Thân gửi Brani:
Em không thể nghĩ ra cách nào tốt hơn để bắt đầu năm 1940 ngoài việc viết thư cho anh. Em đã về đến nhà, đang ngồi gõ máy chữ trong căn phòng ngủ cũ kỹ ngày xưa để viết những dòng này cho anh. Căn phòng này dường như chỉ bằng một phần mười so với những gì em còn nhớ trong ký ức. Cả ngôi nhà trông vừa chật chội lại vừa bừa bộn. Chúa ơi, mùi thuốc diệt côn trùng lại gợi lên trong em biết bao kỷ niệm của những năm tháng ấu thơ!
À, người yêu dấu của em, nước Mỹ quả là một nơi kỳ diệu! Em đã không còn nhớ gì nữa, hoàn toàn không nhớ gì cả.
Khi em đến New York, cha em đã xuất viện từ lâu, em phải gọi điện về nhà hỏi mới biết. Thế là em đem toàn bộ hai trăm đô la chắt chiu bấy lâu nay ra mua một chiếc xe ô tô Dodge đời 1934, rồi lái thẳng xuống Florida! Thật đấy. Trước đó em ghé Washington, cũng muốn tìm gặp Slote. Chút nữa em sẽ kể kỹ hơn về chuyện này. Nhưng em cam đoan với anh, ông ấy chẳng nhận được chút an ủi nào sau cuộc gặp gỡ đó cả. Brani, em thề với anh, mục đích chính của em là muốn ngắm nhìn lại phong cảnh quê hương. Dù là mùa đông ảm đạm, thời tiết khắc nghiệt, dọc đường về phương Nam toàn là những thị trấn da màu với những túp lều tồi tàn, nhưng phong cảnh dọc các bang ven Đại Tây Dương thật tuyệt mỹ, rộng lớn, tự nhiên, sạch sẽ, đâu đâu cũng là những vùng hoang dã tĩnh lặng, khơi dậy sức sống và tinh thần con người. Em thích từng tấm biển quảng cáo, từng trạm xăng. Đây đúng là "Tân Thế giới". Điểm cuốn hút của Cựu Thế giới nằm ở những hình thức được chạm khắc tinh xảo, nhưng Cựu Thế giới giờ đây đã mục nát và mất đi lý trí. Cảm ơn Chúa, em đã rời khỏi nơi đó rồi.
Cứ lấy bãi biển Miami mà nói đi. Anh biết đấy, trước đây em luôn ghét nơi này. Nhưng giờ đây, ngay cả với Miami em cũng nảy sinh tình cảm, điều này đủ để nói lên tâm trạng hiện tại của em. Khi rời khỏi đây, em là một kẻ bài Do Thái cuồng tín. Ngay cả bây giờ, nhìn thấy những người Do Thái khôn khéo, vô tư lự trên thế giới này, da rám nắng, khoác lên mình những bộ trang phục kỳ quặc để tắm nắng — thường là những bộ lông thú, ngọc trai, đá quý đắt tiền, lạy Chúa, còn cả những chiếc áo sơ mi và quần đùi màu hồng hoặc cam chói lọi, đi lại khắp nơi — nhìn thấy những cảnh này, lòng em vẫn cảm thấy khó chịu. Người ở bãi biển Miami không có tư tưởng "giấu của". Mỗi lần gặp họ, em lại không khỏi nhớ đến Warsaw, cảm thấy phẫn nộ, tất nhiên một lát sau cũng quên đi. Quan niệm về chiến tranh của người ở đây nhạt nhòa chẳng kém gì người Mỹ ở những nơi khác.
Cơn đau tim lần này suýt chút nữa đã lấy mạng cha em, bác sĩ nói tình hình hiện tại đã ổn, nhưng em không thích vẻ tiều tụy đó của ông. Ông giờ chẳng làm gì cả, chỉ ngồi trong vườn phơi nắng, nghe tin tức trên đài phát thanh. Ông rất lo lắng cho chú Aaron. Trước đây ông chưa bao giờ nhắc nhiều đến chú ấy (thực ra là ông cố tình tránh né vấn đề này), nhưng giờ đây ông cứ liên tục nói về Aaron. Cha em bị Hitler làm cho khiếp sợ. Ông cho rằng Hitler là một con quỷ muốn chinh phục thế giới và tàn sát tất cả người Do Thái.
Em đoán chắc anh đang đợi nghe em kể về cuộc trò chuyện với Leslie Slote phải không — đúng không, anh yêu?
Được rồi, em sẽ kể cho anh nghe. Ông ấy nằm mơ cũng không ngờ em lại trả lời lời cầu hôn của ông ấy như vậy! Khi em nói với ông ấy rằng em đã yêu anh sâu đậm, ông ấy suýt chút nữa thì ngất xỉu, ý em là ông ấy lảo đảo đi về phía chiếc ghế rồi đổ ập xuống đó, mặt cắt không còn giọt máu, trông như một bóng ma. Tội nghiệp Slote già! Sau đó chúng em đã nói chuyện hàng giờ liền, ở quán bar, trong nhà hàng, trong xe của em, rồi dạo quanh đài tưởng niệm Lincoln năm, sáu vòng, cuối cùng là ở trong phòng của ông ấy. Lạy Chúa, ông ấy cứ lải nhải cằn nhằn không dứt! Nhưng em vẫn phải để ông ấy nói. Nội dung chính cuộc đối thoại của chúng em đại loại như sau, cứ lặp đi lặp lại những ý này:
Slote: Điều này chỉ vì em ở riêng với cậu ta quá lâu mà thôi.
Em: Chính em cũng đã nói với Brani như vậy. Em nói đó là thắng lợi của việc chung sống. Nhưng điều đó không thay đổi được sự thật là hiện tại em yêu anh ấy.
Slote: Em không thể định kết hôn với cậu ta, nếu không, đó sẽ là sai lầm lớn nhất mà em có thể phạm phải. Với tư cách là một người bạn, anh hiểu em hơn bất cứ ai, nên mới nói lời này.
Em: Em cũng đã nói với Brani như vậy. Em nói nếu em kết hôn với anh ấy thì thật nực cười, rồi đưa ra đủ mọi lý do.
Slote: Vậy rốt cuộc em định làm thế nào?
Em: Em chỉ kể cho anh nghe sự việc thôi. Em chẳng có dự định gì cả.
Slote: Em nên tỉnh táo lại đi. Em là một trí thức, lại là một người phụ nữ trưởng thành, Byron Henry là một gã thanh niên ham chơi, vô tư lự, cả ngày nhàn rỗi, thậm chí đến trường như Columbia mà cũng tìm cách trốn tránh, hai người làm sao có thể có điểm chung thực tế nào được.
Em: Em không muốn làm anh đau khổ, nhưng, anh yêu à — (đến điểm này em đã rất cẩn thận dè chừng với ông ấy, cuối cùng cũng xoay xở xong) — điểm chung giữa em và Byron Henry rất thực tế. Thực tế là, đối với em bây giờ, mọi thứ khác so với điều đó đều có vẻ không thực tế lắm.
(Slote vô cùng chán nản.)
Slote: (Ông ấy chỉ hỏi câu này một lần) Em đã ngủ với cậu ta chưa?
Em: Việc đó không liên quan đến anh.
(Jastrow cố gắng hết sức để không cho Slote nắm được gì. Slote càng thêm chán nản.)
Slote: Được rồi, "Le cœur a ses raisons" ①. Đợi đã, nhưng anh vẫn không hiểu. Cậu ta là một đứa trẻ, vẻ ngoài khá ổn, hay nói cách khác là rất thu hút, hơn nữa, cậu ta đúng là rất dũng cảm. Có lẽ chính những điều này có ý nghĩa quan trọng đối với em.
① Tiếng Pháp, là nửa đầu một câu châm ngôn của triết gia Pascal thế kỷ XVII, ý cả câu là: "Con tim có những lý lẽ mà lý trí không hề hay biết."
Em: (Tránh né vấn đề hóc búa này, ai muốn chuốc lấy rắc rối chứ?) Anh ấy còn có những ưu điểm khác. Anh ấy là một quân tử. Ngoài việc thấy trong sách vở ra, em chưa từng thấy ai thực sự như thế bao giờ. Slote: Chẳng lẽ anh không phải là quân tử sao?
Em: Em không nói anh là kẻ thô lỗ hay vô lại. Điều em gọi là quân tử là theo nghĩa thông thường, không phải chỉ hành vi đứng đắn.
Slote: Em nói chuyện như một nữ nhân viên bán hàng vậy. Rõ ràng là em muốn biến sự bốc đồng nhất thời của mình thành điều hợp lý. Em có thể làm thế. Nhưng từ ngữ em dùng rất thô thiển và đáng xấu hổ.
Em: Có thể lắm. Nhưng em không thể kết hôn với anh. (Ngáp) Em phải đi ngủ đây. Ngày mai còn phải lái xe bốn trăm dặm nữa. (Jastrow cuối cùng cũng rút lui.)
Nhìn chung, ông ấy vẫn giữ được bình tĩnh. Ông ấy nói một cách điềm đạm rằng, một khi cơn điên rồ này của em qua đi, ông ấy sẽ cưới em, ông ấy sẽ tiếp tục làm theo kế hoạch ban đầu của mình. Ông ấy rất tự tin, ở điểm này ông ấy vẫn là Slote già ngày nào. Cơ thể ông ấy giờ đây đối với em như một người xa lạ. Mặc dù chúng em ở trong phòng ông ấy cả tiếng đồng hồ, lại còn rất muộn, nhưng em không hề hôn ông ấy lần nào, ông ấy cũng chẳng chạm vào tay em lấy một cái. Em đoán có lẽ liên quan đến việc em nhắc đến chữ "quân tử" chăng? Em nói cho anh biết, trước đây ông ấy chưa bao giờ như vậy (em dám chắc em cũng đã thay đổi).
Có lẽ suy nghĩ của ông ấy về em và anh là đúng. Em thà không nghĩ đến chuyện sau này, chỉ nghĩ đến hiện tại, chính xác hơn là chỉ nghĩ đến khoảnh khắc anh ôm em khi chúng ta đứng cạnh lò sưởi trong phòng ngủ của em. Đến tận bây giờ em vẫn mê đắm khoảnh khắc đó. Em vẫn yêu anh, em vẫn nhớ anh. Mặc dù chúng ta không ở bên nhau, nhưng chưa bao giờ trong đời em cảm thấy hạnh phúc đến thế, nếu lúc này anh có thể ở đây thì tốt biết mấy!
Em từng nói anh nhìn vấn đề quá đơn giản, nhưng có một điểm anh nói rất đúng. Aaron nên rời khỏi cái ngôi nhà xui xẻo đó, để nó đổ nát đi, rồi trở về mảnh đất tuyệt vời này để an hưởng tuổi già. Ông ấy di cư sang đó vốn đã là ngu ngốc, ở lại đó thì càng mê muội hơn. Nếu anh có thể thuyết phục ông ấy trở về — em cũng sẽ viết thư cho ông ấy — khi anh trở về em sẽ càng thấy vui hơn. Nhưng đừng bỏ mặc ông ấy, anh yêu à. Chuyện này đừng vội, đợi kế hoạch của em có chút manh mối rồi tính sau.
Chúc anh năm mới vui vẻ. Em cầu nguyện Chúa, trong năm 1940 hãy để Hitler sụp đổ, chấm dứt cơn ác mộng khủng khiếp này, để chúng ta được đoàn tụ. Em yêu anh.
Natalie, vào đêm giao thừa
Trong vài tuần sau đó, cô liên tiếp nhận được ba lá thư hồi âm. Hai lá thư đầu chỉ là vài dòng viết vội vàng, nguệch ngoạc:
Anh là người viết thư dở nhất trên đời... Anh nhớ em đến mức không thể dùng lời nào diễn tả được... Không có em, mọi thứ ở đây giờ thật buồn tẻ và nhàm chán... Nếu lúc ở Lisbon mà có em ở bên cạnh thì tốt biết mấy... Thư đến đây thôi, anh phải đi làm việc đây...
Cô đọc đi đọc lại những lá thư bình thản đến mức đáng lo ngại của Byron. Nó khiến cô nhớ đến cảnh tượng lần đầu tiên gặp anh ở Siena, hình ảnh chàng trai trẻ lười biếng, bước đi nhẹ tênh dựa vào bức tường đỏ dưới ánh nắng chói chang giữa trưa, rất phù hợp với nét chữ của anh ngày nay: những con chữ nghiêng nghiêng, nhỏ và bẹt, khiến người ta khó lòng nhìn rõ. Chữ cái đầu tiên trong chữ ký của anh, chữ B, được viết rất hoa mỹ, nổi bật hẳn lên trong đống chữ viết xấu xí của anh, trông thật đáng thương. Byron phụ sự kỳ vọng của cha mình, không làm nên trò trống gì, tất cả đều được thể hiện qua chữ B to và hoa mỹ kia. Còn sự vô tích sự của anh thì được thể hiện qua những chữ cái phía sau ngày càng nhỏ lại và bị ép bẹp... Tội nghiệp Byron!
Thế nhưng Natalie lại coi những lá thư trống rỗng, viết nguệch ngoạc vụng về này như thể đang đọc thư của George Bernard Shaw, cô đọc đi đọc lại, thậm chí còn để thư dưới gối. Những lá thư này tạo nên sự tương phản gay gắt với những gì cô đang viết. Để giết thời gian, cô lấy luận văn thạc sĩ mà cô đã viết được ba phần tư bằng tiếng Pháp ra, chuẩn bị dịch sang tiếng Anh để làm luận văn tốt nghiệp khi nhập học Đại học Columbia hoặc Đại học New York vào mùa thu tới, nhằm lấy bằng. Đề tài luận văn là: "Bình luận về hai quan điểm khác biệt về chiến tranh dưới góc độ xã hội học: Đối chiếu tác phẩm của Émile Durkheim về nước Đức giai đoạn 1915-1916 và lời kết thứ hai của Leo Tolstoy viết cho "Chiến tranh và Hòa bình" năm 1869." Luận văn này viết rất hay, ngay cả Slote sau khi đọc vài chương cũng lộ ra nụ cười nhạt của một học giả uy tín kiểu Oxford, tỏ ý tán thưởng. Cô không chỉ muốn viết xong nó mà còn chuẩn bị sửa đổi. Cô bắt đầu luận giải từ xu hướng thân Đức bài Pháp mà dư luận hầu hết các trường đại học Mỹ thể hiện giữa hai cuộc chiến tranh. Nhờ trải nghiệm ở Ba Lan, cô nghiêng nhiều hơn về quan điểm của Durkheim đối với nước Đức. Những điều này đối với tác giả của những lá thư dưới gối cô mà nói, cũng giống như nguyên lý thuyết tương đối vậy, chẳng hiểu mô tê gì. Chỉ cần đọc tiêu đề luận văn của cô thôi, Brani cũng đã thấy đau đầu rồi. Nhưng cô không quan tâm đến những điều đó. Cô yêu anh.
Có vài bài hát thịnh hành ngọt ngào đã chạm đến trái tim Natalie, những bài hát này đều kể về việc phụ nữ mê mẩn những người đàn ông vô giá trị, gã chăn cừu buồn bã than thở, nhớ nhung người tình, dường như cô đột nhiên rất khao khát những thứ rẻ tiền này. Cô dùng nó để thỏa mãn ảo tưởng của mình, bản thân cũng cảm thấy xấu hổ, nhưng vẫn nghe mãi không chán. Cô mua một vài đĩa hát, nghe đi nghe lại. Byron Henry viết thư rất tệ, điều này tất nhiên là không tốt. Nhưng khi cô hồi tưởng lại đôi mắt, đôi môi và vòng tay của anh, cô liền mất đi khả năng phán đoán. Cô đọc đi đọc lại những câu anh viết rất tệ, nhưng lại cảm thấy vui mừng, vì tất cả đều là do anh viết.
Lại một lá thư nữa gửi đến, là câu trả lời cho lá thư dài đầu tiên cô viết từ bãi biển Miami, viết tốt hơn nhiều. Vài trang giấy, Byron dùng máy chữ gõ rõ ràng từng chữ, anh gõ loạch xoạch một lúc là xong một lá thư mà không sai một chữ nào, như một thư ký tốc ký vậy.
Natalie yêu dấu:
À, đây đúng là điều anh muốn, một lá thư tuyệt vời. Chúa ơi, anh đã đợi lâu lắm rồi.
Anh bỏ qua đoạn viết về nước Mỹ và Miami, tìm đoạn kể về Slote đọc trước, rồi mới đọc lại từ đầu. Em không cần phải nói với anh nước Mỹ tốt hơn châu Âu thế nào đâu, giờ anh đang nhớ nhà kinh khủng, anh sắp chết vì nhớ nhà đây. Điều này hoàn toàn khác với nỗi nhớ em. Anh nhớ em da diết, như thể em vẫn còn đang ở trong căn phòng dưới lầu vậy. Bây giờ anh mới bắt đầu hiểu tại sao mạt sắt luôn hướng về phía nam châm. Đôi khi, anh ngồi trong phòng nhớ về em, lực hút từ phía em mạnh đến mức anh có cảm giác như chỉ cần mình buông tay vịn ghế ra là anh sẽ bay ra ngoài cửa sổ, xuyên qua nước Pháp, băng qua Đại Tây Dương, bay thẳng đến nhà em ở số 1316 đường Normandy.
Natalie đắm chìm trong vài câu so sánh đầy trí tưởng tượng kỳ diệu này, đọc đi đọc lại mấy lần.
Slote cứ đinh ninh là sắp kết hôn với em rồi. Ông ấy đã bỏ lỡ cơ hội rồi.
Tiện đây nói với em, chồng sách đồ sộ về vấn đề nước Đức mà Slote liệt kê anh đã đọc được hơn một phần ba rồi. Một số không tìm thấy bản tiếng Anh, nhưng anh đang miệt mài đọc những cuốn mà anh tìm được. Ở đây anh cũng chẳng có việc gì khác để làm. Một người bị cách ly với thế giới trong cái thành phố hoang vắng này cũng có một cái lợi. Jastrow mở một lớp phụ đạo chuyên đề cho riêng anh, quan điểm của ông ấy và Slote gần như tương đương, anh tóm tắt ý kiến của họ đại loại là: Người Đức do vị trí địa lý, dân số và năng lượng của họ, kể từ sau thời Napoleon, đã là một dân tộc mới nổi ở châu Âu. Nhưng họ là những con người kỳ lạ khó lường. Tất cả những tác giả mà Slote liệt kê cuối cùng đều tuyên truyền những quan điểm hủ bại có hại, lại còn tin tưởng một cách đáng sợ rằng mình đúng. Họ cho rằng người Đức đã bị lừa dối suốt mấy thế kỷ, vì vậy thế giới nên được sắp xếp lại theo các điều kiện mà họ đưa ra. Cho đến nay, quan điểm của anh tóm tắt lại là: Hitler dù sao cũng là linh hồn của nước Đức ngày nay — điều này chỉ cần đến Đức xem là hiểu ngay; không thể để người Đức thống trị châu Âu, vì họ phần lớn có tâm lý biến thái, mặc dù họ rất có tài năng nhưng ngay cả bản thân họ cũng không tự cai trị nổi; nếu họ định chinh phục châu Âu thì phải có người đánh cho họ một trận. Nếu không, sự man rợ sẽ chiến thắng. Aaron Jastrow bổ sung thêm vài quan điểm cá nhân, ông ấy nói có thể chia thành "nước Đức tốt" thuộc về những người tự do tiến bộ và "nước Đức xấu" thuộc về những kẻ lãng mạn và dân tộc chủ nghĩa mà Slote nói, đều có liên quan mật thiết đến vị trí địa lý và Công giáo. Những điều ông ấy nói anh đều không hiểu lắm. (Không biết trong đó có vài quan điểm có qua được kiểm duyệt thư từ không? Anh nghĩ chắc là qua được, người Ý sợ người Đức, cũng rất ghét họ. Ở đây lưu truyền một câu nói về Mussolini. Nói ông ta là con khỉ thả hổ ra lồng. Thật tuyệt.)
Để Aaron Jastrow rời khỏi đây xem ra vẫn là một kế hoạch không tồi. Nhưng về vấn đề nhập tịch của ông ấy vẫn còn một lỗi kỹ thuật nhỏ, chuyện này đã từ lâu lắm rồi, chi tiết anh cũng không rõ lắm, nhưng ông ấy chưa bao giờ muốn sửa nó. Tổng lãnh sự mới đến Rome là một quan liêu có tầm nhìn hạn hẹp, ông ta gây khó dễ đủ đường. Tất cả những điều này tất nhiên đều sẽ được làm sáng tỏ — người ở Rome cũng nói vậy — nhưng cần có thời gian.
Vì vậy bây giờ anh sẽ không bỏ mặc Aaron. Nhưng đến giữa tháng tư, ngay cả khi kế hoạch của em vẫn chưa có manh mối gì, anh cũng phải về nước. Lúc đó dù Aaron có về hay không, anh cũng phải đi. Ngoài việc phải dự đám cưới anh trai ra, cha anh cũng rất muốn anh về để vào trường đào tạo tàu ngầm, khóa huấn luyện sĩ quan tiếp theo khai giảng vào ngày 27 tháng 5, học trong sáu tháng, sau đó thực tập trên tàu ngầm một năm, địa điểm hoạt động của tàu ngầm là ở vùng Connecticut. Khả năng anh nhập ngũ không cao, trừ khi chiến tranh bùng nổ toàn diện, anh mới nhập ngũ, nhưng dù có nhập ngũ, chúng ta vẫn còn một khoảng thời gian dài bên nhau.
Siena đúng là một nơi chán ngắt. Những ngọn núi thì nâu xám. Những cây nho bị cắt tỉa chỉ còn lại những gốc đen sì lởm chởm. Mọi người lờ đờ đi lại trên phố, sắc mặt u ám. Cuộc đua ngựa năm 1940 đã bị hủy bỏ. Thời tiết rất lạnh, thường xuyên có mưa. Nhưng trong nhà kính, cây chanh vẫn nở hoa rực rỡ, Aaron và anh vẫn đến đó uống cà phê. Anh ngửi thấy hương hoa là lại nhớ đến em. Anh thường đến đó, chỉ để ngửi hương hoa, rồi nhắm mắt lại, trong một khoảnh khắc, dường như em đang ở ngay trước mắt! Natalie, nhất định phải có một vị Chúa tồn tại, nếu không anh sẽ không gặp được em. Vị Chúa đó chắc chắn vừa là của em, vừa là của anh, vì chỉ có một vị Chúa duy nhất. Anh yêu em.
Byron
"Tuyệt quá, tuyệt quá," Natalie lớn tiếng nói. Nước mắt trào ra từ khóe mắt, nhỏ xuống tờ giấy viết thư hàng không mỏng manh, "Cậu chàng tóc nâu đỏ tội nghiệp của em," cô hôn lên những tờ thư đó, khiến khắp nơi đều là những vết son màu cam. Sau đó cô lại nhìn ngày tháng: ngày 10 tháng 2, mà hôm nay đã là ngày 9 tháng 4, một lá thư hàng không mất gần hai tháng mới tới! Chậm thế này, có viết thư hồi âm cũng không kịp nữa. Anh ấy có lẽ đang trên đường về nước, nhưng cô vẫn tiện tay vơ lấy một xấp giấy, bắt đầu viết thư. Cô gần như không thể tự chủ được.
Cha của Natalie đang ngồi trong vườn nghe đài phát thanh. Họ vừa ăn cơm trưa xong, mẹ cô ra ngoài dự họp ủy ban rồi. Đúng lúc Natalie đang trút những lời yêu thương nồng nàn lên trang giấy, một bản tin phát thanh theo luồng không khí ấm áp bay vào từ ô cửa sổ đang mở. Giọng nói vang dội, rõ ràng và đầy cảm xúc của phát thanh viên khiến cô không kìm được mà dừng bút.
"Cuộc chiến tranh giả" đã kết thúc. Một trận chiến hải không quân dữ dội đang càn quét Na Uy. Công ty phát thanh truyền hình quốc gia hiện đang báo cáo các thông cáo đặc biệt về tình hình chiến tranh từ thủ đô các nước tham chiến như sau:
London: Đức Quốc xã không hề đưa ra bất kỳ cảnh báo nào đã đơn phương phát động cuộc tấn công chớp nhoáng. Từ trên biển và trên không xâm nhập vào Na Uy trung lập, đồng thời quân đội mặt đất của Đức tiến vào Đan Mạch. Theo thông báo của chính phủ Na Uy, tại Oslo, Narvik, Trondheim và các cứ điểm quan trọng ven biển khác đều đã tiến hành kháng cự quyết liệt, nhưng quân tiếp viện của Đức tràn vào như thủy triều. Hải quân Hoàng gia lập tức hành động để cắt đứt cuộc xâm lược. Bộ trưởng Hải quân Winston Churchill sáng nay tuyên bố: Bất kỳ tàu chiến nào của Đức tiến vào eo biển Skagerrak đều sẽ bị đánh chìm.
Natalie đặt giấy bút xuống, đi về phía cửa sổ. Cha cô quay lưng lại phía cô, ngồi dưới ánh nắng gay gắt, mái tóc trắng trên cái đầu hói rám nắng rủ sang một bên, bất động chăm chú lắng nghe diễn biến chấn động này.
Paris: Chính phủ Pháp trong một thông cáo chính thức tuyên bố, quân Đồng minh sẽ chung sức ủng hộ sự nghiệp kháng chiến của Na Uy dân chủ, và chuẩn bị đón đầu cuộc xâm lược của Đức bằng "cận chiến". Các bình luận viên bi quan chỉ ra rằng: Sự thất thủ của Na Uy và Đan Mạch sẽ khiến đường bờ biển châu Âu mà Đức nắm giữ tăng thêm hơn một nghìn dặm, điều này đồng nghĩa với việc sự phong tỏa của Anh thất bại.
Berlin: Bộ Tuyên truyền đưa ra thông cáo sau: Để đập tan kế hoạch của Anh nhằm chiếm đóng bán đảo Scandinavia, ngăn chặn Đức lấy quặng sắt và các nguyên liệu khác từ Thụy Điển, lực lượng vũ trang Đức đã đặt Đan Mạch dưới sự bảo hộ của mình bằng phương thức hòa bình, đồng thời tiến vào Na Uy từ trên biển và trên không, nhận được sự chào đón nồng nhiệt của quần chúng. Oslo đã nằm trong tay Đức, cuộc sống ở thủ đô đang trở lại bình thường. Sự kháng cự lẻ tẻ của những toán quân nhỏ được Anh mua chuộc đã bị đập tan. Quốc trưởng đã gửi điện mừng sau đây, gửi tới...
Natalie đi ra vườn để tìm cha mình kể về tin tức chấn động này, ngạc nhiên phát hiện ra, cha cô đã ngủ thiếp đi khi đang nghe đài, đầu gục xuống ngực. Chiếc radio vẫn đang phát ra âm thanh lớn, trong khi bình thường ông không bao giờ bỏ lỡ bản tin nào.
Bóng của chiếc mũ vải trắng che khuất khuôn mặt ông không rõ, nhưng cô có thể nhìn thấy khóe miệng ông lộ ra một biểu cảm kỳ lạ. Hàm răng trên lộ ra một cách nực cười trên môi. Natalie bước đến bên cạnh ông, dùng tay chạm vào vai ông: "Cha?" Ông không trả lời. Cô đột nhiên sững người, bây giờ cô có thể nhìn thấy hàm răng giả trên của cha mình đã rơi ra. "Cha!" Cô đẩy ông một cái, đầu ông liền gục xuống, chiếc mũ rơi xuống đất. Cô thò tay vào trong chiếc áo thể thao in hoa rộng thùng thình của ông, cơ thể dính dấp. Vẫn còn hơi nóng, nhưng tim đã không còn đập nữa. Trước khi kịp hét lên và chạy vào nhà gọi điện thoại tìm bác sĩ, trong khoảnh khắc này, cô phát hiện ra khuôn mặt của cha mình vô cùng giống Aaron Jastrow, mà khi ông còn sống, cô chưa bao giờ nhận ra điều đó.
Trong vài tuần sau đó, cô chìm đắm trong nỗi đau buồn vô hạn. Kể từ năm mười hai tuổi, Natalie đã không còn coi trọng cha mình nữa; đối với cô, ông chỉ là một kẻ buôn bán, một nhà sản xuất áo len và là người quản lý giáo đường Do Thái, trong khi bản thân cô lúc đó đã là một kẻ kiêu ngạo, tri thức và hám danh. Kể từ đó, cô ngày càng nhận ra cuộc đời cha mình đã trôi qua trong sự tự ti đối với Byron Jastrow và chính con gái ruột của ông như thế nào. Giờ đây khi ông qua đời, cô rơi vào nỗi đau cùng cực, ăn không ngon, ngủ không yên, uống thuốc an thần cũng chẳng có tác dụng. Mẹ cô, một phụ nữ theo lối cũ, ngày thường luôn bận rộn với các buổi họp của Hadassah và gây quỹ từ thiện, suốt bao năm qua đã tốn bao tâm huyết vì con gái mà không biết phải làm sao với cô, giờ đây bà phải nén nỗi đau của riêng mình để an ủi Natalie, nhưng cũng vô ích. Natalie nằm trên giường trong phòng ngủ, gào khóc thảm thiết, ban đầu là khóc gần như suốt cả ngày, những tuần sau đó thì mỗi ngày khóc vài lần. Cô bị lương tâm cắn rứt vì trước đây đã phớt lờ và coi thường cha, giờ đây cảm thấy vô cùng đau đớn vì điều đó, ông rất thương cô và đã nuông chiều cô hết mực. Khi cô đề nghị muốn đến Đại học Paris học hai năm, ông đều phải làm theo ý cô. Cô thậm chí còn chẳng hỏi xem ông có đủ tiền để chu cấp cho mình hay không, những trải nghiệm kỳ quặc và bất hạnh của cô đã khiến ông phải chịu đựng sự dày vò nghiêm trọng. Khi ông còn sống, cô chẳng hề cảm thấy tội lỗi. Giờ đây ông đã mất, chỉ còn lại một mình cô. Đã quá muộn, không còn cách nào để bày tỏ tình yêu và sự hối hận với ông nữa.
Theo tin tức từ đài phát thanh, tình hình tại Na Uy đang gặp muôn vàn tai ương. Cuộc tấn công dữ dội của Đức đã giành được thắng lợi. Quân Đồng minh đổ bộ thất bại. Tàn quân Na Uy rút vào vùng núi, trong khi quân Đức truy đuổi không ngừng. Tất cả những tin tức này khi lọt vào tai cô, đều giống như những lời đồn đại mơ hồ chẳng mấy liên quan đến mình. Thực tại chỉ là chiếc gối đã ướt đẫm vì nước mắt và những người đàn ông Do Thái trung niên với khuôn mặt rám nắng cứ nối đuôi nhau đến viếng, cùng những cuộc trò chuyện không hồi kết về vấn đề kinh tế.
Hai sự việc liên tiếp xảy ra mới khiến cô tỉnh táo trở lại. Hai sự việc đó là: Byron từ châu Âu trở về nước và Đức tấn công Pháp.