng trên hộ chiếu Mỹ không ghi theo tôn giáo nào cả. Hãy nói với con bé là ta cảm ơn nó, ta sẽ bỏ số tiền này vào quỹ thực phẩm. Hãy nói với nó: Vorsicht!"

Một quả đạn pháo rít lên bay tới, nổ tung ở không xa, làm Byron đau nhói cả tai.

Berel vội vàng nói: "Con thấy đấy, chúng lại quay lại khu vực này rồi. Những người Đức này, chúng pháo kích rất có hệ thống. Hôm qua là Yom Kippur, đạn pháo rơi xuống đầu chúng ta cả ngày, không ngừng nghỉ. Bây giờ, con sẽ gặp Aaron chứ?"

Ông cười khổ trước vẻ mặt khó hiểu của Byron. "Là Tiến sĩ Aaron Jastrow," ông bắt chước cách phát âm tiếng Anh.

"Cháu nghĩ là có."

"Hãy bảo nó," Berel nói, "Lekhlekha. Con nhớ được không? Đó là hai từ tiếng Do Thái đơn giản: Lekhlekha."

"Lekhlekha," Byron nói.

"Tốt lắm. Con là một học sinh tiếng Do Thái rất giỏi."

"Nghĩa là gì ạ?"

"Đi nhanh lên." Berel đưa cho Byron một tấm thẻ trắng cũ. "Bây giờ, con có muốn giúp ta một việc không? Đây là một người ở New Jersey, một nhà nhập khẩu. Ông ta gửi một hối phiếu ngân hàng để mua một lô nấm lớn. Nó đến quá muộn. Ta đã hủy hối phiếu rồi, nên không vấn đề gì, nhưng... con cười gì thế?"

"Vâng, ông có bao nhiêu việc phải lo, thế mà ông vẫn còn nghĩ đến chuyện này."

Jastrow nhún vai. "Đây là công việc của ta. Người Đức, họ hoặc là vào, hoặc là không. Suy cho cùng, họ không phải sư tử hổ báo, họ là con người. Họ sẽ lấy tiền của chúng ta. Đây sẽ là một thời kỳ tồi tệ, nhưng chiến tranh rồi cũng sẽ kết thúc. Nghe này, nếu người Nga đến, họ cũng sẽ lấy tiền của chúng ta thôi. Cho nên..." ông đưa tay về phía Byron, "Cho nên, Chúa phù hộ con, và..."

Byron nghe thấy tiếng một quả đạn pháo bay tới rất gần; đó là tiếng rít và tiếng gào thét không thể nhầm lẫn. Nó đập vỡ mái hội đường Do Thái và xuyên vào trong. Vụ nổ làm choáng váng chỉ vang lên sau đó một hoặc hai giây, đủ để anh kịp lấy hai tay bịt tai và nằm rạp xuống đất. Kỳ lạ là nó không làm sập bức tường phía trước, nhờ vậy mà bảo toàn được những người đang xếp hàng. Những mảnh mái nhà bay lên không trung, rơi lạch cạch xuống đường và những ngôi nhà gần đó. Sau đó, đúng lúc anh và Jastrow đứng dậy, họ nhìn thấy toàn bộ mặt tiền của hội đường như một bức màn rơi xuống, trượt xuống, phát ra tiếng ầm ầm và tiếng nứt gãy liên hồi, tan rã, đổ sụp thành đống đổ nát. Lúc này, những người xếp hàng đã chạy thoát, thoát khỏi nguy hiểm. Làn bụi trắng bốc lên tận trời, ngay lập tức bị làn gió nhẹ thổi tan, nhưng từ trong làn bụi đó, Byron có thể nhìn thấy những cột đá cẩm thạch và cánh cửa gỗ chạm khắc của Hòm Giao Ước chưa bị hư hại trên bức tường xa xa, hiện ra trần trụi và lạc lõng dưới ánh nắng nhợt nhạt mù sương.

Berel vỗ mạnh vào vai anh. "Đi đi, đi nhanh lên! Đừng ở đây nữa. Bây giờ đi ngay đi. Ta phải đi giúp đỡ đây."

Những người đàn ông và thanh niên Do Thái đã tràn vào đống đổ nát mới này, nhiều ngọn lửa nhỏ đang lóe lên ở đó. Mặc dù biết rất ít về Do Thái giáo, Byron hiểu rằng họ đang đi cứu những cuộn kinh thánh.

"Được rồi, cháu quay lại chỗ Natalie đây."

"Được. Cảm ơn con, cảm ơn con. Chúc hai người bình an trên đường."

Byron chạy bộ quay lại. Hòm Giao Ước lộ ra dưới ánh mặt trời, giống như một bản nhạc mạnh mẽ, khiến anh rung động. Anh đi xuyên qua khu Do Thái của Warsaw, quay trở lại, nhìn những dãy nhà màu xám, màu nâu bị phá hủy, những con phố lát đá và những con hẻm lầy lội, những sân nhỏ và túp lều phơi quần áo, những người Do Thái hiền lành có râu và đội mũ rộng vành, những đứa trẻ mắt đen vui vẻ nô đùa dưới làn bom, những người bán hàng rong mệt mỏi mà kiên cường đẩy xe, xách giỏ, những sạp báo treo đầy đủ loại báo chí, tạp chí, sách mỏng và sách bìa mềm, những ánh nắng tràn ngập khói bụi, những chiếc xe điện bị lật úp, những xác ngựa... anh nhìn thấy tất cả mọi thứ một cách rõ ràng và chi tiết, mỗi một cảnh tượng đều in sâu vào tâm trí anh, như thể anh là một họa sĩ vậy.

Anh phát hiện máy bay Đức xếp thành đội hình tam giác dày đặc bay tới từ phía bắc, không cảm thấy ngạc nhiên cũng chẳng có chút sợ hãi nào. Cảnh tượng này đã quá quen thuộc. Anh tiếp tục chạy bộ, nhanh hơn một chút, băng qua những con phố đầy hố bom dần trở nên trống trải để chạy về Đại sứ quán. Những người xung quanh anh nhìn lên bầu trời rồi lẩn trốn. Những chiếc máy bay đầu tiên là Stuka, chúng bổ nhào xuống, phun ra khói đen. Byron nghe thấy tiếng súng máy yếu ớt của người Ba Lan trên mái nhà đang phẫn nộ bắn trả. Có một chiếc máy bay bổ nhào xuống con phố anh đang chạy. Anh nhảy vào một hốc cửa. Đạn bắn lạch cạch xuống mặt đường lát đá, bắn tung tóe khắp nơi. Anh nhìn theo chiếc máy bay đó bay lên cao, rồi tiếp tục chạy, miệng lầm bầm chửi rủa người Đức bằng những từ tục tĩu quen thuộc.

Byron dần nảy sinh một cảm giác, như thể những điều tồi tệ nhất mà người Đức có thể gây ra cũng không thể làm hại được anh. Trong mắt anh, họ chẳng qua chỉ là một lũ đồ tể thô lỗ, đê tiện. Anh tin chắc nước Mỹ sẽ ngay lập tức đứng dậy từ trong phẫn nộ, băng qua Đại Tây Dương và tiêu diệt chúng hoàn toàn, nếu như người Anh và người Pháp thực sự quá yếu đuối, quá sợ hãi nên không thể làm điều đó. Anh nghĩ, những việc xảy ra xung quanh anh chắc chắn đã trở thành tiêu đề lớn trên báo chí Mỹ. Nếu anh biết rằng cuộc chiến tranh Ba Lan với kết quả đã rõ ràng này trên báo chí Mỹ đã bị đẩy lùi xuống những trang sau, và người dân thậm chí còn không biết gì về cái gọi là "cuộc tranh luận lớn" của Quốc hội về việc sửa đổi Đạo luật Trung lập do Giải vô địch chạy bộ quốc gia sắp diễn ra, anh chắc chắn sẽ tức giận đến mức chết lặng.

Anh sải bước chạy vào cổng Đại sứ quán, gần như không thở nổi. Thủy quân lục chiến đứng gác ở cổng chào anh, cười thân thiện. Bên trong, trong phòng ăn lớn trở nên tối đen vì cửa sổ dán băng vải và treo rèm cản sáng, khoảng năm mươi người Mỹ bị vây trong thành phố Warsaw đang ngồi quanh chiếc bàn dài có chân trụ ăn trưa, trên bàn thắp đèn dầu, nói chuyện rôm rả. Slote và Natalie, cùng một người đàn ông nhỏ con da ngăm đen tên là Mark Hartley và vài người khác, ngồi quanh chiếc bàn ăn sáng bóng của Đại sứ. Byron vì chạy đường dài còn đang thở hổn hển, liền kể cho Natalie nghe chuyện anh gặp Berel, nhưng anh không nhắc đến việc hội đường bị đánh bom.

"Cảm ơn anh, Branny! Cầu Chúa phù hộ tất cả họ. Ngồi xuống ăn chút gì đi. Chúng ta có món bít tết bê tẩm vụn bánh mì tuyệt vời, đúng là một phép màu."

Slote nói: "Anh có phải chạy từ ngoài phố về đây trong lúc không kích không?"

"Trong đầu anh ta toàn là lông vịt, thật là thiếu suy nghĩ," Natalie nói, nhìn Byron đầy trìu mến.

"Byron không sao đâu," Hartley nói. Khi họ cùng nhau tiêu tốn những đêm dài trong tầng hầm, anh ta là người chơi bài bridge thứ tư cùng với Natalie, Byron và Slote. Tên trước đây của Mark Hartley là Marvin Horowitz, anh ta thích đùa về việc đổi tên đổi họ này. Anh ta là người New York làm nghề nhập khẩu. Byron ngồi xuống chiếc ghế trống bên cạnh Natalie, lấy một miếng bít tết. Nó có vị hơi kỳ lạ và dính dính, nhưng sau một tuần ăn cá hộp và xúc xích thì nó vẫn khá ngon, huống hồ anh lại đang đói. Anh ăn xong một miếng, lại dùng dĩa xiên một miếng nữa bỏ vào đĩa mình. Slote cười với anh, rồi đắc ý nhìn quanh những người Mỹ đang vui vẻ ăn bít tết. "Tiện hỏi một câu, ở đây có ai phản đối ăn thịt ngựa không?"

"Tất nhiên là tôi phản đối nhất rồi," Natalie nói.

"Được thôi, vậy thì tệ quá. Cô vừa ăn xong đấy."

Natalie thốt lên "Ôi!" lấy khăn ăn che miệng buồn nôn. "Trời đất ơi. Thịt ngựa! Tôi thực sự muốn giết anh. Tại sao anh không cảnh báo tôi?"

"Cô cần dinh dưỡng. Tất cả chúng ta đều cần. Rất khó nói chúng ta sẽ gặp phải chuyện gì, tôi tình cờ có cơ hội mua được thứ này nên tôi đã mua. Những gì các người vừa ăn vẫn là một con ngựa thuần chủng của Ba Lan đấy. Thị trưởng hôm qua ra lệnh giết hơn một ngàn con. Chúng ta kiếm được một phần cũng là may mắn rồi." Mark Hartley lấy thêm một miếng bít tết từ đĩa lớn. Natalie nói: "Mark! Sao anh có thể ăn được? Đó là thịt ngựa!"

Anh ta nhún vai. "Chúng ta phải ăn thôi. Tôi từng ăn thứ thịt tệ hơn ở nhà hàng Do Thái rồi."

"Này, tôi không chủ trương tuân thủ tín ngưỡng tôn giáo, nhưng tôi không thể ăn thịt ngựa. Tôi thà ăn thịt chó còn hơn."

Byron đẩy đĩa ra. Anh cảm thấy sức nặng của miếng thịt ngựa trong bụng, trong miệng vẫn còn vương lại vị dính dính của thịt ngựa, lại nhớ đến mùi hôi thối của những con ngựa chết đầy ruồi nhặng trên đường phố Do Thái, tất cả những điều đó hòa quyện trong ý thức của anh thành một việc - Chiến tranh.

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:2
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »