Gió Bão Chiến Tranh (1939–1941)

Lượt đọc: 376 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10

❊ ❊ ❊

Hugh Cleveland gác đôi chân chỉ đi tất của mình lên đống báo đang mở tung trên bàn làm việc. Nằm trên cùng là tờ "The New York Times", để thích nghi với tình hình, nó đã nâng cao giọng điệu, sử dụng tiêu đề in nghiêng khổ lớn tràn trang chưa từng có:

Quân Đức tấn công Ba Lan;

Thành phố bị oanh tạc, cảng biển bị phong tỏa;

Danzig được tiếp nhận gia nhập nước Đức.

Tuy nhiên, so với kiểu gào thét văn nhã của "The New York Times", các tờ báo khác lại có cỡ chữ tiêu đề to và đậm hơn nhiều. Cleveland mặc một chiếc áo sơ mi, dựa người vào chiếc ghế xoay, kẹp ống nghe điện thoại giữa đầu và vai trái, tay cầm bút chì đỏ nhanh chóng ghi chú lên xấp giấy đánh máy màu vàng, vừa nhấp cà phê vừa nói chuyện. Làm việc trong ngành phát thanh tám năm, anh đã vô cùng thuần thục với mớ công việc này. Mặc dù vẻ ngoài trông có vẻ căng thẳng và hài lòng, nhưng giọng anh lại ẩn chứa sự giận dữ. Chương trình buổi sáng của anh có tên là "Tin tức nhân vật nổi tiếng trong thành phố", chuyên phỏng vấn những nhân vật danh giá đi ngang qua New York. Khủng hoảng chiến tranh đột ngột gầm thét ập vào đài CBS, cướp mất thư ký của Cleveland chuyển sang ban biên tập tin tức, hiện tại anh đang phản đối với phòng nhân sự, hay nói đúng hơn là đang định làm vậy. Anh gọi điện cho quản lý mãi mà vẫn không thông.

Một cô gái nhỏ nhắn đội mũ cói phẳng màu đen xuất hiện ở cửa. Phía sau cô, trong văn phòng lớn của ban biên tập tin tức đài CBS, sự hỗn loạn do tin chiến tranh gây ra ngày một tăng. Các thư ký bận rộn gõ máy chữ lạch cạch, hoặc cầm bản thảo vội vã đi lại; nhân viên phục vụ bưng cà phê và bánh mì kẹp chạy ngược chạy xuôi; những người đàn ông chỉ mặc áo sơ mi vây quanh chiếc máy điện tín kêu lạch cạch, như thể ai nấy đều đang la hét, hút thuốc.

"Ông có phải là ông Cleveland không?" Giọng cô gái rất ngọt nhưng hơi run rẩy, đôi mắt tròn xoe đầy sợ hãi khiến cô trông chỉ khoảng mười sáu, mười bảy tuổi. Cleveland đè tay lên ống nghe hỏi: "Chuyện gì?"

"Phòng nhân sự bảo tôi lên tìm ông."

"Bảo cô? Lạy Chúa, cô bao nhiêu tuổi rồi?"

"Hai mươi tuổi."

Cleveland có vẻ hơi không tin, nhưng anh vẫn gác máy điện thoại. "Cô tên gì?"

"Madeleine Henry."

Cleveland thở dài. "Ừm, được rồi, Madeleine. Muốn đánh cược thì phải hiểu mánh khóe. Vậy thì, bỏ mũ ra rồi bắt tay vào việc ngay đi, được không? Phiền cô mua giúp tôi một cốc cà phê nữa và một cái bánh mì kẹp thịt gà. Còn bản thảo cho ngày mai..." anh vỗ vỗ vào xấp giấy vàng, "cần phải đánh máy xong."

Madeleine không thể giấu giếm thêm được nữa. Cô vốn đến New York để mua sắm quần áo, chiến tranh bùng nổ đột ngột đã thôi thúc cô bước vào đài CBS xem có cần nhân viên nữ tạm thời hay không. Ở phòng nhân sự, một người đàn bà đeo ống tay áo bằng giấy vàng, vẻ mặt thiếu kiên nhẫn đã dúi vào tay cô một mảnh giấy, hỏi vài câu về học vấn rồi bảo cô lên lầu tìm Cleveland. "Đi nói chuyện với ông ấy đi, nếu ông ấy vừa ý cô thì chúng tôi có thể thuê cô. Ông ấy đang gào thét đòi một cô gái, chúng tôi ở đây không rút người ra được."

Madeleine bước vào phòng, đứng dang chân, tháo mũ cầm trên tay, thú nhận rằng mình vẫn chưa được tuyển dụng, vốn dĩ cô đến New York để dạo chơi, nhà ở Washington, còn phải quay lại trường học. Chỉ cần nghĩ đến đây cô đã thấy phiền lòng, vì cô quá sợ cha mình, đến mức chẳng dám làm gì cả. Cô vừa rồi là do nhất thời bốc đồng mà bước vào đài CBS. Anh vừa mỉm cười lắng nghe cô nói, vừa nheo mắt đánh giá cô. Cô mặc một chiếc váy vải đỏ không tay, nhờ kỳ nghỉ cuối tuần trên biển mà sắc mặt rất tốt.

"Vậy, Madeleine, nói những điều này có ý gì? Rốt cuộc cô có muốn làm công việc này không?"

"Tôi đang suy nghĩ... liệu tôi có thể quay lại sau khoảng một tuần nữa không?" Nụ cười trên mặt anh biến mất, anh lại cầm ống nghe điện thoại lên, "Lại là phòng nhân sự. Được rồi, cô cứ quay lại sau đi, Madeleine." Cô nói: "Tôi đi mua cà phê và bánh mì kẹp cho ông ngay đây, việc này tôi làm được. Tối nay tôi cũng có thể đánh máy bản thảo cho ông. Tôi có thể làm việc ở chỗ ông ba tuần được không? Trước ngày hai mươi tư tôi không cần quay lại trường. Nếu cha tôi biết, chắc chắn ông ấy sẽ không tha cho tôi, nhưng tôi không bận tâm."

"Cha cô ở đâu? Ở Washington à?"

"Ông ấy ở Berlin. Ông ấy là tùy viên hải quân ở đó."

"Cái gì?" Hugh Cleveland đặt điện thoại xuống, hạ chân khỏi bàn.

"Cha cô là tùy viên hải quân của chúng ta tại Đức Quốc xã?"

"Vâng."

"Thật không ngờ, tốt lắm! Cô là con nhà hải quân rồi." Anh ném tờ tiền năm đô la lên bàn. "Được rồi, Madeleine, làm ơn mua cho tôi một cái bánh mì kẹp, loại có thịt trắng, rau diếp, hạt tiêu, sốt mayonnaise. Cà phê đen. Những chuyện khác để sau hãy nói. Cô cũng tự mua cho mình một cái bánh mì kẹp đi."

"Vâng, thưa ông Cleveland."

Madeleine cầm tờ tiền chạy ra sảnh ngoài, đứng ngẩn người ở đó. Cô đã nghe chương trình "Tin tức nhân vật nổi tiếng trong thành phố" vài lần, cô lập tức nhận ra chất giọng sảng khoái, giàu cảm xúc đặc trưng của Cleveland; đúng là một phát thanh viên chính hiệu, có chương trình riêng, mà đột nhiên cô lại đang làm việc cho anh ta. Mà đây lại là thời chiến! Một cô gái cầm túi thực phẩm vèo một cái lướt qua bên cạnh cô, cô liền hiểu ra nên đi đâu mua bánh mì. Nhưng đã có khoảng hai mươi cô gái đang xì xào chen chúc bên quầy bán lẻ của tiệm ăn nhỏ ngoài hành lang, cô bước ra phố Madison. Cô đứng dưới ánh nắng ấm áp, chớp chớp mắt. Hoạt động ở New York vẫn như xưa. Đám đông đi lại trên vỉa hè; xe hơi, xe buýt phun khói đi lại tấp nập; người người cầm túi lớn túi nhỏ ra vào cửa hàng, ngó nghiêng vào các cửa sổ trưng bày. Thứ duy nhất mới mẻ là những người bán báo đang ôm những xấp báo chiều dày cộm, rao tin chiến tranh. Madeleine chạy sang tiệm thuốc lớn đối diện phố, quầy ăn nhanh ở đó chật kín nhân viên và người mua hàng. Họ vừa ăn bát súp cay hoặc súp rau, vừa trò chuyện rôm rả. Vẫn là những con người ấy, đi lại tấp nập trong tiệm thuốc, mua kem đánh răng, chất tẩy rửa, aspirin, kẹo và đồng hồ để bàn giá rẻ. Một người đàn bà lớn tuổi tóc vàng, đeo tạp dề và đội mũ nhanh chóng chuẩn bị bánh mì kẹp cho cô.

"À, cưng ơi, cuộc chiến này ai thắng đây?" Bà hỏi một cách thân thiện, trong khi rắc hạt tiêu lên thịt gà.

"Hy vọng Hitler không thắng," Madeleine đáp.

"Phải rồi, chẳng phải ông ta là nhân vật quan trọng sao? Sieg Heil! Ha ha, ta thấy kẻ này là một tên điên. Ta vẫn luôn nói vậy, quả nhiên ứng nghiệm rồi." Bà đưa bánh mì cho Madeleine. "Được rồi, cưng à, vì chúng ta không dính líu vào, thì mặc kệ ai thắng đi!" Madeleine mua một tờ báo chiều, tiêu đề rất to nhưng chẳng có tin gì mới. Chỉ cần nhìn trang nhất kịch tính như vậy đã là một niềm vui mới. Mặc dù chiến tranh cách đây rất xa, nhưng Madeleine cảm thấy máu trong huyết quản mình đột nhiên chảy nhanh hơn. Giữa những tiêu đề này, dâng lên hơi thở của tự do và hành động mới. Tổng thống lập tức tuyên bố vô cùng kiên định rằng, Hoa Kỳ không can dự vào cuộc chiến này. Nhưng sự phát triển của sự việc từ nay về sau chắc chắn sẽ rất khác, việc bị cuốn vào là không thể tránh khỏi! Trong đầu cô cứ tính toán xem nên viết thư cho cha như thế nào, giá mà cô có thể nhận được công việc này.

Cleveland lại gác chân lên bàn, trên mặt mang nụ cười cợt nhả đang nghe điện thoại.

Anh gật đầu với Madeleine - một mặt dùng giọng trầm ấm đầy nhiệt tình tiếp tục thuyết phục một cô gái đi gặp mình ở nhà hàng mỹ nhân - một mặt ngấu nghiến ăn bánh mì.

"Sao ông không ăn phần đó?" Madeleine nói, "Tôi không đói."

"Thật sao? Tôi không muốn cướp phần ăn của cô." Anh đặt ống nghe xuống, mở gói bánh mì kẹp của cô ra. "Bình thường ban ngày tôi không ăn nhiều, nhưng giờ ai cũng bàn tán về chiến tranh..." anh cắn một miếng lớn rồi nói tiếp: "Cảm ơn. Tôi thề, tôi đói như thể đang tham dự một đám tang vậy. Đã bao giờ cô để ý thấy mình đói thế nào khi dự đám tang chưa, Madeleine? Tôi nghĩ, nhìn một kẻ xui xẻo bị chôn xuống hố đất, cô thực sự cảm thấy mình đang sống mới hạnh phúc làm sao. Được rồi, nghe đây, cô muốn làm việc ở chỗ tôi ba tuần, đúng không? Như vậy cũng tốt. Điều này cho tôi cơ hội tìm hiểu xem phòng nhân sự rốt cuộc là thế nào." Anh cầm một phong bì màu nâu lắc lắc trước mặt cô. "Này, Gary Cooper đang ở phòng 641 khách sạn St. Regis. Đây là bản thảo mẫu của 'Tin tức nhân vật nổi tiếng trong thành phố', phiền cô gửi cho ông ấy. Chúng ta có lẽ sẽ mời ông ấy đến vào thứ Năm."

"Gary Cooper? Ý ông là ngôi sao điện ảnh đó sao?" Madeleine kinh ngạc đến mức dùng giọng cao vút giống hệt mẹ mình.

"Còn ai vào đây nữa? Ông ấy có thể sẽ hỏi cô vài câu về phát thanh và về tôi. Vì vậy hãy lắng nghe cẩn thận, khắc ghi lời tôi vào đầu. Chúng ta làm việc trong một phòng thu nhỏ không có khán giả, rất thoải mái. Đó là một căn phòng có ghế bành, sách và một tấm thảm, vô cùng tinh mỹ, giống như thư phòng trong gia đình vậy. Phu nhân Roosevelt cũng chính là phát sóng chương trình của bà ấy trong căn phòng này. Nếu ông ấy cần, chúng ta có thể đánh máy bản thảo bằng cỡ chữ siêu lớn. Ông ấy có thể phát sóng từ năm đến mười lăm phút. Toàn bộ chương trình cần một tiếng rưỡi. Tôi bắt đầu chương trình này ở Los Angeles từ năm 1934, làm được ba năm. Lúc đó tôi gọi chương trình này là 'Giải trí sau bữa ăn', có lẽ ông ấy đã nghe thấy. Tất nhiên có thể ông ấy rất bận, không có thời gian hỏi những chuyện này. Dù sao đi nữa, cô phải giả vờ như đã làm được một thời gian rồi."

Madeleine hoảng cả lên, kích động đến mức không nói nên lời, lập tức đưa tay lấy phong bì. Cleveland đưa phong bì cho cô, nói: "Chuẩn bị xong chưa? Nhổ neo thôi. Vì Chúa, đừng có xin chữ ký của ông ấy, nếu gặp vấn đề gì thì gọi điện cho tôi. Đừng có mà không quay lại."

Madeleine đột nhiên thốt ra một câu: "Chắc chắn là có vài cô nàng ngốc nghếch nào đó đã từng làm ở chỗ ông rồi." Nói xong liền vội vàng đi ra.

Một người hầu gái mở cửa phòng khách sạn, Gary Cooper mặc bộ đồ màu xám đang ngồi bên chiếc bàn có bánh xe ăn trưa. Ngôi sao điện ảnh đứng dậy, mỉm cười với Madeleine. Anh ta cao đặc biệt, dáng người gầy gò, đeo một cặp kính gọng đen. Anh ta vừa uống cà phê vừa xem qua bản thảo, hỏi vài câu, hoàn toàn là phong thái làm việc, khác hẳn với một anh chàng cao bồi nhút nhát. Phong thái của anh ta giống như một đô đốc hải quân. Khi cô nhắc đến chương trình "Giải trí sau bữa ăn", trên mặt anh ta lộ ra nụ cười. "Vâng, tôi nhớ chương trình đó." Không lâu sau, cô lại ra đến con phố đầy nắng, đã kiệt sức, toàn thân run rẩy.

"Anh tổng động viên rồi! Hitler tấn công Ba Lan!" Người bán báo ở góc đường khàn giọng hét.

Khi cô quay lại văn phòng, Cleveland nói với cô: "Cảm ơn em, bé cưng." Anh đang gõ máy chữ rất nhanh. "Cooper vừa gọi điện. Anh ta khá thích ý tưởng này, anh ta đã đồng ý." Anh lấy tờ giấy vàng ra khỏi máy chữ, kẹp cùng các tờ giấy khác. "Anh ta nói em đúng là một cô gái đáng yêu. Em đã nói gì với anh ta thế?"

"Hầu như chẳng nói gì cả."

"Ừm, em làm tốt lắm. Bây giờ tôi sẽ đi phỏng vấn anh ta. Đây là bản thảo ngày mai. Những trang có bút đỏ sửa chữa hãy chép lại cho sạch sẽ, sau đó mang đi photo toàn bộ bản thảo, ở phòng 309A." Cleveland xỏ giày, chỉnh lại cà vạt, khoác lên mình chiếc áo thể thao màu vàng đậm. Anh dùng ngón tay vuốt lại mái tóc vàng dày, nhướng đôi lông mày rậm cong cong đầy hài hước, cười toe toét với cô. Cô cảm thấy, mình thực sự sẵn lòng làm bất cứ việc gì cho anh. Kết luận của Madeleine là, anh không hẳn là đẹp trai, mà là rất quyến rũ. Trên người anh có một sự vui vẻ lây lan, trong đôi mắt xanh hoạt bát kia có một tia sáng đặc biệt thú vị. Mặc dù anh mới ba mươi mốt, ba mươi hai tuổi, nhưng vừa đứng dậy, bụng đã lộ ra, điểm này khiến cô hơi thất vọng, nhưng điều đó cũng chẳng quan trọng.

Anh đi đến cửa lại đứng khựng lại. "Em làm thêm ca đêm được không? Em có thể nhận được tiền làm thêm giờ. Nếu tối nay khoảng tám giờ rưỡi em đến, em có thể tìm thấy bản thảo cho thứ Năm trên bàn làm việc của tôi, trong đó có cả bản thảo phát sóng của Cooper."

"Ông Cleveland, tôi còn chưa được tuyển dụng mà."

"Em đã được tuyển rồi. Tôi vừa nói chuyện với bà Hannes xong. Đợi em photo xong bản thảo đó thì xuống điền đơn."

Madeleine mất năm tiếng mới photo xong bản thảo đó. Cô nộp nó đi, mặc dù làm không được sạch sẽ lắm, nhưng vẫn hy vọng không vì thế mà cắt đứt tiền đồ của mình ở đài phát thanh. Người ở phòng nhân sự nói với cô, lương khởi điểm mỗi tuần là ba mươi lăm đô la, đây quả là một tài sản. Cô mệt đến mức đau lưng nhức mỏi, đến tiệm thuốc ăn một bữa nhanh, bao gồm một cốc sô-cô-la, một miếng thịt xông khói và một cái bánh mì kẹp cà chua, rồi lại quay lại đài phát thanh. Trên bầu trời phía trên tòa nhà cao lớn màu đen ở phố Madison, một vầng trăng tròn mờ ảo nổi lên trên bầu trời mặt trời đã lặn, tòa nhà đầy những ô cửa sổ tỏa ánh vàng. Ngày Hitler phát động chiến tranh này, đã trở thành ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời Madeleine Henry.

Bây giờ, trên bàn của Cleveland đặt hồ sơ phỏng vấn Gary Cooper, đây là một đống bản thảo đánh máy viết nguệch ngoạc, tốc ký và những vạch bút đỏ, trên đó kẹp một mảnh giấy, viết: Tốt nhất tối nay chép xong hết. Mười giờ gặp. Madeleine lầm bầm, cô sắp mệt chết đi được.

Cô gọi một cuộc điện thoại đến ký túc xá sĩ quan độc thân của trường bay Pensacola cho Warren, anh không có ở đó. Một tổng đài viên giọng miền Nam dùng giọng điệu bắt chước người khác trong hài kịch nói, sẵn lòng giúp tìm anh. Trong ban biên tập tin tức đầy khói thuốc, những cô gái cầm dải giấy dài của máy điện tín và cốc cà phê giấy vẫn đi lại không ngừng, những người đàn ông nói chuyện lớn tiếng rất nhanh, máy chữ kêu lạch cạch không dứt. Từ cánh cửa mở rộng, Madeleine nghe thấy một vài tin đồn mâu thuẫn, như: Ba Lan đã tan rã, Hitler đang trên đường tới Warsaw, Mussolini đã bay tới Berlin, Pháp gây áp lực với Anh, muốn thực hiện lại một cuộc giao dịch Munich, Hitler đề nghị muốn thăm Chamberlain, v.v.

Mười giờ, điện thoại reo, là Warren gọi tới, trong ống nghe truyền đến tiếng nhạc và tiếng cười phía sau. Anh nói, anh đang ở câu lạc bộ bên bờ biển, đang tham dự một buổi khiêu vũ dưới ánh trăng trên sân ga vây quanh những cây cọ, anh vừa gặp một cô gái đáng yêu, là con gái của một nghị sĩ. Madeleine kể cho anh nghe chuyện làm việc ở đài phát thanh, anh có vẻ rất vui, ấn tượng rất tốt.

"Này, anh từng nghe chương trình 'Tin tức nhân vật nổi tiếng trong thành phố' rồi," anh nói, "cái gã Hugh Cleveland này giọng cũng truyền cảm đấy. Người thế nào?"

"Ừm, đáng yêu cực kỳ. Anh nói xem thế này có được không? Cha có nổi giận không?"

"Maddy, em không thể quay lại trường sau ba tuần được đâu, ông ấy thậm chí còn chẳng biết nữa là. Em ở đâu?... Ồ, biết rồi, đó là một khách sạn dành cho phụ nữ, anh biết khách sạn đó. Ha! Madeleine nhỏ bắt đầu sống cuộc đời phóng túng rồi à."

"Anh không phản đối?"

"Anh? Tại sao phải phản đối? Anh thấy thế này cũng hay. Chỉ cần nhớ là phải làm một cô gái ngoan. Bên đài CBS có tin tức gì không, Madeleine? Chiến tranh đánh nhau chưa? Ở đây đang có tin đồn là người Anh bỏ chạy rồi."

"Ở đây không có tin gì khác, cũng toàn là tin đồn, một tiếng là một tá. Bạn của anh thực sự là con gái nghị sĩ sao?"

"Tất nhiên, cô ấy là một cô gái quyến rũ."

"Cuộc sống của anh vất vả thật đấy. Học bay thế nào rồi?"

"Lần hạ cánh bay đơn thứ hai của anh, máy bay lật ngược trên mặt đất, đừng nói cho cha biết nhé. Bây giờ anh tiến bộ hơn nhiều rồi. Thật tuyệt vời."

"Tốt lắm, anh vẫn ở đây." Cleveland nói. Chỉ vài phút sau khi họ gọi điện xong, anh đã bước vào văn phòng. Đi cùng anh là một mỹ nhân cao lớn, đội một chiếc mũ cói màu đen, rộng hơn cả của Madeleine; mặc một chiếc váy lụa màu xám, mùi hương hoa dành dành trên người cô ta trong căn phòng nhỏ này có vẻ quá nồng. Cleveland nhìn vài trang Madeleine đánh máy nói: "Cần phải luyện tập thêm, đúng không?"

"Tôi đánh nhiều sẽ quen thôi," giọng cô hơi run, cô hắng giọng.

"Hy vọng vậy. Đúng rồi, em có quen một đô đốc hải quân tên là Preble không? Ông ta có phải là nhân vật cấp cao gì đó không?"

"Preble? Ý ông là Stewart Preble sao?"

"Stewart Preble, đúng rồi. Ông ta là người thế nào?"

"Sao, ông ấy là Bộ trưởng Tác chiến Hải quân đấy."

"Đó là một nhân vật lớn, đúng không?"

Madeleine đã quen với sự thiếu hiểu biết của dân thường về tình hình quân đội, nhưng lần này lại khiến cô kinh ngạc. "Ông Cleveland, trong hải quân không còn ai có chức vụ cao hơn ông ấy nữa."

"Tốt. Vậy ông ấy là người của chúng ta rồi. Tôi vừa nghe nói, ông ấy đang ở khách sạn Warwick. Chúng ta đều để ý đến những khách sạn lớn đấy, Madeleine. Bây giờ chúng ta viết cho ông ấy một lá thư." Anh dựa người vào mép bàn làm việc, bắt đầu đọc cho cô chép. Vị mỹ nhân đang ngáp dài, vắt hai chân đẹp đẽ, châm một điếu thuốc, lật xem tờ "Hollywood Communications". Madeleine cố gắng hết sức để theo kịp anh, nhưng vẫn phải cầu xin anh nói chậm lại một chút.

"Em có biết tốc ký không?"

"Tôi sẽ sớm học được thôi."

Cleveland nhìn đồng hồ, lại nhìn vị mỹ nhân kia, cô ta đang rũ mắt nhìn Madeleine đầy khinh bỉ. Madeleine cảm thấy mình thật là một kẻ đáng thương. Cleveland dùng tay vuốt tóc, lắc đầu. "Này, em biết những nhân vật trong giới hải quân này. Viết cho ông ấy một lá thư là được. Mời ông ấy tham gia chương trình phát sóng vào sáng thứ Năm. Nếu em muốn, hãy nhắc đến Gary Cooper. Ký tên tôi, gửi nó đến khách sạn Warwick, làm được không?"

"Tất nhiên là làm được."

"Tốt lắm. Tôi và Wendy phải đi xem bộ phim mười giờ đây. Trong đó có cảnh quay của cô ấy. Đúng rồi, ông Preble này có quen cha em không? Sao hả, Wendy? Cha của đứa trẻ này là tùy viên hải quân của chúng ta tại Berlin đấy." Wendy ngáp một cái. Madeleine lạnh lùng nói: "Đô đốc Preble quen cha tôi."

"Vậy thì nhắc thêm điểm đó vào, thế nào?" Anh nói với cô bằng nụ cười tinh nghịch đầy thuyết phục. "Tôi thực sự hy vọng mời được ông ấy, Madeleine. Các đô đốc và tướng lĩnh thường là những vị khách tồi. Họ quá thận trọng, cũng quá cổ hủ, lời nói ra chẳng có gì thú vị. Nhưng bây giờ đang đánh trận, nên lúc này họ là người nổi tiếng. Hẹn gặp lại vào sáng mai. Biết không, tôi chín giờ mới đến làm việc, nên em đến đây muộn nhất đừng quá tám giờ."

Đúng như Warren nói với Madeleine, đêm đầu tiên của chiến tranh, anh đã trải qua bằng cách khiêu vũ dưới ánh trăng với con gái xinh đẹp của một nghị sĩ.

Mặt trăng trôi nổi trên cao, cách Trái đất khoảng ba mươi lần đường kính, xuyên qua những đám mây, chiếu sáng mọi sự vật hợp lý và bất hợp lý. Nó từng dùng ánh sáng mờ nhạt và hữu ích chiếu đường cho từng hàng dài những chàng trai Đức trẻ tuổi mặc quân phục xám, những đội ngũ dài hàng dặm đang lê những bước chân mệt mỏi băng qua biên giới Ba Lan. Bây giờ, châu Âu đã xoay về phía mặt trời, khiến người Đức có ánh sáng tốt hơn để tiến hành hoạt động của mình; vào khoảnh khắc này, cùng một vầng trăng ấy, lại tắm ánh sáng của nó lên vịnh Mexico và sân ga của "Câu lạc bộ Ngắm cảng" Pensacola, Bộ Tổng tham mưu Đức từng lập kế hoạch tỉ mỉ để tận dụng ánh trăng, nhưng vầng sáng bạc đó lại rải lên người Warren Henry và Janice Lagouch trong một dịp đầy hân hoan.

Ai cũng nói, đây là buổi khiêu vũ câu lạc bộ tuyệt vời nhất trong nhiều năm qua. Tiêu đề to trên báo, chương trình phát sóng đầy kích động của đài phát thanh đã khiến Pensacola vốn vắng vẻ, yên tĩnh này trở nên sôi động. Các học viên phi công cảm thấy mình càng tuyệt vời hơn, các cô gái cũng thấy họ càng quyến rũ hơn. Chiến tranh còn rất xa, nhưng dù đánh nhau ở nơi xa đến đâu, họ vẫn là quân nhân. Tuy nhiên, những bàn tán về cuộc tấn công của Đức nhanh chóng chuyển sang những chủ đề gần gũi hơn, như: rạp xiếc, tư lệnh căn cứ mới, sự kiện bay gần đây, những chuyện tình ái mới xuất hiện, v.v. Trong mắt những người vui vẻ này, Quốc trưởng vẫn là người đàn ông Đức giọng khàn, thần kinh trong phim thời sự, luôn vung tay điên cuồng, để ria mép hài hước, ông ta dự định gây ra một trận đại loạn ở châu Âu, nhưng hiện tại vẫn chưa dọa được nước Mỹ.

Cách nhìn của Trung úy Henry khác biệt. Anh thực sự rất quan tâm đến cuộc chiến tranh xâm lược này, nên anh đã thu hút sự chú ý của Janice Lagouch ngay từ đầu. Trong trường sĩ quan, anh vượt xa những người khác về vấn đề Thế chiến. Sau khi gặp nhau, họ ngồi xuống góc xa nhất trên sân ga dưới ánh trăng. Vị học viên phi công này không

Nói về chuyện bay lượn, cũng chẳng phải là biểu lộ sự dịu dàng, mà chỉ là đàm luận với nàng về kế hoạch của Schlieffen nhằm chiếm đóng Paris, bàn về sự can thiệp chí mạng của Moltke đối với kế hoạch này, bàn về việc chiến thắng trong trận Tannenberg là nhờ vào công lao của ngành vận tải đường sắt nước Đức, rồi so sánh chiến lược năm 1914 và năm 1939. Ban đầu, anh cũng nói những chuyện phiếm mà cánh phi công hay tán gẫu. Mà những lời này, sau vài năm kết giao bạn bè tại Pensacola, Janice đã nghe đến phát ngán. Thế nhưng, cứ hễ họ chạm đến chủ đề chiến tranh, nàng lại thể hiện kiến thức lịch sử phong phú cùng những quan điểm chính trị sắc bén của mình. Warren cũng trở nên nghiêm túc. Đây là một cuộc trò chuyện đầy kích động. Đôi khi, những người yêu nhau chẳng cần nói một lời thề non hẹn biển nào, vẫn có thể thấu hiểu đối phương từ chính những cuộc đối thoại như thế.

Janice tuy mang chiếc mũi to đặc trưng của dòng họ Lacouture gốc Pháp, răng cửa lại chẳng mấy đều đặn, nhưng vẫn được coi là một trong những mỹ nhân của Pensacola. Đôi môi, làn da và đôi mắt màu nâu nhạt của nàng đều rất đáng yêu, vóc dáng lại vô cùng quyến rũ, khiến cánh đàn ông không thể không nhìn nàng chằm chằm, tựa như đang ngắm nhìn một ngọn lửa. Nàng cao ráo, mái tóc vàng óng ả, giọng nói nũng nịu, cử chỉ hoạt bát đầy sức sống. Gia đình nàng sở hữu ngôi nhà lớn nhất trong phạm vi câu lạc bộ. Nhà Lacouture quả thực giàu có, hai thế hệ nối tiếp nhau làm nghề khai thác gỗ, tàn phá hàng trăm dặm rừng thông ở vịnh Mexico, biến miền Bắc Florida thành vùng sa mạc cát bụi đầy côn trùng. Cha nàng là một nhân vật kỳ lạ ở Pensacola vốn trầm lắng và an phận, cũng là người nhà Lacouture đầu tiên dấn thân vào chính trường.

Janice lớn lên tại Washington, nàng có tầm nhìn xa, lại điềm tĩnh và tỉnh táo. Nàng từng theo học ngành kinh tế và lịch sử Mỹ tại Đại học George Washington, hơn nữa còn dự định vào viện nghiên cứu luật. Nàng hy vọng sẽ kết hôn với một nhân vật tên tuổi: một nghị sĩ Quốc hội, một thượng nghị sĩ, một thống đốc bang; nếu may mắn lấy được một vị tổng thống tương lai thì có gì là không tốt? Điều này đối với những chàng trai trẻ đang mê mệt trước vẻ đẹp và phong thái phóng khoáng của nàng quả thực quá tàn nhẫn. Nàng xuất hiện là để săn tìm "con mồi" lớn, kết quả là nổi tiếng với vẻ lạnh lùng như băng, mà bản thân nàng cũng lấy đó làm thú vui. Yêu cầu thấp nhất của nàng là trong thời gian phải về Pensacola tránh nóng, có thể gặp được một người xứng đáng để quen biết. Vậy mà giữa bao nhiêu người, nàng lại chọn một phi công hải quân! Dù sao đi nữa, Warren Henry cũng có đôi chút khác biệt. Anh có đôi mắt sắc bén, thân hình mảnh khảnh, mái tóc điểm bạc; nụ cười dịu dàng mang theo vẻ thông minh pha chút lãng tử, tất cả những điều đó khiến anh trở nên vô cùng cuốn hút. Mọi cử chỉ của anh, đối với một học viên ưu tú của Annapolis mà nói, có vẻ như quá rành rẽ về phụ nữ. Điều này chẳng những không khiến nàng bất an, mà ngược lại còn làm Warren trở nên đặc biệt hơn.

Một lát sau, họ ngừng tán gẫu, ôm chặt lấy nhau khiêu vũ dưới ánh trăng. Những người Pensacola đứng xem xung quanh bắt đầu dò hỏi lai lịch của vị trung úy hải quân có vết sẹo trên đầu này. Warren bị rách trán khi gặp tai nạn máy bay, phải khâu chín mũi. Những phi công hải quân khác đầy ngưỡng mộ mà thì thầm với nhau về việc cô nàng nhà Lacouture kia là ai.

Khi Warren trở về ký túc xá sĩ quan độc thân, anh thấy hai mẩu giấy ghi lời nhắn của bà Terach để lại. Terach là người phụ nữ mà anh đã chia tay ở Baltimore, năm nay đã ba mươi tuổi, vì cô mà Warren suýt chút nữa bị đuổi khỏi trường sĩ quan. Cái ngày cha mẹ anh đáp tàu đi Berlin, anh đã ở bên người phụ nữ này suốt cả buổi chiều. Warren gặp cô khi đang học năm thứ ba tại trường sĩ quan, lúc đó cô là bà chủ một tiệm trà. Cô đã nhận lời đề nghị táo bạo của anh, đồng ý gặp anh sau khi tiệm trà đóng cửa. Đây là một người phụ nữ nhỏ nhắn thông minh, nhưng số phận hẩm hiu, từng kết hôn với hai người chồng hung bạo. Cô thích đọc sách, yêu nghệ thuật, và đặc biệt là rất đa tình. Warren dần dần yêu cô. Có lần, cô đi nghỉ cuối tuần với một người đàn ông lớn tuổi, Warren ghen tuông dữ dội, thậm chí từng nghĩ đơn giản là sẽ cưới cô. Byron đã vì chuyện này mà nói chuyện nghiêm túc với anh một lần, làm hết sức mình trong vai trò một người anh em. Helen Terach không phải là người đàn bà xấu xa, chỉ là một người cô độc, vì luật pháp quy định các sĩ quan dự bị trẻ tuổi không được phép kết hôn, nên những kẻ trong số họ thích trăng hoa sẽ tìm đến người này hoặc người kia như bà Terach. Sai lầm lớn nhất của Warren là mời cô đến Pensacola, nhưng lúc đó anh vừa từ ngoài biển trở về sau ba năm. Bây giờ cô đang ở khách sạn St. Carlos, làm lễ tân cho nhà hàng lớn.

Nhưng sao cô bỗng trở nên xa vời đến thế! Điều này không chỉ vì sự xuất hiện của Janice Lacouture, mà việc Hitler xâm lược Ba Lan cũng đã khiến tương lai trở nên cụ thể hóa. Warren cho rằng chỉ trong vòng một năm nữa Mỹ sẽ tham chiến, tiền đồ sẽ vô cùng xán lạn. Anh có thể bị giết, nhưng trong cuộc chiến này anh sẽ được bay, nếu may mắn, anh còn có thể có một hồ sơ chiến đấu xuất sắc. Warren là người tin vào Chúa, nhưng anh cho rằng Chúa còn bao dung hơn nhiều so với những gì các giáo sĩ rao giảng. Một vị thần có thể tạo ra thứ kỳ diệu như "tình dục" sẽ không quá cứng nhắc về nó đâu. Trung úy hải quân Henry đang ngồi trong căn phòng bài trí đơn giản, với trần nhà kiểu cũ cao vút, cố gắng phớt lờ tiếng ngáy của bạn cùng phòng, nhìn ra ngoài cửa sổ, chăm chú dõi theo bãi cỏ tĩnh lặng tràn ngập ánh trăng bên ngoài ký túc xá, mơ màng về những năm tháng vàng son sau chiến tranh.

Chính trị có sức hấp dẫn lớn đối với anh. Những kiến thức lịch sử mà anh thu nạp được khiến anh hiểu rằng trong chiến tranh, chính trị gia là người lãnh đạo, còn quân nhân chỉ là những người thợ. Warren đã quan sát kỹ lưỡng những chính trị gia đến thăm trường quân sự và hạm đội. Một số người trong đó giống như cha anh, để lại ấn tượng sâu sắc; nhưng phần lớn lại là những gã cười nói hớn hở, với ánh mắt lo âu, nụ cười giả tạo và chiếc bụng phệ. Anh biết, tham vọng của cha là trở thành tướng lĩnh hải quân. Warren cũng có mong muốn đó, nhưng tại sao không nghĩ xa hơn một chút nhỉ? Janice Lacouture rất thông minh, nàng hiểu mọi chuyện. Chỉ trong một ngày, cuộc đời của Warren Henry đã hoàn toàn thay đổi, buổi sáng chiến tranh đã phơi bày tương lai cho anh, buổi tối một người bạn đời hoàn hảo lại từ trên trời rơi xuống.

Anh làm một việc kỳ quặc. Anh đi đến bên cửa sổ, ngắm nhìn ánh trăng trên bầu trời và lẩm bẩm cầu nguyện một lúc, giống như hồi nhỏ anh vẫn thường làm khi cùng cha đến nhà thờ.

"Chúa hãy phù hộ cho con có được nàng; phù hộ cho con vượt qua kỳ thi này, trở thành một phi công hải quân xuất sắc. Con không cầu Người phù hộ cho con sống sót, con biết điều đó sẽ phụ thuộc vào bản thân con và vào vận mệnh, nếu con thực sự có thể sống sót qua cuộc chiến này, vậy thì—" anh mỉm cười với bầu trời đêm đầy sao—"được rồi, vậy thì chúng ta hãy chờ xem. Được không ạ?" Warren đang lấy lòng Chúa.

Anh không gọi điện cho bà Terach mà lên giường đi ngủ. Cô luôn chờ đợi điện thoại của anh. Nhưng bây giờ, đối với anh, cô giống như một người nào đó quen biết từ thời trung học vậy.

Buổi sáng, chưa đầy sáu giờ, cuộc điện thoại từ Đại sứ quán đã đánh thức Victor Henry. Do chiến tranh bùng nổ, Đại biện lâm thời triệu tập nhân viên sứ quán họp khẩn cấp.

Rhoda lầm bầm trở mình, vắt cánh tay trắng ngần lên mắt. Pug vén chăn, một tia nắng lọt qua khe rèm, chiếu ngang lên giường, những hạt bụi nhỏ nhảy múa trong cột sáng nhợt nhạt. Ngày Hitler ra tay thời tiết thật đẹp, Pug mơ màng nghĩ, đúng là vận may của thằng khốn đó! Tin tức về cuộc xâm lược không gây ngạc nhiên. Kể từ khi Đức Quốc xã và Liên Xô ký hiệp ước, tình hình Ba Lan đã tụt dốc không phanh. Tối hôm trước, tại bữa tiệc tối trọng thể ở Đại sứ quán Argentina, mọi người đều nhận thấy các nhân vật quân sự và quan chức ngoại giao Đức đã không có mặt, và ai nấy đều bàn tán về chiến tranh. Một phóng viên Mỹ đã nói thẳng với Pug rằng cuộc xâm lược diễn ra vào lúc ba giờ sáng. Gã đó thật thạo tin! Thế giới đã vượt qua lằn ranh đỏ của thời gian. Victor Henry nhảy xuống giường, đi làm việc cho một thời đại mới. Đây chưa phải là cuộc chiến của anh, không phải cuộc chiến mà anh đã được huấn luyện cả đời để sẵn sàng tham gia, cuộc chiến này vẫn chưa thực sự bắt đầu. Nhưng anh tin chắc rằng nó sẽ sớm nổ ra thôi. Mặc dù không cảm thấy ngạc nhiên, nhưng anh vẫn rất phấn khích và kích động.

Anh mở đài trong phòng làm việc, nó mất một lúc lâu mới nóng máy. Anh lại mở cửa sổ lớn. Chim chóc hót vang trong khu vườn rực rỡ ánh nắng, một làn gió nhẹ thổi qua, mang theo hương thơm nồng nàn của bụi hoa đỏ thắm bên cửa sổ. Chiếc đài kêu vo ve, lách tách một lúc rồi một phát thanh viên bắt đầu đưa tin. Nghe chẳng khác gì bất kỳ phát thanh viên nào ở Berlin vào tuần trước, lúc đó chỉ toàn nói về những "tội ác khó tin" đối với người Đức ở Ba Lan, như: cưỡng hiếp, giết người, mổ bụng phụ nữ mang thai, chặt tay chân trẻ em, v.v. Thực tế, sau tràng luyên thuyên rùng rợn kéo dài đó, tin tức về chiến tranh bùng nổ nghe gần như nhạt nhẽo. Giọng nói vẫn chói tai như vậy, vẫn đầy vẻ chính nghĩa như vậy, mô tả quyết định tiến quân của Quốc trưởng cũng giống như khi lên án tội ác vậy.

Về việc người Ba Lan tấn công Gleiwitz, đi chiếm một đài phát thanh của Đức—theo đài phát thanh đưa tin, tội ác này đã khiến quân đội Đức phái hơn hai triệu quân tiến vào Ba Lan để "tự vệ"—cũng được phát đi với tông giọng nghiêm túc nhẹ nhàng tương tự, giống như đưa tin quân Đức tiến sâu vào lãnh thổ Ba Lan, quân biên phòng Ba Lan đột ngột tan rã. Rõ ràng, một cuộc tấn công quy mô lớn như vậy phải mất hơn một tháng mới chuẩn bị xong, và thực tế đã lao vào Ba Lan từ mấy ngày trước rồi. Nói Ba Lan "tấn công" chỉ là trò lừa bịp trẻ con. Victor Henry đã quen với kiểu luận điệu nhập nhằng trộn lẫn sự thật và dối trá của đài Berlin, nhưng sự khinh miệt của Đức Quốc xã đối với trí tuệ người Đức vẫn khiến anh kinh ngạc. Kiểu tuyên truyền này tất nhiên đã đạt được một mục đích—làm dịu đi cú sốc của cuộc chiến tranh mới này đối với người dân.

Rhoda ngáp dài, thắt dây áo ngủ đi vào, cô quay đầu về phía đài phát thanh. "Cái gì! Ông ta thực sự ra tay rồi à. Kinh khủng thật!"

"Xin lỗi, làm em thức giấc rồi. Anh đã cố gắng vặn nhỏ tiếng rồi đấy."

"Ồ, là điện thoại làm em thức giấc mà. Từ sứ quán phải không?" Pug gật đầu.

"Em cũng nghĩ vậy. Ừm, em đoán mình nên dậy nghe ngóng tin tức. Chúng ta sẽ không bị cuốn vào chứ?"

"Khó lắm. Anh thậm chí không chắc liệu Anh và Pháp có tham chiến hay không."

"Còn bọn trẻ thì sao, Pug?"

"Ồ, Warren và Madeline sẽ không có vấn đề gì đâu. Có tin đồn là Ý không muốn đánh nhau, nên Byron cũng sẽ không sao."

Rhoda thở dài, lại ngáp một cái. "Hitler đúng là một kẻ kỳ quặc, em rút ra kết luận như vậy. Ông ta làm việc kiểu gì thế nhỉ! Em thích sự thẳng thắn và nam tính khi ông ta bắt tay người khác, khá giống người Mỹ; còn cả nụ cười quyến rũ, e lệ đó nữa, nhưng đôi mắt ông ta rất kỳ lạ, anh không thấy thế sao? Luôn rất lạnh lùng, hơi khó đoán. Đúng rồi, bữa tiệc tối chúng ta tổ chức cho nhà công nghiệp đến từ Colorado thì sao? Tên ông ta là gì ấy nhỉ? Còn tổ chức nữa không?"

"Tên là Tiến sĩ Kirby. Bây giờ có lẽ ông ấy không đến đây được nữa rồi, Rhoda."

"Anh yêu, làm ơn hãy xác nhận cho chắc chắn. Anh biết đấy, em có khách đến, còn mời cả trợ lý, chuẩn bị cả đồ ăn nữa."

"Anh sẽ cố gắng hết sức." Rhoda chậm rãi nói: "Chiến tranh thế giới thứ hai... anh biết đấy, tạp chí *Time* đã không ngừng nói về chiến tranh thế giới thứ hai mấy tháng nay rồi. Nhìn chung cứ thấy như không thực tế vậy. Bây giờ chẳng phải đã đánh nhau rồi sao? Nhưng cứ cảm thấy hơi buồn cười."

"Em sẽ sớm quen thôi."

"Ồ, tất nhiên rồi, chiến tranh đã nổ ra. Lẽ ra em phải đi ăn trưa cùng Sally Forrest. Tốt nhất là em nên hỏi rõ xem bữa tiệc trưa của cô ấy có còn tổ chức không. Thật tệ quá! Giờ hẹn làm tóc của em—à, đúng rồi, là ngày mai. Hay là hôm nay nhỉ? Giờ này buổi sáng đầu óc em chẳng bao giờ dùng được cả."

Vì cuộc họp bắt đầu sớm, Pug từ bỏ quãng đường đi bộ năm dặm quý giá đến sứ quán vào buổi sáng, mà lái xe đi. Nếu nói Berlin có gì thay đổi, thì đó là nó yên tĩnh hơn thường lệ. Các đại lộ ở trung tâm thành phố mang vẻ cảnh tượng ngày Chủ nhật, ít xe cộ qua lại, người đi bộ trên vỉa hè cũng không nhiều. Tất cả các cửa hàng đều mở cửa. Một số ngã tư đỗ vài chiếc xe tải nhỏ, trên đó đặt súng máy, chở đầy những binh lính đội mũ sắt. Công nhân đang chất bao cát dọc theo tường các tòa nhà công cộng, nhưng tất cả những hành động này dường như đều chẳng có mục đích gì cụ thể. Các quán cà phê chật kín người ăn sáng, những người đi dạo sớm trong vườn thú—bảo mẫu, trẻ em, người già—đều ra ngoài như thường lệ khi thời tiết đẹp, những người bán bóng bay đồ chơi và kem cũng đến. Loa phát thanh vang lên oang oang tin tức; một số lượng lớn máy bay hiếm thấy bay vù vù qua bầu trời, người dân Berlin đều ngẩng đầu nhìn lên trời, rồi nhìn nhau cười khổ bất lực. Henry còn nhớ cảnh tượng người dân Berlin hân hoan đổ xô ra đại lộ Unter den Linden khi cuộc chiến tranh trước bùng nổ, rõ ràng người Đức đang tham gia cuộc chiến này với một tâm trạng khác hẳn.

Đại sứ quán trở thành một xoáy nước của những du khách sợ hãi và những người tị nạn tương lai—chủ yếu là người Do Thái lớn tuổi. Trong văn phòng yên tĩnh, rộng rãi của Đại biện lâm thời, cuộc họp nhân viên sứ quán diễn ra tẻ nhạt và ngắn gọn. Washington vẫn chưa có chỉ thị đặc biệt. Mọi người chuyền tay nhau xem cuốn sổ tay quy định thời chiến được in bằng giấy nến. Đại biện yêu cầu mọi người đặc biệt chú ý giữ giọng điệu trung lập chính xác. Nếu Anh và Pháp tham chiến, Đại sứ quán Mỹ có thể còn phải chăm sóc những công dân Anh và Pháp đang lưu lạc tại Đức. Những hành động thích hợp của Mỹ đối với nước Đức man rợ trong thời điểm rắc rối này có liên quan đến tính mạng của rất nhiều người. Sau cuộc họp, Victor Henry bắt đầu xử lý một khay hồ sơ đầy ắp tại văn phòng của mình, bảo thư ký tìm cách liên lạc với Tiến sĩ Baum Kirby, vị kỹ sư điện đến từ Colorado, ông ta mang theo một chỉ thị "vất kỳ quan trọng" từ Cục Quân khí.

Alistair Tudsbury gọi điện đến. "Này, thằng khốn đó sắp giải trình trước Nghị viện Đế quốc, anh có muốn nghe không? Tôi có thể đưa anh vào khu vực báo chí. Đây sẽ là bài báo cuối cùng tôi viết ở Berlin. Tôi đã lấy được giấy phép rời khỏi nơi này, mấy ngày trước đã nên đi rồi, nhưng vì ốm nên bị trì hoãn. Lần trước dẫn tôi đi xem căn cứ Swinemünde, tôi vẫn còn nợ anh đấy."

"Anh chẳng nợ tôi gì cả, nhưng tôi nhất định sẽ đến."

"Được. Ba giờ ông ta bắt đầu nói. Pam hai giờ đến đón anh. Chúng tôi đang thu dọn đồ đạc như những kẻ điên vậy. Hy vọng chúng ta không bị chặn lại ở đây, đều tại loại thức ăn Đức này làm tôi đau khớp." Thư ký bước vào đặt một bức điện lên bàn.

"Tudsbury, tôi mời anh và Pamela ăn trưa được không?"

"Không, không, không có thời gian đâu. Cảm ơn anh nhiều. Sau lần rắc rối nhỏ này có lẽ được. Khoảng năm 1949 vậy." Pug cười lớn. "Mười năm? Anh đúng là kẻ bi quan."

Anh mở bức điện ra xem, giật nảy mình. "Có biết con trai ông và cháu gái tôi Natalie hiện ở đâu không, xin điện báo hoặc gọi điện", phía dưới ký tên là "Aaron Jastrow", cùng với địa chỉ và số điện thoại ở Siena. Pug rung chuông gọi thư ký, đưa bức điện cho anh ta và nói: "Kết nối với Siena, tìm người này nghe điện thoại. Đồng thời đánh một bức điện cho ông ta: Không biết, xin điện báo lại hành trình cuối cùng của họ."

"Vâng, thưa ông."

Anh quyết định chưa nói cho Rhoda biết. Anh cố gắng tiếp tục công việc nhưng phát hiện ra ngay cả bức thư đơn giản nhất cũng không đọc nổi. Anh gác công việc lại, nhìn ra ngoài cửa sổ những người Berlin đi lại dưới ánh nắng rực rỡ. Những chiếc xe tải chở đầy binh lính Đức mặc quân phục xám nối đuôi nhau chạy trên đường phố, tiếng động ầm ầm, những người lính đều lộ vẻ mệt mỏi. Một chiếc khinh khí cầu nhỏ màu bạc lướt qua bầu trời xanh, phía sau kéo theo một quảng cáo kem đánh răng Odol. Anh cố nén nỗi lo âu của mình, lại xử lý tiếp hồ sơ trong khay.

Anh vừa định rời văn phòng đi ăn trưa thì chuông điện thoại reo. Anh nghe thấy đầu tiên là tiếng nói chuyện hỗn tạp bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, sau đó một người Mỹ có học thức, hơi có giọng địa phương nói: "Có phải Trung tá Henry không? Tôi là Aaron Jastrow. Rất cảm ơn anh đã gọi điện cho tôi."

"Tiến sĩ Jastrow, tôi nghĩ tốt nhất là tôi nên nói ngay với ông rằng, tôi không biết Byron và cháu gái ông đang ở đâu. Tôi hoàn toàn không nghĩ rằng họ không ở Siena cùng ông."

"Ồ, vốn dĩ tôi chưa quyết định đánh điện cho anh, nhưng tôi nghĩ anh có thể giúp tìm họ. Hai tuần trước họ đã đến Warsaw rồi."

"Warsaw!"

"Đúng vậy, đến thăm một người bạn, cậu ấy làm việc trong sứ quán của chúng ta tại Ba Lan."

"Tôi sẽ liên lạc với bên đó ngay lập tức. Ý ông là sứ quán của chúng ta, đúng không?"

"Đúng, là Bí thư hạng hai Leslie Slote, học trò cũ của tôi, một chàng trai đầy triển vọng. Tôi từng nghĩ cậu ấy và Natalie sẽ kết hôn vào một ngày nào đó." Pug vội vàng ghi lại cái tên đó. Jastrow ho lên. "Xin lỗi anh. Tôi nghĩ chuyến đi này khá mạo hiểm, nhưng họ đi trước khi hiệp ước được ký kết. Con bé hai mươi bảy tuổi rồi, nó có chủ kiến riêng. Byron tự nguyện đi cùng con bé, nên tôi hoàn toàn không lo lắng gì cả, cậu ấy là một thanh niên rất có năng lực."

Victor Henry bị tin tức này làm cho choáng váng, nhưng nghe thấy lời khen ngợi Byron, anh vẫn thấy rất vui, nhiều năm rồi anh cũng không nghe được nhiều lời tốt đẹp như vậy. "Cảm ơn ông. Tôi nghe ngóng được tin tức gì sẽ đánh điện cho ông ngay. Nếu ông có tin gì, cũng xin báo cho tôi biết."

Jastrow lại ho. "Xin lỗi, tôi bị viêm phế quản. Chiến tranh thế giới lần trước tôi vẫn nhớ như in, Trung tá! Thật như không trôi qua bao lâu, phải không? Tất cả những điều này mang lại cho tôi một cảm giác bi thương kỳ lạ, khủng khiếp, gần như là tuyệt vọng. Tôi hy vọng chúng ta có thể gặp nhau một ngày nào đó, được làm quen với cha của Byron, tôi sẽ rất vui. Cậu ấy rất ngưỡng mộ anh."

Chiếc bàn dài ở nhà hàng Horcher là một trạm nghe ngóng, một sàn giao dịch tin tức, một nơi trao đổi những chuyện nhỏ nhặt trong ngoại giao. Hôm nay, trong nhà hàng đông đúc này, tiếng lách cách dễ chịu của bộ đồ ăn bằng bạc, hương thơm của thịt nướng, những cuộc trò chuyện sôi nổi ồn ào vẫn như cũ. Nhưng tại cái bàn đặc biệt này thì đã có thay đổi. Một vài võ quan sứ quán đã mặc quân phục. Gã người Ba Lan có khuôn mặt tím đỏ vui vẻ, để râu quai nón, tửu lượng cao đã đi mất. Gã người Anh cũng không thấy đâu. Vị võ quan Pháp đeo dải băng vàng thô kệch ngồi trên chỗ quen thuộc của mình vẻ đầy ưu tư. Trong số những người này, người lớn tuổi nhất, gã béo người Đan Mạch tóc trắng xóa, hài hước, vẫn mặc bộ vest trắng vải lanh đó, nhưng cũng cứng đờ ở đó, không nói một lời. Cuộc trò chuyện rất gượng gạo. Đài Warsaw gào thét quân Đức đã bị đánh lui, nhưng không ai có thể xác nhận. Ngược lại, các bản tin tóm tắt từ thủ đô của họ đều giống như những gì người Đức khoe khoang: thắng lợi ở khắp nơi, hàng trăm máy bay Ba Lan bị tiêu diệt trên mặt đất, toàn bộ quân đội bị bao vây. Pug ăn một chút rồi rời đi ngay.

Pamela Tudsbury tựa vào hàng rào sắt trước cửa sứ quán, gần những người Do Thái mang vẻ mặt u sầu đang xếp hàng dài dọc theo con phố. Cô mặc bộ quần áo màu xám mà họ đã mặc khi đi dạo trên tàu "Bremen" sáng hôm đó. "Được rồi," khi họ đi song song bên nhau, anh nói, "thằng nhãi con cuối cùng cũng ra tay rồi."

Cô ngạc nhiên mà đắc ý nhìn anh một cái. "Ông ta đã ra tay rồi! Xe của chúng ta ở đây. Bài diễn văn kết thúc là chúng ta xuất phát. Sáu giờ chúng ta bay đi Copenhagen. Cũng may là kiếm được ghế, khó như tìm kim cương vậy."

Cô căng thẳng lái chiếc xe mui trần lượn lách trong các con hẻm, tránh đoàn xe tăng dài dằng dặc trên đường lớn.

"Phải, thấy cô và cha cô sắp đi, cảm thấy rất đáng tiếc." Pug nói, "Tôi chắc chắn sẽ nhớ cái kiểu lái xe đầy nhiệt huyết này của cô. Sau này hai người đi đâu?"

"Tôi đoán là về Mỹ. Cha rất thích nơi đó. Thực tế đây sẽ là nơi tốt nhất, vì Berlin không vào được nữa rồi."

"Pamela, cô đi đi lại lại như vậy, chẳng lẽ ở London không có một bạn trai—hoặc vài bạn trai—phản đối sao?" Cô gái này—anh nhìn cô như vậy, điều này cho thấy anh là người lớn tuổi—đỏ mặt, đôi mắt ánh lên vẻ rạng rỡ. Đôi bàn tay trắng trẻo của cô thao tác lái xe nhanh nhẹn, khéo léo và vững vàng. Trên người cô tỏa ra một mùi hương dịu dàng, pha chút nồng nàn, giống như mùi hương của hoa cẩm chướng Hà Lan.

"Ồ, bây giờ vẫn chưa có, Trung tá. Vì mắt cha không được tốt lắm, ông không rời tôi được. Tôi lại thích đi du lịch, nên tôi rất sẵn lòng—ôi chao! Nhìn bên trái của ông kìa. Đừng quá lộ liễu."

Đèn chuyển màu. Chiếc xe màu đỏ lao vút đi, cảnh sát chào hắn, Göring cười cười vẫy tay.

"Vừa rồi nếu bắn chết hắn thì dễ biết bao." Pamela nói.

Pug đáp: "Những tên Quốc xã này thật khó hiểu. Các biện pháp an ninh của chúng quá lỏng lẻo. Ngay cả xung quanh Hitler cũng vậy. Tóm lại, chúng đã giết quá nhiều người rồi."

"Người Đức sùng bái chúng. Cha tôi chính vì buổi phát thanh trong ngày hội Đảng Quốc xã ở Nuremberg mà gặp rắc rối. Ông nói, ai cũng có thể giết Hitler, việc hắn cứ thản nhiên đi lại khắp nơi chính là minh chứng cho thấy người Đức ủng hộ hắn đến mức nào. Không hiểu sao buổi phát thanh đó lại khiến chúng nổi giận."

"Pamela, tôi có một đứa con trai, hy vọng khi cô đến Mỹ sẽ được gặp nó." Ông giới thiệu Byron với cô.

Cô gái nghe xong cười tinh nghịch: "Ông đã nhắc đến anh ấy với tôi rồi. Nghe có vẻ như anh ấy cao hơn tôi một chút. Rốt cuộc anh ấy trông thế nào? Có giống ông không?"

"Chẳng giống chút nào. Nó khá đẹp trai, người rất lợi hại, nhưng lại rất có sức hút với phụ nữ."

"Thật sao? Ông không còn người con trai nào khác à?"

"Có, tôi còn một đứa con trai nữa." Ông ngập ngừng một lát, sau đó kể sơ lược cho Pamela nghe chuyện ông vẫn chưa nói với vợ: Khi người Đức xâm lược, Byron đang ở đâu đó tại Ba Lan, đi cùng một cô gái Do Thái đã có người yêu. Pug nói, Byron có thể khéo léo thoát khỏi tình thế khó khăn, nhưng đợi đến khi con trai ông bình an vô sự, chắc ông phải mọc thêm vài sợi tóc bạc mất.

"Người này tôi lại muốn gặp thử xem."

"Với cô thì nó còn quá trẻ."

"Ồ, chưa chắc. Tôi chưa bao giờ gặp ai là đối thủ của mình cả. Cha ở đằng kia kìa." Tudsbury đang đứng ở một góc phố vẫy tay. Ông ta bắt tay rất mạnh. Ông ta mặc bộ đồ vải tweed kiểu Scotland, trong thời tiết này có vẻ hơi dày, trên đầu còn đội một chiếc mũ nhung xanh.

"Anh đến rồi, người bạn thân mến! Lại đây nào. Pam, bốn giờ chiều cô đến góc phố này đợi nhé, được không? Lần này sẽ không phải là bài diễn văn ba tiếng đồng hồ kiểu của ông ta đâu. Tên khốn này dạo gần đây ngủ không đủ giấc."

Một thanh niên Đức mặc thường phục tiến lại gần, đứng nghiêm chào "cạch" một tiếng trước mặt Pug, dẫn họ đi qua hành lang trước mặt lực lượng SS, lên cầu thang, tiến về phía khu vực báo chí nhỏ chật kín người của Nhà hát Kroll. Quốc xã mượn nhà hát này để tổ chức hội nghị quốc hội. Phía sau bục phát biểu, một con đại bàng vàng cách điệu đậu trên chữ A bao quanh bởi vòng nguyệt quế, ánh vàng tỏa ra xung quanh vẽ kín cả bức tường. Cảnh tượng này nhìn trên ảnh thì rất oai phong, nhưng khi tận mắt chứng kiến, chỉ thấy vừa lòe loẹt vừa tầm thường — khá phù hợp làm phông nền cho một nhà hát opera. Kiểu bầu không khí thay đổi thất thường đầy kịch tính và lắp ghép chương trình vội vã này chính là một đặc điểm của Quốc xã. Tòa nhà quốc hội mới đang trong quá trình xây dựng, để phù hợp với khẩu vị của Hitler, nó to lớn đến mức thô kệch, những cây cột kiểu Doric to lớn kia rõ ràng là bằng đá, nhưng toàn bộ tòa nhà làm Pug liên tưởng đến một bộ bối cảnh phim làm bằng bìa cứng.

Giống như đa số người Mỹ, ông vẫn chưa thể nhìn nhận nghiêm túc những tên Quốc xã này, hay nói chính xác hơn, là chưa thể nhìn nhận nghiêm túc những người Đức này. Ông nghĩ, họ làm việc với sự kiên trì và chăm chỉ đáng kinh ngạc, nhưng lại đang tự lừa dối chính mình. Đức là một quốc gia không ổn định, vừa cũ vừa mới. Một vài nơi có vẻ đẹp Baroque đậm đà, những nơi khác lại có nền công nghiệp nặng như Pittsburgh; bề ngoài là uy thế chính trị ngạo mạn đáng sợ, ra sức nhồi nhét nỗi kinh hoàng, kết quả lại vô cùng nực cười. Điều này khiến ông bàng hoàng. Xét về cá nhân, người Đức và người Mỹ rất giống nhau. Ông thấy kỳ lạ là cả hai dân tộc đều lấy ma quỷ làm quốc huy. Người Đức cũng là loại người có tham vọng sự nghiệp: thẳng thắn, có khiếu hài hước thô kệch, và thường là đáng tin cậy, thạo việc. Xét từ những khía cạnh này, Trung tá Henry khi ở cùng họ cảm thấy thoải mái hơn so với khi ở cùng những người Anh chậm chạp hay những người Pháp nói năng vòng vo. Nhưng với tư cách là một chỉnh thể, họ dường như biến thành những kẻ xa lạ xấu xa, dễ bị lừa gạt, và có chút hung tàn. Nếu bạn nói chuyện chính trị với một người Đức riêng lẻ, anh ta sẽ biến thành kẻ xa lạ ấy, một Mr. Hyde ngạo mạn vô lý của một quốc gia đang có chiến tranh. Họ khiến người ta khó mà thấu hiểu. Pug biết, trong một châu Âu suy đồi về đạo đức, đám lính Đức được huấn luyện nghiêm ngặt, trang bị thiện chiến đang tiến về phía trước này đang gây ra biết bao tai họa, và lực lượng không quân khổng lồ mà chúng vội vã xây dựng, ông dám khẳng định lúc này đang gầm rú trên đầu người Ba Lan.

Các đại biểu tiến về chỗ ngồi của mình. Đa số họ mặc quân phục, nhưng màu sắc và dây trang trí đủ loại, chỉ có thắt lưng và ủng là giống nhau. Từ thái độ nghề nghiệp của họ, rất dễ nhận ra ai là quân nhân. Các quan chức trong đảng mặc quân phục trông cũng giống như bất kỳ chính trị gia nào khác — vui vẻ, thư thái, phần lớn là tóc đã hoa râm hoặc hói đầu — bộ quần áo sang trọng bó chặt lấy cơ thể, mặc dù đi ủng cao cổ với bàn chân phẳng và thắt lưng vũ trang trên cái bụng phệ rất khó chịu, nhưng họ rõ ràng đã đạt được niềm vui của dân tộc Teuton trong sự phô trương thanh thế. Thế nhưng hôm nay, những tên Quốc xã chuyên nghiệp này dù cố giả bộ hiếu chiến, nhưng trông không được phấn chấn như mọi khi. Cả hội trường bao trùm một bầu không khí áp lực.

Göring xuất hiện. Victor Henry từng nghe người ta nói gã béo này thay trang phục rất nhanh, lần này coi như tận mắt chứng kiến. Göring mặc bộ quân phục màu xanh da trời gắn đầy huân chương, ve áo màu vàng nhạt lấp lánh. Hắn đi qua sân khấu, đứng xoạc chân ở đó, hai tay chắp sau lưng chỗ thắt lưng da, nghiêm túc trò chuyện với một nhóm tướng lĩnh và đảng viên Quốc xã đầy cung kính. Một lát sau, hắn ngồi vào ghế diễn giả. Tiếp đó, Hitler đơn giản bước vào, tay cầm một chiếc túi da màu đỏ, bên trong là bản thảo bài phát biểu. Không có màn kịch tính long trọng như cách hắn bước vào hội nghị của đảng. Tất cả đại biểu đứng dậy vỗ tay, vệ binh đứng nghiêm chào. Hắn ngồi xuống giữa các tướng lĩnh và thành viên nội các ở hàng ghế đầu trên sân khấu. Khi Göring đọc bài diễn văn khai mạc ngắn gọn trang trọng, hắn lúc thì vắt chéo chân, lúc lại đặt xuống.

Henry cảm thấy bài diễn thuyết của Quốc trưởng tệ hại hết chỗ nói. Hắn đã mệt mỏi rã rời. Trong bài diễn văn, hắn nhắc lại tội lỗi của Versailles, sự đối xử bất công của các cường quốc khác đối với Đức, nỗ lực không ngừng nghỉ của bản thân hắn trong việc tranh thủ hòa bình và cuộc chiến tranh đẫm máu của người Ba Lan. Những điều này gần như đều được nói bằng giọng điệu cá nhân của hắn, và tràn đầy vẻ bi quan kỳ lạ. Hắn nói đến khả năng bản thân tử trận trên chiến trường; nói về những người thừa kế sau khi hắn chết — Göring và Hess; hắn gào thét rằng năm 1918 sẽ không lặp lại, lần này nước Đức nhất định phải thắng, nếu không sẽ đánh đến cùng. Giọng hắn rất khàn, phải một lúc sau mới phối hợp được với những cử chỉ kỳ quái, nhưng cuối cùng hắn cũng làm được. Tudsbury có lần ghé tai Henry thì thầm: "Màn trình diễn hôm nay thật chết tiệt, không tệ chút nào." Nhưng Pug lại cho rằng đó là trò hề nực cười.

Lần này Hitler lại để lại cho ông ấn tượng rất sâu sắc. Mặc dù màn trình diễn của hắn rất vụng về, nhưng con người này là một cơn bão có ý chí kiên cường, tất cả người Đức đều mở to mắt, ngồi đó với vẻ mặt căng thẳng, như những đứa trẻ đang xem ảo thuật gia biểu diễn. Göring ngồi ở vị trí cao hơn phía sau Hitler, khuôn mặt ngạo mạn, khinh khỉnh đó cũng mang theo vẻ điên cuồng, sợ hãi tương tự.

Pug cảm thấy, do nội dung bài diễn thuyết quá nghiêm trọng và quan trọng, nên Quốc trưởng nói chuyện có phần lảm nhảm. Bản thảo này nghe như được thức trắng đêm để viết vội, màu sắc cá nhân quá đậm đặc, có lẽ chính nhờ sự gấp rút này mà nó lại có vẻ chân thực hơn. Những tiếng gào thét "tôi - tôi", những lời biện bạch như tiếng gầm rú này, chắc chắn là một trong những tài liệu quan trọng nực cười nhất trong lịch sử chiến tranh.

Trong mắt người Mỹ như Pug, tướng mạo của Quốc trưởng vẫn rất buồn cười: cái mũi nhọn dài và thẳng đó là một miếng thịt hình tam giác vuông nhô ra từ khuôn mặt trắng bệch với cái cằm đôi, nằm ngay dưới lọn tóc đen rủ xuống và phía trên bộ ria mép kiểu hề. Hôm nay hắn mặc một chiếc áo khoác màu xám xanh — cái mà hắn gọi trong bài phát biểu là "áo khoác cựu chiến binh" của mình — không nghi ngờ gì là cực kỳ không vừa vặn. Nhưng đôi mắt hơi sưng húp trừng lớn, cái miệng mím chặt kéo xuống, cái kiểu vung tay đầy uy phong đó vẫn có chút đáng sợ. Pug thầm nghĩ, gã trọc phú kỳ lạ xuất thân từ khu ổ chuột Vienna này, đúng là đã thành công thật. Hắn đã tự leo lên ngai vàng liên hợp của vương triều Hohenzollern và Hoàng đế Đế quốc La Mã Thần thánh, mưu toan lật ngược hoàn toàn kết quả của cuộc đại chiến trước. Bây giờ hắn đang đưa ra những lời hứa hẹn. Gã lưu manh này vẫn tiếp tục nói. Đầu óc Pug lại chuyển hướng sang Byron, nó đang ở đâu đó tại Ba Lan, là một nhân vật nhỏ bé không đáng kể trong vở kịch lớn này. Họ bước ra ngoài đường phố đầy nắng dịu, Tudsbury hỏi: "Này, anh thấy thế nào?"

"Tôi không cho rằng hắn có gì ghê gớm."

Tudsbury lập tức dừng bước, mắt liếc nhìn ông: "Tôi nói cho anh biết, hắn đủ ghê gớm đấy. Tất cả chúng ta đã sai lầm quá lâu về vấn đề này rồi."

"Hắn muốn chinh phục cả thế giới," Pug nói, "hắn lấy gì để chinh phục đây?"

"Dựa vào tám mươi triệu người Đức được vũ trang tận răng, đi cướp bóc khắp nơi."

"Đó chỉ là nói suông thôi. Các anh và người Pháp đều vượt trội hơn hắn về nhân lực và vũ khí."

"Người Pháp —" Tudsbury nói xong lập tức thêm vào bằng giọng vui vẻ hơn: "Pam đến rồi. Để chúng tôi đưa cô về đại sứ quán bằng xe."

"Tôi tự đi bộ về."

Chiếc xe dừng lại dưới lá cờ chữ A màu đỏ đang bay phấp phới. Tudsbury bắt tay Henry, nháy mắt với ông sau cặp kính dày như đít chai.

"Chúng ta sắp diễn một vở kịch, Henry, nhưng có lẽ cần người giúp đỡ. Muốn ngăn chặn gã này phải tốn không ít công sức. Nhưng anh biết đấy, nhất định phải làm vậy."

"Hãy nói điều này với những người ở Washington ấy."

"Anh nghĩ là tôi sẽ không nói sao? Anh cũng phải nói với họ đấy." Henry nói qua cửa sổ xe: "Tạm biệt, Pam. Thượng lộ bình an."

Cô chìa bàn tay trắng trẻo mát lạnh ra, mỉm cười u sầu. "Hy vọng ông có thể sớm gặp lại con trai mình. Tôi cảm thấy chắc chắn ông sẽ gặp được anh ấy." Chiếc Mercedes lăn bánh đi. Pug châm một điếu thuốc, cảm thấy trên tay vẫn còn vương lại hương thơm thoang thoảng của hoa cẩm chướng Hà Lan.

Phòng ngoài văn phòng của Henry, có một người đàn ông cao gầy đang ngồi, mặc bộ đồ màu muối tiêu, trên đầu gối đặt một chiếc mũ phớt. Khi ông ta đứng dậy, Henry mới phát hiện ông ta thực sự rất cao, khoảng sáu feet ba inch, lưng hơi khòm, giống như nhiều người quá cao khác, dường như cảm thấy cao như vậy có chút ngượng ngùng. "Ông là Trung tá Henry phải không? Tôi là Dr. Kirby," ông ta nói, "nếu ông bận thì cứ đuổi tôi đi là được."

"Đâu có. Hoan nghênh lắm chứ. Sao ông đến được đây?"

"Ồ, cũng khá vất vả. Tôi phải đi đường vòng, qua Bỉ và Na Uy. Một số máy bay còn bay, một số thì không." Dáng vẻ của Kirby lúng túng, còn mang theo chút giọng vùng quê miền Tây. Khuôn mặt nhợt nhạt của ông ta đầy vết rỗ, như thể từng bị mụn trứng cá nặng. Ông ta có cái mũi dài, cái miệng rộng lỏng lẻo, tóm lại là một người có ngoại hình xấu xí, đôi mắt thông minh sắc sảo, biểu cảm u sầu. Thư ký nói: "Thưa Trung tá, trên bàn làm việc của ông có vài tài liệu cần xử lý."

"Biết rồi. Mời vào, Dr. Kirby." Pug thở phào nhẹ nhõm, ông nhìn ra Kirby là một người tử tế muốn làm việc, chứ không phải loại người khó chịu chỉ biết tìm phụ nữ, theo đuổi hưởng lạc, kết giao với quan chức Quốc xã cấp cao. Mà một bữa tối cùng vài mối liên hệ công nghiệp là có thể tiễn Dr. Kirby đi rồi.

Byron Henry và Natalie Jastrow dự định hôm nay rời Krakow đi Bucharest và Rome. Tôi cố gắng hết sức đảm bảo họ lên đường. Slut.

Warsaw

39.1.9.

Bức điện khẩn này dán trên tờ giấy ghi chú màu xám trống trơn bằng dải giấy điện báo, mang đến cho Henry một cảm giác chẳng lành. Trong bản tin chiều, đài phát thanh Berlin gào thét rằng, sau đợt oanh tạc đường không dữ dội, đã thắng lợi tiến vào Krakow. Một bức thư khác, là mảnh giấy viết trên giấy tiêu đề của văn phòng đại biện, không có chữ ký, chỉ nguệch ngoạc một câu: Đến chỗ tôi ngay.

Kirby nói, ông ta có thể đợi một lát. Victor Henry xuống đại sảnh bên dưới, bước vào căn phòng trang trí lộng lẫy của đại sứ, nơi đại biện từng triệu tập cuộc họp nhân viên đại sứ quán.

Đại biện nhìn Henry qua cặp kính gọng nửa vành, ngón tay chỉ vào một chiếc ghế. "Anh đi dự hội nghị quốc hội rồi phải không? Tôi đã nghe một phần. Anh thấy thế nào?"

"Tên này quá điên rồ."

Đại biện dường như hơi ngạc nhiên, và trầm tư. "Quả là một phản ứng kỳ lạ. Đúng vậy, tuần này thực sự là quá sức với hắn. Dù sao đi nữa, nguồn năng lượng này thật khiến người ta không thể tin nổi. Mỗi chữ trong bài diễn văn dài dòng này chắc chắn đều do chính tay hắn viết. Tôi cảm thấy hiệu quả khá tốt. Không khí trong hội trường thế nào?"

"Không vui vẻ gì."

"Đúng vậy, trong giai đoạn này, họ có những mối lo riêng, đúng không? Không khí trong thành phố này khá đặc biệt." Đại biện tháo kính, dựa lưng vào chiếc ghế da lớn, gáy tựa vào hai bàn tay đan chéo. Ông nói: "Washington triệu tập anh về."

"Là Bộ Hải quân à?" Pug buột miệng hỏi.

"Không, là Cục Đức thuộc Bộ Ngoại giao. Yêu cầu anh trở về Washington bằng cách nhanh nhất và thuận tiện nhất, máy bay dân dụng hay quân sự đều được, theo chế độ đặc quyền cao nhất. Dự định để anh ở lại Washington tối đa một tuần, sau đó quay lại vị trí công tác này của anh. Không có chỉ thị nào khác, không có văn bản gì cả, chỉ vậy thôi."

Hai mươi lăm năm nay, Victor Henry chưa bao giờ bị điều động mà không có văn bản của Bộ Hải quân như thế này, loại văn bản được in thạch bản, để lại cả một xấp lệnh dày tại các trạm dừng chân dọc đường. Ngay cả nghỉ phép cũng phải có lệnh "cho phép nghỉ" do Bộ Hải quân phát ra. Bộ Ngoại giao không có quyền quản lý ông. Tuy nhiên, vị trí của một tùy viên quân sự là vô cùng tế nhị. Tư tưởng của ông lập tức chuyển sang việc thực hiện chỉ thị này.

"Nếu tôi không có văn bản, làm sao có được đặc quyền hàng không?"

"Chuyện này không thành vấn đề. Anh sớm nhất khi nào có thể khởi hành?"

Trung tá Henry nhìn chằm chằm vào đại biện, rồi miễn cưỡng cười, đại biện cũng mỉm cười với ông. Henry nói: "Lần này thực sự hơi đặc biệt."

"Tôi nghe nói anh đã gửi lên một báo cáo tình báo về sự chuẩn bị chiến tranh của Đức Quốc xã?"

"Vâng."

"Có thể liên quan đến chuyện này. Tóm lại, ý là bảo anh cứ cầm bàn chải đánh răng rồi lên đường thôi."

"Ý ông là hôm nay? Tối nay sao?"

"Đúng." Pug đứng dậy. "Được rồi. Tin tức từ Anh và Pháp gần đây thế nào?"

"Chamberlain tối nay sẽ đọc bài diễn văn trước Quốc hội, tôi đoán, không đợi anh về kịp là chiến tranh sẽ nổ ra rồi."

"Biết đâu đã đánh xong rồi cũng nên."

"Ở Ba Lan thì có thể là vậy." Đại biện cười nói. Nhưng ông nhìn thấy Henry không thấy buồn cười, ngược lại có vẻ hơi kinh ngạc.

Trung tá trở về, thấy Dr. Kirby đang vắt hai chân dài đọc một tạp chí công nghiệp tiếng Đức, miệng ngậm tẩu thuốc. Dáng vẻ này, cộng thêm cặp kính gọng đen, càng củng cố thêm vẻ ngoài chuyên nghiệp của ông ta. "Tôi phải giới thiệu ông với Tùy viên Lục quân, Đại tá Forrest, Dr. Kirby." Ông nói, "Thật xin lỗi, Hải quân không thể phục vụ ông được nữa. Tôi phải rời khỏi đây một tuần."

"Được thôi."

"Ông có thể cho tôi biết ông muốn tìm những ai không?" Dr. Kirby lấy từ túi áo ngực ra một tờ giấy đã đánh máy.

"Được, chuyện này không thành vấn đề," Pug nói, vừa cẩn thận nhìn tờ giấy.

"Đa số những người này tôi đều biết, tôi nghĩ Đại tá Forrest cũng sẽ biết. Được rồi, phu nhân Henry đã chuẩn bị cho ông một bữa tiệc tối vào thứ Năm. Thực ra —" Henry dùng tay vỗ vỗ tờ giấy nói, "Dr. Weiden cũng là một trong những vị khách."

"Phu nhân không thể hủy bữa tiệc này sao? Tôi thực sự không thích tham gia tiệc tùng lắm."

"Tôi cũng vậy. Nhưng một người Đức trên bàn tiệc chỉ cần uống vài ly rượu vào là khác hẳn lúc ở văn phòng, hoàn toàn trở thành hai người khác nhau. Ông biết đấy, không còn là khúc gỗ nữa, mà biến thành một người khác. Cho nên tiệc tùng là có ích."

Kirby cười, lộ ra hàm răng vàng khè, biến thành một vẻ mặt buồn cười, thô kệch và cứng đầu. Ông ta vung vẩy tờ tạp chí công nghiệp. "Dù ông nhìn từ khía cạnh nào, họ trông cũng chẳng giống khúc gỗ chút nào."

"Cũng giống mà cũng không giống. Tôi vừa từ hội nghị quốc hội về; đối với vai trò Hitler này mà nói, họ chắc chắn đều là những khúc gỗ. Được rồi, tôi đưa ông qua đại sảnh đến chỗ Đại tá Forrest đây. Bữa tiệc này có lẽ sẽ do ông ấy và Sally chủ trì, để xem thế nào đã."

Pug lái xe qua những con phố Berlin yên tĩnh để về nhà, dọc đường không nghĩ nhiều về việc bị triệu hồi về Washington, mà đang nghĩ về vấn đề trước mắt — nghĩ về Rhoda và cách sắp xếp cho cô, không biết có nên nói với cô chuyện Byron mất tích hay không. Chuyến đi Mỹ lần này có thể hoàn toàn chứng minh là lãng phí thời gian; suy đoán nguyên nhân là điều ngu ngốc. Ông trước đây cũng từng có trải nghiệm tương tự. Biết đâu một nhân vật cấp cao nào đó đang nóng lòng muốn biết tình hình gì đó — những tình hình có lẽ căn bản không tồn tại — nên lập tức vội vàng đánh một bức điện. Có một lần, trong một cuộc diễn tập hạm đội, ông bay ba ngàn dặm đến soái hạm "Blue" đang ở Mindanao, thì phát hiện ra đã không cần đến ông nữa, vì hạng mục kết quả bắn súng đã qua chương trình nghị sự từ lâu rồi. Rhoda không có nhà. Khi cô quay về, ông đang thắt dây đai vali xách tay.

"Ôi chao, chuyện gì thế này?" Cô phấn khởi hỏi. Tóc cô đã uốn lượn sóng. Tối nay họ được mời đi xem opera.

"Lại đây, ra ngoài vườn đi."

Họ đi đến nơi cách xa ngôi nhà, ông kể cho cô nghe về việc bị triệu tập kỳ lạ lần này đến Washington.

"Á, trời đất. Phải đi bao lâu?"

"Chưa đầy một tuần. Nếu máy bay chở khách loại Clipper bay như thường lệ, ngày mười lăm là anh về được rồi."

"Khi nào khởi hành? Sáng mai à?"

"Ồ, may mắn thì họ lấy được vé máy bay đi Rotterdam lúc tám giờ tối nay."

"Tối nay!" Khuôn mặt Rhoda thay đổi vì khó chịu. "Ý anh là chúng ta ngay cả opera cũng không xem được nữa à? Ôi, thật đáng ghét. Vậy, gã Kirby kia thì sao? Bữa tiệc còn tổ chức không? Em làm sao tiếp đón một người còn chưa gặp mặt bao giờ chứ? Thật mất hứng!"

Pug nói, vợ chồng Forrest sẽ cùng đến mời Kirby ăn tối. Ngoài ra opera có thể sẽ không diễn nữa.

"Không diễn? Đương nhiên là phải diễn, em gặp phu nhân Weiden ở tiệm làm tóc rồi. Họ chuẩn bị tổ chức một bữa tiệc lớn, em đương nhiên là không đi được rồi. Không có ai đi cùng là em không đi xem opera đâu. Ôi, thật chết tiệt. Nếu Anh Pháp tuyên chiến thì sao? Vậy thì làm thế nào, hả? Thế mới gọi là đủ ngầu đấy, nhốt em một mình ở Berlin, giữa một cuộc chiến tranh thế giới!"

"Rhoda, dù xảy ra chuyện gì, anh cũng sẽ từ Lisbon hoặc Copenhagen quay về thôi. Đừng lo lắng, anh lại hy vọng em làm quen với gã Kirby kia. Cục Quân giới rất trọng dụng ông ta đấy."

Họ ngồi trên một chiếc ghế dài bằng đá cẩm thạch bên cạnh đài phun nước nhỏ, trong hồ những con cá đỏ béo mập đang nô đùa dưới ánh hoàng hôn. Rhoda nhìn quanh bãi cỏ được cắt tỉa ngắn ngủn này, rồi dùng giọng điệu bình tĩnh hơn nhiều nói: "Được rồi. Em từng nghĩ sẽ tổ chức tiệc cocktail ở đây. Mời những nhạc sĩ từng biểu diễn trong buổi trà chiều ở Petch đến. Như vậy chắc chắn sẽ tuyệt lắm, tiếc là anh không tham gia được rồi."

"Pierre Forrest từng nói, trên thế giới này không có ai biết sắp xếp tiệc tùng như em."

Rhoda cười lớn. "Ồ, thôi đi. Một tuần sẽ qua nhanh thôi. Berlin bây giờ vẫn khá thú vị." Một đôi chim nhỏ màu đen vàng bay qua trước mắt họ, lao về phía một cái cây gần đó, đậu trên cành, cất tiếng hót líu lo. "Thật lòng mà nói, anh thực sự nghĩ là sắp có chiến tranh sao?"

"Chiến tranh đang bắt đầu rồi."

"Tôi biết. Thôi được, dù sao đi nữa, em cũng sẽ gặp Madeline. Nhất định phải gọi cho Byron một cuộc, thằng nhóc nghịch ngợm đó chẳng bao giờ chịu viết thư cả. Byron đang ở trên những ngọn núi tại Italy, tôi ngược lại cảm thấy khá yên tâm. Nó sẽ không gặp chuyện gì đâu, trừ khi nó thực sự dám kết hôn với cô gái Do Thái kia, nhưng nó sẽ không làm vậy đâu. Byron thực tế không đến mức ngốc nghếch như thế." Bà đặt tay mình vào tay chồng. "Tất nhiên, cái tính ngốc nghếch đó là di truyền từ mẹ nó. Xin lỗi anh, người yêu dấu, em lại nổi nóng rồi. Anh là người hiểu em mà."

Victor Henry nắm chặt tay bà, quyết định không dùng chuyện Byron mất tích để làm xáo trộn tâm trí bà nữa. Trên thực tế, bà hoàn toàn không thể làm gì được với chuyện này, chỉ tổ lo lắng một cách vô ích; ông đoán rằng, dù Byron có ở trong hoàn cảnh khó khăn thế nào đi nữa, thằng bé cũng đều có thể thoát ra được, con trai ông vốn dĩ vẫn luôn như vậy. Pug tối hôm đó bay đến Rotterdam đúng giờ. Sân bay Tempelhof đã thay đổi hoàn toàn. Các cửa hàng đều tối om. Ngoại trừ hãng hàng không Lufthansa, tất cả các quầy bán vé đều đã đóng cửa. Trên sân bay, những chuyến bay châu Âu vốn thường xuyên qua lại đã biến mất. Những chiếc máy bay tiêm kích của Không quân Đức thân ngắn trông thật u ám, đen sì đậu thành hàng dài ở đó. Thế nhưng nhìn từ trên cao xuống, Berlin vẫn rực rỡ ánh đèn, giống hệt như thời bình. Ông cảm thấy rất vui vì Rhoda đã quyết định chải chuốt để đi xem "Der Rosenkavalier", bởi bà Weidton đã tìm được một đại tá không quân cao lớn, bảnh bao để đi cùng bà ấy.

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:2
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »