Bốn ngày sau, Natalie chạy như bay tới sân sau của đại sứ quán để tìm Byron ngay từ sáng sớm, chạy nhanh đến mức tóc tai và váy áo đều bay phấp phới. Anh đang ở sân sau để tiêu hủy các cuốn hộ chiếu trắng cùng những chồng đơn xin thị thực. Đại sứ quán có hàng trăm cuốn hộ chiếu màu hạt dẻ như thế này, lúc này đều đang từ từ hóa thành khói bụi. Một khi những thứ này rơi vào tay người Đức, chúng sẽ bị sử dụng để cài cắm gián điệp và phần tử phá hoại vào nước Mỹ. Những chồng đơn xin thị thực vì đủ để chứng minh thân phận người Do Thái nên cũng nằm trong danh sách ưu tiên tiêu hủy hàng đầu. Trên các tờ đơn thường kẹp theo đô la Mỹ, Byron vốn định xem qua một chút, nhưng giờ thì chẳng còn thời gian mà bận tâm nữa. Nhiệm vụ của anh là đốt sạch đống này nhanh nhất có thể, đến mức chính mình đang đốt cả tiền cũng chẳng mảy may để ý.
"Nhanh lên. Đi theo em mau." Natalie nói với vẻ hớn hở.
"Đi đâu cơ?"
"Anh cứ đi đi là biết."
Trước cửa chính đỗ một chiếc xe hơi màu đen có tài xế riêng, Leslie đang ngồi cạnh một gã béo có làn da hồng hào và mái tóc hoa râm. "Này, ở đây này, Byron!" Giọng của Leslie cũng tỏ ra đặc biệt vui vẻ. "Đây là đại sứ Thụy Điển. Thưa Đại sứ, cha của Byron Henry là tùy viên hải quân của chúng ta tại Berlin. Đưa cậu ấy đi cùng có lẽ sẽ tốt hơn. Ông thấy thế nào?"
Vị đại sứ dùng bàn tay nhỏ nhắn sạch sẽ lau chiếc mũi to như củ tỏi, sắc sảo quan sát Byron một lượt. "Tuyệt lắm. Thật sự rất tuyệt, có lẽ cậu ta còn có thể ghi chép được vài điều."
"Tôi cũng nghĩ vậy. Lên xe đi, Byron."
Dù có truyền máu cho Leslie thì sắc mặt ông ta cũng khó mà hồng hào hơn được. Byron vừa nói chuyện với ông ta một tiếng trước, lúc đó ông ta vẫn như mọi khi, mặt mày xám xịt, tính tình cố chấp, ý chí sa sút. Cả ngày ông ta cứ ủ rũ trong đại sứ quán, uống thuốc liên miên, trả lời câu hỏi của người khác một cách cụt lủn, và tự nhốt mình trong văn phòng suốt nhiều giờ liền. Kể từ khi một quả đạn pháo rơi trúng tòa nhà bên cạnh, giết chết mười người Ba Lan, Leslie đã trở nên như vậy. Byron đoán rằng chính gánh nặng trách nhiệm đã đè bẹp vị đại biện này. Thế nhưng lúc này, trên mặt ông ta đã có chút huyết sắc, ánh mắt sáng quắc, ngay cả làn khói xanh tỏa ra từ chiếc tẩu của ông ta cũng có vẻ nhẹ nhàng hơn. Khi Byron ngồi vào ghế sau xe, Natalie đột nhiên hỏi vị đại sứ: "Tôi đi cùng được không? Tôi vẫn luôn đi cùng Byron mà."
Leslie lắc đầu ủ rũ. Vị đại sứ nhìn cô từ trên xuống dưới với sự hứng thú của phái mạnh. Natalie mặc một chiếc váy lụa xanh, khoác ngoài một chiếc áo len cũ màu hồng phấn, bộ trang phục này là cô vơ đại trong vali mà không hề suy nghĩ. Cách ăn mặc này khiến cô trông có vẻ quê mùa, nhưng lại đầy sức quyến rũ. "Nhưng, cô thân mến, cô không sợ sao?"
"Sợ cái gì ạ?"
"Sợ tiếng pháo. Chúng tôi đi khảo sát một lộ trình rút lui an toàn." Tiếng Anh của vị đại sứ nói rất chậm, nhưng rất chuẩn. Ông ta đặt bàn tay nhỏ nhắn màu hồng lên cửa sổ xe đang mở, bất kể có đang bị bao vây hay không, móng tay ông ta lúc nào cũng được tỉa tót sáng bóng.
"Chúng ta rất có thể sẽ đến nơi rất gần tiền tuyến."
"Tôi từng nghe tiếng pháo rồi."
Vị đại sứ mỉm cười với Byron. "Thế nào, để bạn của cậu đi cùng chúng ta nhé?" Vừa nói, ông vừa nhường chỗ cho cô ngồi. Leslie không nói gì, chỉ bực bội nhai chiếc tẩu của mình.
Chiếc xe xóc nảy, ngoằn ngoèo tiến về phía bờ sông. Warsaw trong bốn ngày qua đã bị tàn phá nặng nề. Một cơn gió mạnh thổi tan khói súng, ánh nắng ban mai dịu dàng khiến đường phố hiện lên một khung cảnh thái bình đầy mỉa mai. Tuy nhiên, ở đâu cũng có thể thấy những công trình bị phá hủy. Hàng ngàn ô cửa sổ bị bom thổi bay, tạm thời được đóng bằng những tấm ván ép màu vàng nhạt. Thành phố Warsaw chỉ còn lại một mảng khói súng, đâu đâu cũng là khung nhà bê tông và ván ép vàng. Vỉa hè, rãnh thoát nước đều bị phá hủy, đầy rẫy hố bom, các giao lộ chính đều được thiết lập bẫy xe tăng và công sự phòng thủ. Tại những giao lộ này, đều có những người lính thần kinh căng thẳng, trừng mắt dữ tợn, lăm lăm súng máy, ngón tay đặt trên cò súng, chặn xe lại. Xung quanh còn có thể thấy một số người khác. Tiếng pháo ầm ầm vang vọng từ xa. Mỗi khi người lính hạ súng, cho phép họ đi qua, Leslie đều cười ha hả.
"Tôi thực sự không thể tin được," khi xe chạy đến một cây cầu đá trên sông Vistula vốn đang chật cứng xe hơi, xe tải và xe đạp, ông ta nói như vậy. "Tất cả những thứ này vẫn còn tồn tại sao. Chẳng phải người Đức đã pháo kích suốt hai tuần nay rồi ư?"
"Đúng vậy, anh biết đấy, sức công phá của họ không mạnh như những gì họ tuyên truyền đâu," đại sứ Thụy Điển nói. "Bắn cũng không chuẩn lắm."
Chiếc xe chạy lên cây cầu đá bắc qua mặt sông rộng lớn màu nâu. Dưới cầu, nước sông lặng lẽ chảy giữa Warsaw và vùng ngoại ô phía đông Praga (nơi là những ngôi nhà thấp tầng và rừng cây xanh). Phía sau họ, thành phố Warsaw phản chiếu dưới bầu trời xanh đầy khói súng, tắm mình trong ánh nắng, nhìn từ xa lại càng có vẻ bình an vô sự; kinh đô hùng vĩ này, với những con đường rộng lớn, mái vòm nhà thờ kiểu Baroque, những ống khói nhà máy cao chọc trời và vô số cột khói đen cuồn cuộn, nhìn chẳng khác nào một ngày bận rộn ở một thành phố công nghiệp thời thái bình, chỉ là ở một vài nơi bốc lên những ngọn lửa vàng cuồn cuộn, phía chân trời lóe lên những tia chớp như sấm mùa hè, cùng tiếng pháo ầm ầm truyền đến từ xa. Vài chiếc xe buýt chở lính chạy ngang qua xe của họ, những người lính trên xe ca hát, đùa giỡn, có người còn vẫy tay với Natalie, hét vọng về phía cô. Cũng có rất nhiều lính đạp xe chạy về cùng hướng.
"Họ đều đi đâu vậy?" Natalie hỏi.
"Tất nhiên là ra tiền tuyến rồi," đại sứ nói. "Đây mới là chiến tranh thực sự. Họ rời vị trí chiến đấu, về nhà ăn một bữa trưa hoặc bữa tối, hoặc ngủ với vợ, rồi lại bắt xe buýt quay lại tiền tuyến đánh người Đức. Thời nội chiến tôi ở Madrid, lúc đó Madrid cũng như thế này."
"Chúng ta phải đi bao xa nữa?" Leslie nói. Trên sông, tiếng pháo từ phía Praga truyền đến càng rõ hơn.
Vị đại sứ bĩu môi. "Tôi cũng không rõ. Chúng ta phải tìm thấy một ngôi trường có con ngỗng đá phía trước khuôn viên, sau khi qua một cái am nhỏ bên đường thì đi tiếp khoảng một trăm thước nữa."
Sau khi qua sông, họ nhìn thấy một vùng đổ nát. Dọc đường toàn là những bức tường đổ, cây cối bị cháy rụi và những thân cây ngã rạp. Con đường nhựa hẹp bị pháo kích tàn phá nghiêm trọng, họ thường xuyên phải vòng sang đường đất để đi. Khi chiếc xe hơi chạy dọc con đường đất, một khẩu đại bác của Ba Lan ẩn nấp trong rừng bất ngờ nổ súng ầm một tiếng. Tài xế lách xe, sượt qua một cái cây, người trong xe đều nhảy dựng lên khỏi ghế. "Lạy Chúa!" Leslie nói. Chiếc xe ổn định lại, chạy dọc theo vùng đồng bằng rợp bóng cây ở Praga. Họ đi ngang qua một ngôi nhà, mái nhà đang bốc cháy dữ dội, cả gia đình đứng bên ngoài nhìn với vẻ chán nản. Cứ hai ba phút, xung quanh họ lại vang lên những tiếng nổ dữ dội. Đôi khi họ có thể thấy ngọn lửa phun ra từ nòng pháo trong rừng, nhưng không thấy thân pháo. Đôi khi họ thấy pháo thủ Ba Lan đang hoạt động căng thẳng trong rừng. Tất cả những điều này ít nhất cũng khiến Byron cảm thấy mới mẻ, phấn khích, và họ dường như đang thưởng ngoạn phong cảnh chiến trường trong tình thế rất an toàn, chỉ là để tránh hố bom, chiếc xe mới phải xóc nảy trên con đường mọc đầy cỏ dại. Thế nhưng, đột nhiên một quả đạn pháo của Đức vèo một tiếng bay tới, ầm một tiếng nổ tung gần chiếc xe, những mảng bùn đất bị hất tung rơi lả tả lên nóc xe. Leslie nói: "Ôi trời ơi! Giờ thì chúng ta thực sự đang ở tiền tuyến rồi!"
"Đúng vậy, rẽ qua khúc cua này chắc là trường học rồi," đại sứ nói. Thế nhưng, sau khi rẽ qua khúc cua, họ chỉ nhìn thấy một cái sân bẩn thỉu, xung quanh là bốn ngôi nhà gỗ, vài con lợn bị tiếng pháo làm kinh động, chạy tán loạn trong sân. Đi tiếp về phía trước, con đường nhựa thẳng tắp tiếp tục dẫn vào khu rừng rậm rạp, khói súng mù mịt che khuất tầm nhìn. Leslie nói: "Làm ơn dừng xe."
Vị đại sứ quay đầu nhìn ông ta, dùng bàn tay đỏ ửng lau mũi, bảo tài xế dừng xe. Chiếc xe dừng lại bên đường.
"Tôi thực sự không tin nổi," Leslie nắm chặt chiếc tẩu bằng nắm đấm, ra hiệu nói. "Chúng ta bây giờ thực sự đang ở trận địa pháo như cậu nói. Cậu có chắc chúng ta không đi nhầm đường, lúc này không phải đang ở phía sau trận địa của Đức chứ?" Vị đại sứ bĩu môi. "Tôi tin là chúng ta bây giờ cách cây cầu đá nhiều nhất là ba dặm." Leslie cười ha hả một tràng, dùng tẩu thuốc huých mạnh vào người Natalie và Byron.
"Tôi phải chịu trách nhiệm cho hai người trẻ tuổi này. Tôi không thể để họ gặp nguy hiểm như vậy."
Hai chiếc xe buýt cũ kỹ chở đầy lính ầm ầm chạy qua, trên đầu xe còn treo biển báo tuyến đường, hai bên thân xe dán những quảng cáo phim đã phai màu. Những người lính đều đang ca hát, vài người vẫy tay về phía chiếc xe hơi đang đỗ, nói những câu đùa cợt bằng tiếng Ba Lan.
"Chúng ta chắc chắn không phải đang ở phía sau trận địa của Đức," đại sứ nói.
"Nhưng dù sao đi nữa, chúng ta cũng phải đưa hai công dân này về Warsaw," Leslie nói. "Xin lỗi, chúng ta hiểu lầm rồi."
Natalie lớn tiếng nói: "Nhưng tại sao chứ? Chẳng có lý do gì để đưa chúng tôi về cả. Tôi vẫn ổn mà."
"E là không kịp thời gian nữa rồi." Vị đại sứ trầm ngâm xoa lông mày nói.
"Chắc chưa đầy một tiếng nữa là ngừng bắn. Chúng ta vừa về đến nơi, tôi phải lập tức triệu tập nhóm người của mình."
"Tôi cũng phải triệu tập. Nhưng dù sao thì sự an toàn của nhân viên nước trung lập khi đi qua chiến tuyến cũng đã được Ba Lan và Đức đảm bảo rồi." Đại sứ nhìn đồng hồ. "Đại tá Lasky yêu cầu chúng ta khảo sát trước lộ trình. Tôi thấy tốt nhất vẫn nên tiếp tục đi tới." Ầm, ầm, lại hai quả đạn pháo hạng nặng nổ tung trong rừng, một quả rơi bên trái, một quả bên phải. Tài xế bắt đầu khởi động xe.
"Chờ một chút!" Tài xế quay đầu lại, Leslie mặt cắt không còn giọt máu, môi run bần bật. "Thưa Đại sứ, tôi yêu cầu ông ít nhất hãy đưa chúng tôi về phía cầu. Trên cầu có lẽ chúng tôi có thể chặn được một chiếc xe tải hoặc xe buýt."
"Nhưng, thưa ông thân mến, ông cũng phải khảo sát lộ trình chứ. Nhân viên của chúng ta sau này rất có thể sẽ bị lạc trong rừng."
Byron cảm thấy buồn nôn. Mặc dù thái độ của vị đại sứ rất lịch sự, nhưng cũng không che giấu được thực tế rằng Leslie là đại diện của nước Mỹ. Byron bèn nói: "Leslie, anh nói rất đúng, nên để Natalie tránh đi. Hay là thế này, anh hộ tống cô ấy đến ngôi nhà gỗ kia đợi chúng ta, được không? Tôi có thể đi cùng Đại sứ để thăm dò đường." Vị đại sứ lập tức vui vẻ nói: "Ý này hay đấy! Chúng ta đi một chuyến, tôi thấy, mười phút hoặc một khắc là quay lại được ngay."
Leslie mở cửa xe, bước xuống. "Đi thôi, Natalie. Thưa Đại sứ, chúng tôi sẽ đợi các ông ở ngôi nhà gỗ có cửa sổ màu xanh lá cây kia. Tôi thấy ở cửa sổ có một người phụ nữ."
Natalie lại ngồi yên không nhúc nhích, nhìn Leslie rồi lại nhìn vị đại sứ, khóe miệng lộ ra vẻ không hài lòng. Cuối cùng vị đại sứ dùng giọng châu Âu cứng nhắc nói với cô: "Cô thân mến, làm ơn hãy làm theo những gì chúng tôi nói đi."
Cô nhảy phắt xuống xe, đóng sầm cửa lại, rồi chạy về phía ngôi nhà gỗ. Leslie vừa gọi vừa đuổi theo sát phía sau. Chiếc xe hơi lao vút đi trên con đường đá nhỏ. Phía trước khói bụi nhạt bớt. Xe đi chưa đầy nửa dặm thì nhìn thấy một cái am nhỏ, đó là một cái chòi gỗ, bên trong có một bức tượng gỗ Chúa Jesus sơn màu mè tục tĩu, đóng trên cây thánh giá vàng; cách cái am không xa là một ngôi trường. Phía trước trường học có một con ngỗng đá, xung quanh trồng hoa đỏ, vài người lính đang trò chuyện, tản bộ, hút thuốc bên cạnh con ngỗng đá. Byron thầm nghĩ, nếu Leslie có thể kiên trì thêm ba bốn phút nữa thì đã không đến mức làm trò cười như vậy. Khoảnh khắc những cục đất rơi xuống nóc xe, đúng là lúc ông ta gặp vận rủi. Đại tá Lasky vừa thấy đại sứ Thụy Điển liền hăm hở chạy ra ôm chầm lấy ông ta. Byron cảm thấy tâm trạng của ông ta tốt đến mức có phần không chân thực, các sĩ quan trong bộ tham mưu đối mặt với những tin xấu được đánh dấu trên bản đồ quân sự tiền tuyến treo trên tường cũng tỏ ra quá mức thoải mái: thành phố Warsaw trên bản đồ đã bị một vòng tròn đỏ rất to bao trùm hoàn toàn. Những bức tường khác của trường học treo đầy những bức tranh vẽ màu sắc rực rỡ của nhà trẻ. Lasky vạm vỡ, để chòm râu dê màu lanh, một cái mũi đỏ vì rượu, nhìn là biết cuộc sống hưởng thụ; ông ta dẫn khách ra cửa sau, dọc theo con đường nhỏ phủ đầy lá rụng, đi đến trận địa pháo được xây bằng bê tông, những người lính râu ria xồm xoàm, toàn thân lấm lem bùn đất, đang cởi trần khuân đạn pháo. Đại tá ra hiệu cho khách đi tiếp về phía trước, tự mình leo lên một con dốc bê tông không quá dốc, rồi bước lên những bao cát. Byron theo sau đại sứ. Trước mắt họ là một vùng đồng bằng rậm rạp cây cối, trải dài về phía đông, có thể thấy lác đác những ngôi nhà, nông trại và ba ngọn tháp nhà thờ cách nhau khá xa. Byron biết những cột khói đậm đặc đó phun ra từ trận địa pháo của quân Đức.
Đại sứ và đại tá leo lên dốc, thở hổn hển, chỉ tay về phía những ngọn tháp nhà thờ nói không ngớt. Đại sứ còn vội vã ghi chép, thỉnh thoảng dịch vài câu cho Byron nghe. Theo thỏa thuận ngừng bắn, ông ta nói, những người tị nạn nước trung lập sẽ đi qua chiến tuyến mà không có sự hộ tống của người Ba Lan để đến phòng tuyến của Đức, phải đi về hướng ngọn nhà thờ xa nhất, quân đội Đức sẽ phái xe tải đến đó đón họ. Đại tá Lasky lo lắng một số người tị nạn có thể vì biển chỉ dẫn trên đường nhỏ không rõ ràng mà đi nhầm vào con đường dẫn đến ngọn nhà thờ khác, kết quả là sau khi thời gian đình chiến hai giờ mà người Đức đảm bảo kết thúc, họ sẽ rơi vào làn đạn chéo của hai bên giao chiến. Vì vậy, ông ta mới mời đại sứ Thụy Điển ra để khảo sát lộ trình trước.
"Ông ấy nói," đại sứ khép cuốn sổ tay lại, nói với Byron. "Từ tháp canh kia nhìn là rõ nhất, có thể phân biệt được vài con đường dẫn đến nhà thờ Kantolowicz."
Byron nhìn lên một tòa tháp gỗ cao mảnh khảnh đứng bên cạnh sân trường. Có một chiếc thang hẹp dẫn lên một cái bệ vuông có mái che bằng sắt, anh nhìn thấy trên bệ có một người lính đội mũ sắt.
"Vậy tôi lên xem thử, được không? Có lẽ tôi có thể vẽ một bản phác thảo."
"Đại tá nói, hỏa lực của quân Đức rất chú ý đến tòa tháp này." Byron khinh khỉnh cười nhạt.
Vị đại sứ mỉm cười thân thiện, đưa cuốn sổ tay và bút cho anh. Byron vội vàng chạy tới, leo lên thang, tòa tháp gỗ cũ kỹ rung lắc theo từng bước chân của anh. Từ trên tháp nhìn xuống địa hình xung quanh rõ mồn một. Anh có thể nhìn thấy mọi con đường dẫn qua vùng đất không người này tới nhà thờ xa xôi và từng ngã rẽ của những con đường nhỏ màu nâu ngoằn ngoèo. Người lính trực ban hạ ống nhòm xuống, ngơ ngác nhìn chàng thanh niên người Mỹ mặc áo cổ bẻ và chiếc áo len rộng thùng thình, chỉ thấy anh dùng tay giữ những tờ giấy đang bị gió thổi bay loạn xạ, đang vẽ phác thảo vào cuốn sổ của đại sứ, mỗi ngã rẽ không dẫn đến nhà thờ đều được đánh dấu "X", còn vội vã đánh dấu thêm ba ngọn nhà thờ khác xung quanh lộ trình rút lui. Khi Byron đưa bản phác thảo cho người lính xem, người lính gật đầu, vỗ vai anh.
"OK," anh ta nói, cười toe toét, đắc ý vì mình có thể nói tiếng Mỹ.
Khi xe chạy đến, Natalie đang khoanh tay dựa vào cửa mở của ngôi nhà tranh. Cô vội vã chạy về phía chiếc xe, một lát sau Leslie cũng theo tới, ông ta nói lời tạm biệt với một bà lão quấn khăn, đi đôi ủng nặng nề trước. Trên đường trở về Warsaw, vị đại sứ kể lại chuyện họ đi thị sát tiền tuyến cũng như việc Byron mạo hiểm leo lên tháp gỗ. Lúc này Byron đang đặt cuốn sổ tay lên đầu gối để vẽ bản đồ.
"Vẽ bốn bản tôi nghĩ là đủ rồi chứ?" Anh nói với vị đại sứ.
"Tôi nghĩ là đủ rồi. Cảm ơn cậu." Vị đại sứ nhận lấy cuốn sổ tay. "Có lẽ chúng ta kịp in thạch bản một vài bản. Vẽ rất tốt."
Natalie nắm lấy tay Byron, đặt lên đầu gối mình. Cô ngồi giữa anh và Leslie, nắm chặt ngón tay anh, đôi mắt đen láy khẽ nheo lại, nghiêm túc nhìn anh. Mu bàn tay anh cảm nhận được da thịt đùi cô và phần dây đeo bít tất nhô lên qua lớp vải mỏng của chiếc váy xanh. Leslie vừa điềm tĩnh hút thuốc, nhìn ra ngoài cửa sổ, bàn với đại sứ về việc triệu tập và vận chuyển người rút lui, vừa không ngừng liếc nhìn hai bàn tay đang nắm chặt trên đầu gối cô gái. Sắc mặt ông ta tái nhợt, một khối cơ trên cằm giật giật dưới da.
Trong đại sứ quán người nói ồn ào, một mảng hỗn loạn. Văn phòng thị trưởng vừa thông báo, xác định ngừng bắn vào lúc một giờ. Xe tải quân sự Ba Lan sẽ đưa nhóm người Mỹ này đến điểm xuất phát, mỗi người có thể mang theo một chiếc vali. Mọi người tiếp tục chạy ngược chạy xuôi. Những người Mỹ sống bên ngoài đại sứ quán đều nhận được thông báo qua điện thoại. Khắp tòa nhà tỏa ra mùi giấy cháy, những mảng tro giấy đen bay loạn xạ trong hành lang.
Dưới tầng hầm, giường của Mark Hartley nằm sát giường của Byron. Byron thấy anh ta còng lưng, hai tay ôm đầu, ngồi cạnh một chiếc vali đã buộc chặt, kẹp một điếu xì gà đã tắt giữa các ngón tay. "Chuẩn bị xong chưa, Mark?"
Hartley sắc mặt u ám, mắt lồi ra, lộ vẻ hoảng sợ. "Byron, tên tôi là Horowitz. Marvin Horowitz."
"Đừng nói bậy, làm sao họ biết được chuyện này?" Byron lôi từ dưới chiếc giường nhỏ của mình ra một chiếc túi xách cũ có khóa lò xo.
Hartley lắc đầu. "Tôi không biết mình bị sao nữa. Chắc là phát điên rồi. Tôi chưa bao giờ nghĩ sẽ xảy ra chuyện như thế này. Tôi không biết mình đang nghĩ gì. Có lẽ Roosevelt sẽ để chúng ta rời đi bằng máy bay quân sự. Rất có thể là vậy. Tôi chưa bao giờ thấy tâm thần bất an như bây giờ. Chúng ta sẽ rơi vào tay người Đức. Người Đức."
"Để cái này vào túi của cậu đi," Byron vừa thu dọn đồ đạc vừa rút một cuốn sách cũ có bìa cứng đưa cho anh ta. "Vực dậy tinh thần lên. Cậu là người Mỹ, thế là xong. Một người Mỹ tên là Hartley."
"Tôi sinh ra đã có khuôn mặt và cái mũi của gia đình Horowitz rồi. Đây là cái gì? 'Tân Ước'? Cần cái này làm gì?"
Byron lấy cuốn sách có in cây thánh giá vàng trên bìa, cẩn thận xé bỏ tờ trang bìa có ghi tên mình. "Làm một tín đồ Cơ Đốc giáo ngoan đạo đi. Cầm lấy đi. Đừng ngồi đây lo lắng nữa, đi giúp Robinson tiêu hủy tài liệu đi."
"Giá mà tôi có cuốn 'Kinh Thánh' hoặc sách cầu nguyện của riêng mình thì tốt biết mấy," Hartley lầm bầm, mở túi xách ra. "Tôi kể từ sau khi học luật theo ý muốn của Chúa, thì không còn bước chân vào giáo đường Do Thái nữa. Một ông lão Do Thái hôi hám đã dạy tôi thuộc lòng rất nhiều kinh văn khó hiểu. Tôi học thuộc lòng chủ yếu là để làm mẹ vui, nhưng cũng chỉ đến thế thôi. Sau đó tôi không bao giờ về nhà lần nào nữa. Giờ tôi ước gì mình còn nhớ những bài cầu nguyện đó, dù là đoạn nào cũng được." Anh ta nhìn xuống tầng hầm hỗn loạn. "Cầu Chúa phù hộ, giờ tôi thấy cái tầng hầm nhỏ bé này chẳng khác nào một mái nhà ngọt ngào. Chỉ cần cho tôi ở lại đây, tôi sẵn sàng trả bất cứ giá nào. Cậu nghĩ bốn người chúng ta có ngày nào đó sẽ lại tụ tập chơi bài bridge không? Có lẽ ở New York?"
"Sẽ nhanh hơn cậu tưởng đấy."
"Cầu Chúa nghe được lời cậu nói. Đây là câu cửa miệng của mẹ tôi đấy."
Mười một giờ rưỡi, xe tải quân sự ầm ầm chạy đến đại sứ quán; chiếc xe cũ nát lắc lư, dính đầy bụi bẩn và bùn lầy, lớp sơn màu xám đã khó mà nhận ra. Xe vừa đến, hơn một trăm người Mỹ chen chúc trong hàng rào cỏ liền reo hò, và hát những bài ca nhỏ như "Tôi đến California". Nhân viên người Ba Lan, đa số là các nữ thư ký, đều rất buồn bã, họ bắt đầu mang cà phê và bánh ngọt ra.
"Nhìn họ tôi thấy xấu hổ quá," Natalie nói với Byron. Lúc này vừa đúng có hai cô gái Ba Lan bưng khay đi ngang qua họ, trên mặt cố nặn ra nụ cười đơ cứng, trong hốc mắt lấp lánh những giọt lệ.
"Biết làm sao được?" Byron đói bụng, cắn một miếng bánh thô màu xám, nhăn mặt. Bánh ăn có mùi bột sống và tro giấy.
"Chẳng còn cách nào cả." Byron nói: "Mark Hartley bị người Đức dọa cho khiếp vía rồi. Còn em thì sao?"
Đôi mắt Natalie đột nhiên lóe sáng. "Họ có thể làm gì tôi chứ? Tôi có hộ chiếu Mỹ. Họ không biết tôi là người Do Thái."
"Vậy thì tốt, đừng nói cho họ biết. Ý anh là, đừng đột nhiên đóng vai anh hùng hay gì đó, được không? Mục đích của chúng ta cũng chỉ là thoát khỏi địa ngục này thôi."
"Em không phải kẻ ngốc đâu, Byron."
Một sĩ quan Ba Lan hét lên, cánh cửa mở ra, người Mỹ ùa cả lên xe. Có người tuổi đã cao, leo lên không nổi, có người lại muốn mang theo quá nhiều hành lý. Tài xế và sĩ quan người Ba Lan đều vô cùng sốt ruột, đầy vẻ mất kiên nhẫn, cũng chẳng có ai đứng ra quản lý. Thế là người thì gào thét, người thì than vãn, kẻ khóc lóc, người nắm chặt nắm đấm. Tuy nhiên, phần lớn mọi người dù đang bụng đói cồn cào, thân thể cũng chẳng dễ chịu gì, nhưng vì sắp được khởi hành nên đều cảm thấy phấn khởi, vẫn tiếp tục ca hát, nói cười. Những chiếc xe tải nối đuôi nhau rời đi. Chiếc cuối cùng là một chiếc sedan Chevrolet màu đen, trên chắn bùn phía trước treo lá cờ Mỹ, trong xe ngồi Slote, ba trợ lý cấp cao nhất của ông ta cùng vợ của hai người trong số đó. Các nữ thư ký người Ba Lan đứng ở cổng lớn, vẫy tay từ biệt, nước mắt lăn dài trên má. Byron và Natalie ôm chặt lấy eo nhau, lắc lư trong thùng xe tải. Slote đã bảo Natalie ngồi xe Chevrolet, nhưng cô lắc đầu, không nói một lời nào.
Tiếng pháo vẫn cực kỳ dữ dội, từ xa vọng lại những tiếng nổ ầm ầm. Trên bầu trời đầy khói bụi vào buổi trưa, ba đội máy bay ném bom của Đức xếp thành hình chữ V đang bay chậm rãi tầm thấp để thả bom, cùng với đó là tiếng pháo cao xạ Ba Lan gầm vang. Những chiếc xe đi đi dừng dừng trên con phố bị đánh phá, len lỏi trong lối đi hẹp với những tòa nhà màu vàng hai bên. Có lúc để tránh hố bom và vết xích xe tăng, họ buộc phải lái lên cả vỉa hè. Có lần, vì một tòa nhà vừa đổ sập chặn đứng lối đi, họ đành phải lùi xe để thoát ra khỏi một con phố lớn.
Tại đầu cầu bắc qua sông Vistula, những chiếc xe của các đại sứ quán treo cờ các nước đang tập trung lại. Trên cầu chật cứng xe cộ của những người di tản, không thể nhích thêm được một bước. Ở Warsaw có khoảng hơn hai nghìn kiều dân các nước trung lập, rõ ràng ai nấy đều có ý định rời đi. Byron liên tục xem đồng hồ. Xe bắt đầu nhích dần về phía trước, nhưng di chuyển cực kỳ chậm chạp, anh lo rằng không thể kịp đến điểm xuất phát vào lúc một giờ. Những quả pháo của Đức vẫn tiếp tục rít qua, rơi xuống lòng sông, hất tung lên những cột nước như đài phun, nước sông đôi khi rơi cả lên cầu và xe cộ. Rõ ràng, người Đức cho rằng nếu có thể tiêu diệt tám chín phần mười kiều dân trung lập trên cầu trước giờ ngừng bắn mười lăm phút thì quả là chuyện dễ như trở bàn tay. Đoàn xe cuối cùng dừng lại bên cạnh một ngôi trường có bức tượng ngỗng bằng đá, gần đó là một bãi chứa hàng. Đại tá Rakowski và Đại sứ Thụy Điển đứng sóng đôi giữa đường, lớn tiếng đưa ra chỉ dẫn cho những người xuống xe, đồng thời phát cho họ những tờ thông báo in bằng máy in thạch bản. Byron thấy ai nấy đều đòi lấy bản phác thảo anh vẽ trên giấy sáp, rồi chăm chú chép lại, ngay cả ba ngôi nhà thờ anh vẽ nguệch ngoạc cũng được họ vẽ lại y hệt. Byron cảm thấy khá đắc ý vì những bức vẽ này đều do chính tay mình thực hiện.
Tiếng pháo trong khu rừng quanh trường vẫn không ngừng vang lên, nhưng đến năm phút trước một giờ, tiếng pháo bắt đầu thưa thớt dần. Đúng một giờ, tất cả đại bác đều im bặt. Lúc này chỉ còn nghe thấy tiếng người di tản bàn tán xôn xao bằng đủ thứ ngôn ngữ bên hai vệ đường. Byron thậm chí còn nghe thấy tiếng chim hót và tiếng dế kêu. Anh cảm thấy sâu sắc rằng tiếng dế kêu là âm thanh đại diện cho cuộc sống hòa bình nhất trên thế giới. Loa phóng thanh lần lượt phát thông báo cuối cùng bằng các thứ tiếng. Từng nhóm kiều dân trung lập xách va li, đi xuống con dốc dọc theo đường cái. Cuối cùng, loa phóng thanh phát bằng tiếng Anh với giọng điệu đậm chất Ba Lan: "Xin đừng đi lạc. Gặp ngã rẽ đừng đi sai đường. Phía Đức thông báo, bất kỳ ai không đến được nhà thờ Kantolowicz trước ba giờ, phía Đức sẽ không chịu trách nhiệm. Phía Ba Lan cũng không thể chịu trách nhiệm. Ngay cả người cao tuổi đi bộ một giờ cũng hoàn toàn có thể đến được địa điểm đó. Kẻ địch chắc chắn sẽ khôi phục pháo kích vào lúc ba giờ. Chúng ta cũng sẽ dùng hỏa lực mạnh nhất để đáp trả ngay từ đầu. Do đó, xin hãy tăng tốc độ. Chúc mọi người bình an. Nước Mỹ vạn tuế. Ba Lan vạn tuế." Nghe thấy thông báo, người Mỹ đều xách va li đi về phía vùng đất không người.
Hai ba trăm thước đầu tiên không khác gì những khu vực khác của Blach, nhưng đi tiếp về phía trước, con đường nhựa biến thành đường đất hẹp, chỉ đủ cho một cỗ xe ngựa đi qua. Họ đi ngang qua những ngôi nhà bị đánh bom. Trong chuồng gia súc không còn con vật nào, thỉnh thoảng chỉ có một con gà bị bỏ rơi kêu cục tác, đi lang thang khắp nơi, hoặc vài con mèo lặng lẽ nhảy nhót. Con đường đi sâu vào rừng, ánh nắng xuyên qua tán lá đổ xuống những cột sáng màu vàng lục. Người dẫn đầu nhóm người Mỹ là một mục sư già cao lớn của Giáo hội Anh giáo, mặc bộ đồ đen cổ bẻ, mỗi khi đến ngã tư, ông đều đối chiếu với bản đồ của Byron. Theo tính toán của Byron, trong tình huống bất thường này, họ đã mất đúng một giờ để đi bộ chậm rãi qua vùng đệm giữa hai quân đội đang im lặng đối đầu. Sau này nhớ lại, anh cảm thấy lúc đó cứ như đang cùng nhau đi dạo trong khu rừng thoang thoảng hương hoa vào mùa thu thời bình vậy. Trên con đường bẩn thỉu và trong rừng, đâu đâu cũng là những cánh hoa rơi màu xanh, cam và trắng; chim chóc ríu rít không ngừng; xung quanh lại là tiếng dế kêu kỳ diệu. Anh còn nhớ, vì quá căng thẳng nên cổ họng khô khốc, khát đến mức cạn kiệt, khát đến nỗi chân tay mềm nhũn. Byron còn nhớ hai chuyện, một là chiếc sedan màu đen của nhà ngoại giao vượt qua họ, đẩy những người đi bộ ra lề đường, Slote ngồi ở ghế trước cười ha hả, vẫy tay chào anh và Natalie; chuyện kia là lúc sắp đến đích, ở chỗ rẽ đã có thể nhìn thấy nhà thờ Kantolowicz, Mark Hartley tiến lên phía trước, khoác lấy cánh tay anh, nói với anh: "Tên tôi là Mark Hartley, tôi là một tín đồ Cơ Đốc giáo sùng đạo!" Nói rồi ông ta cười với Byron, mặt cắt không còn giọt máu, đã sợ đến hồn xiêu phách lạc.
Họ nhanh chóng nhìn thấy pháo Đức và pháo thủ Đức trong rừng. Lựu pháo Đức lớn hơn pháo Ba Lan, vẻ ngoài đẹp hơn, thiết kế tiên tiến hơn. Các binh sĩ, mỗi người đội một chiếc mũ sắt to màu xám đất sạch sẽ, đứng bất động bên cạnh đại bác, nhìn đám đông đi ngang qua. Byron tò mò quan sát những người lính Đức này. Đội mũ sắt trông quả thực có khí thế của quân nhân, nhưng phần lớn họ còn rất trẻ, và khuôn mặt trông giống hệt những người Đức mà anh từng thấy ở Munich và Frankfurt. Nhiều người đeo kính. Thật khó tin rằng họ chính là đám người xấu xa đó, chính họ đã trút sắt thép và đạn pháo xuống thành phố Warsaw, dùng lửa thiêu chết phụ nữ mang thai, dùng súng đánh gãy tay chân của trẻ em, biến một thủ đô phồn hoa thành một lò sát sinh. Họ trông chẳng qua chỉ là những thanh niên mặc quân phục, đội mũ sắt trang nghiêm trong khu rừng rợp bóng mát, nơi chim chóc và dế kêu rộn rã mà thôi.
Ban đầu, người Đức đối xử với nhóm người di tản này có vẻ tốt hơn người Ba Lan. Bên vệ đường gần lớp học có đỗ một xe chở nước do la kéo, đó là một chiếc bình nước lớn có bánh xe sơn màu ô liu, binh sĩ Đức để đám đông đang khát nước xếp hàng, dùng cốc thiếc để cấp nước cho họ. Những binh sĩ khác lại đưa họ từ chỗ xe chở nước đến nơi đỗ những chiếc xe tải màu xám mới tinh, đẹp đẽ, hoa văn trên lốp xe đen và sâu, khác hẳn với những chiếc xe tải Ba Lan bẩn thỉu và rách nát. Bên cạnh một chiếc bàn bên đường có vài sĩ quan Đức, mặc áo khoác quân đội dài, đội mũ kê-pi vành cao, cố tình tỏ ra ân cần, bày ra dáng vẻ hòa nhã để trò chuyện với các nhân viên ngoại giao vừa đến. Khi người của mỗi nước đi đến trước xe tải, đại sứ hoặc đại diện của nước đó sẽ giao một danh sách đánh máy cho một binh sĩ Đức đeo kính ngồi sau bàn. Người này gọi tên, sau đó từng người theo thứ tự lên xe, trên xe có ghế ngồi bằng gỗ, cũng không giống xe tải Ba Lan. Người Ba Lan không yêu cầu danh sách. Bây giờ không còn ai tranh giành, cũng không xảy ra hỗn loạn. Các binh sĩ cầm ghế đẩu nhỏ đứng bên cạnh đỡ người già lên xe, còn tươi cười bế vài đứa trẻ lên, cố tình chọc chúng, đùa giỡn với chúng, sau đó trao lại cho mẹ chúng. Các y tá của bệnh viện dã chiến di động mang biểu tượng Chữ Thập Đỏ phát thuốc hồi sức. Hai lính Đức cầm máy quay phim và máy ảnh chạy tới chạy lui, thu lại từng cảnh ưu đãi người của các nước trung lập vào ống kính. Người còn chưa xếp hết, khẩu đại bác bên cạnh nhà thờ đã đồng loạt khai hỏa, làm rung chuyển mặt đất. Byron nhìn đồng hồ, đúng ba giờ lẻ một phút.
"Warsaw tội nghiệp," Natalie nói.
"Đừng nói chuyện," Mark Hartley nói bằng giọng khàn đặc. "Trước khi chúng ta rời khỏi đây, đừng nói bất cứ điều gì." Cả hai cùng Byron ngồi ở hàng ghế cuối cùng của xe tải, từ đây họ có thể nhìn ra bên ngoài.
Natalie nói: "Anh đang nhìn Slote đúng không? Ông ta nhận lấy một điếu thuốc từ tay người Đức, còn la hét, cười ha hả nữa! Thật không thể tin được. Những sĩ quan Đức này đều mặc áo khoác dài, đội mũ kê-pi cao, hoàn toàn giống hệt trong phim của họ."
"Em sợ sao?" Byron hỏi.
"Bây giờ mọi chuyện đã thực sự xảy ra rồi, em lại không sợ nữa. Không biết tại sao, em thấy cứ như đang nằm mơ vậy."
"Là mơ," Hartley nói. "Đáng lẽ chỉ nên là một giấc mơ. Lạy Chúa tôi. Viên sĩ quan đó đang đi về phía này cùng với Slote." Hartley dùng tay túm lấy đầu gối Byron.
Viên sĩ quan đó là một thanh niên tóc vàng, trên mặt nở nụ cười thân thiện, đi thẳng về phía Byron, dùng giọng điệu vô cùng dễ nghe, chậm rãi và chính xác nói: "Cấp trên của ông nói với tôi, cha ông là tùy viên hải quân Mỹ tại Berlin."
"Vâng, thưa ông, ông ấy là tùy viên hải quân tại Berlin."
"Tôi là người Berlin. Cha tôi làm ở Bộ Ngoại giao." Viên sĩ quan dùng tay chạm vào chiếc ống nhòm treo trên cổ. Cử chỉ của anh ta không giống quân nhân lắm, thậm chí còn có vẻ hơi ngại ngùng. Byron cảm thấy có lẽ anh ta cảm thấy hơi áy náy, Byron có thiện cảm với người Đức ở điểm này. "Tôi nghĩ tháng Tám vừa rồi tôi đã có vinh hạnh được gặp cha mẹ ông tại Đại sứ quán Bỉ, và đã khiêu vũ với mẹ ông. Ông đến Warsaw để làm gì?"
"Để tham quan."
"Vậy chắc ông đã nhìn thấy một vài cảnh tượng không bình thường rồi nhỉ?"
"Không tệ." Viên sĩ quan cười, chìa tay ra với Byron. "Ernst Beyer," anh ta nói, rồi chào theo kiểu quân đội.
"Byron Henry."
"À, không tệ, Henry. Tôi nhớ cái họ này. Ông thế nào, vẫn thoải mái chứ? Có cần tôi tìm cho ông một chỗ trên xe của Bộ tham mưu không?"
"Tôi ổn. Chúng ta đi đâu vậy?"
"Klovno. Đây là trạm trung chuyển gần nhất có thể thông xe, từ đó các ông sẽ đổi sang xe chuyên dụng để đến Königsberg. Chỉ mất hơn ba giờ đi đường thôi. Đi xe con còn có thể mãn nhãn hơn nữa."
"Tôi đi cùng những người này. Tôi muốn ở cùng họ. Đa tạ ông." Khi nói, Byron vẫn tỏ ra rất chân thành, từ khi anh bắt đầu căm ghét người Đức, việc mình vẫn có thể trò chuyện lịch sự như vậy với một sĩ quan Đức khiến chính anh cũng cảm thấy vô cùng kỳ lạ.
Slote nói với Natalie: "Trong chiếc Chevrolet vẫn còn một chỗ cho cô. Ngồi ghế gỗ cứng khổ sở lắm." Cô lắc đầu, sa sầm mặt nhìn người Đức.
"Xin hãy gửi lời hỏi thăm mẹ cô," viên sĩ quan nói, liếc nhìn cô gái một cái rồi lại nói với Byron: "Cô ấy thật quyến rũ."
"Tôi nhất định sẽ chuyển lời."
Vài khẩu đại bác gần đó lại liên tiếp khai hỏa, át cả lời viên sĩ quan. Anh ta nhíu mày, mỉm cười. "Warsaw bây giờ thế nào? Thảm lắm phải không?"
"Họ có vẻ vẫn trụ vững."
Beyer nói nửa với Natalie, nửa với Byron: "Thật không ra làm sao! Chính phủ Ba Lan hoàn toàn vô trách nhiệm, bỏ chạy sang Romania, khiến cả đất nước chẳng có lấy một người đứng đầu. Hai tuần trước lẽ ra nên tuyên bố Warsaw là thành phố không phòng thủ. Phá hủy như vậy thật không đáng. Xây dựng lại sẽ phải trả giá rất đắt. Thị trưởng thì khá dũng cảm, ở đây người ta rất kính trọng ông ta, nhưng," anh ta nhún vai. "Trừ khi phá hủy nó, còn có cách nào khác không? Một hai ngày nữa là kết thúc thôi."
"Có lẽ cần nhiều thời gian hơn," Byron nói.
"Ông nghĩ vậy sao?" Nụ cười vui vẻ của Beyer biến mất. Anh ta khẽ cúi chào, nghịch nghịch chiếc kính rồi bỏ đi. Slote lắc đầu với Byron, cũng đi theo sau viên sĩ quan.
"Tại sao anh cứ phải đi trêu chọc anh ta?" Hartley thì thầm.
"À, lạy Chúa. Vậy mà lại đổ trách nhiệm bao vây thành phố lên đầu chính phủ Ba Lan!"
"Anh ta nghĩ như vậy đấy," Natalie ngạc nhiên nói. "Anh ta nói thật lòng đấy."
Có người hô vài câu bằng tiếng Đức, tiếp theo là tiếng động cơ và tiếng còi xe, các binh sĩ vẫy tay chào tạm biệt, đoàn xe cuối cùng cũng rời khỏi nhà thờ Kantolowicz. Đây là một ngôi làng nhỏ, quanh nhà thờ có năm sáu căn nhà gỗ, vẫn nguyên vẹn nhưng cũng đã bị bỏ hoang. Những người di tản này kể từ khi rời trường học đã không còn nhìn thấy một người Ba Lan nào, dù là còn sống hay đã chết. Xe tải xóc nảy trên con đường đất hẹp, dọc đường toàn là những kho thóc bị đốt cháy, nhà cửa bị đánh sập, cối xay gió bị xô đổ, nhà thờ bị phá hủy và những ngôi trường không cửa sổ hoặc mái che, mặt đất bị tàn phá, đầy rẫy hố bom, cây cối bị đốt thành than. Tuy nhiên, những cảnh tượng này vẫn hoàn toàn không giống như sự mô tả về chiến trường cuộc đại chiến trước đây trong phim ảnh hay sách vở, đó là một vùng hoang mạc không một ngọn cỏ, đâu đâu cũng là dây thép gai và những chiến hào đen ngòm ngoằn ngoèo. Những cánh đồng và khu rừng hiện tại vẫn là một màu xanh mướt. Hoa màu vẫn còn trên đồng. Điều bất hạnh duy nhất là cư dân không còn ở đây nữa. Cảnh tượng này cứ như những kẻ xâm lược từ sao Hỏa được mô tả trong tiểu thuyết của Wells, đi qua đây bằng những chiếc xe ba chân bằng kim loại, hóa hơi hoặc ăn thịt tất cả mọi người, khi họ rời đi chỉ để lại rất ít dấu vết. Mãi cho đến khi rời xa phòng tuyến của Đức, họ mới gặp cặp đôi người Ba Lan đầu tiên, đó là một lão nông và vợ đang làm việc trên cánh đồng lúc hoàng hôn; hai người dựa vào nông cụ, nghiêm nghị nhìn đoàn xe đi qua. Càng xa Warsaw, họ càng gặp nhiều nông dân hơn, những nông dân này người thì đang làm việc trên đồng, người thì đang sửa chữa những ngôi nhà bị phá hủy, có người hoàn toàn không thèm để ý đến đoàn xe, có người nhìn đoàn xe đi qua với vẻ mặt vô cảm. Những người này hầu như toàn là người già hoặc trẻ em. Ở vùng nông thôn hẻo lánh như thế này, Byron không nhìn thấy một thanh niên nào, chỉ thỉnh thoảng có hai ba cô gái, từ vóc dáng mảnh mai và động tác linh hoạt mà đoán là thiếu nữ. Điều khiến Byron ngạc nhiên hơn nữa là anh thậm chí không nhìn thấy một con ngựa nào. Ngựa và xe ngựa vốn là một biểu tượng của cuộc sống nông thôn Ba Lan. Từ Krakow đến Warsaw, dọc đường có hàng nghìn con ngựa, chặn kín đường, con thì đang làm việc trên đồng, con thì vận chuyển quân đội, con thì kéo những thứ nặng nề vào thành phố. Nhưng một khi đã đến phía sau phòng tuyến của Đức, loài vật này dường như đã tuyệt chủng.
Con đường quá xóc, không thích hợp để trò chuyện; những người di tản cũng đều rất mệt mỏi; họ ngày càng nhận thức rõ rằng mình đã rơi vào tay người Đức, có lẽ cảm thấy sợ hãi. Vì vậy trong một hai giờ đầu, hầu như khó ai nói được một câu. Họ đi đến một con đường nhựa hẹp, khá nguyên thủy, nhưng so với con đường xe ngựa ở vùng nông thôn hẻo lánh thì đã trở thành một con đường bằng phẳng. Đoàn xe dừng lại bên cạnh một khu vườn cỏ xanh mướt, trên đồi sừng sững một tu viện nữ được bao quanh bởi tường gạch, có lệnh truyền xuống cho các nữ hành khách xuống xe "hít thở không khí". Các phụ nữ vui vẻ xuống xe, đàn ông thì đều chạy ra gốc cây, có người đi tiểu bên vệ đường, đợi đến khi đoàn xe tiếp tục lên đường, tâm trạng mọi người đã nhẹ nhàng hơn nhiều.
Câu chuyện bắt đầu cởi mở. Natalie bắt đầu kể những tin đồn cô nghe được từ nhà vệ sinh nữ. Cô nói, tất cả kiều dân trung lập đều có thể tự do lựa chọn, bay đến Stockholm, hoặc đi tàu hỏa Đức đến Berlin, rồi quá cảnh qua Bỉ, Hà Lan hoặc Thụy Sĩ.
"Anh biết không," mắt cô lấp lánh ánh sáng dịu dàng nói. "Em thật sự muốn đến xem thử Berlin như thế nào."
"Em điên rồi à?" Hartley nói. "Em thực sự điên rồi sao? Chắc chắn là em đang lừa người rồi. Em cứ đi Stockholm đi, tiểu thư, em nên cầu nguyện Chúa phù hộ cho họ có thể để em đến Stockholm. Cô gái này có vấn đề rồi," Hartley nói với Byron. Byron nói: "Lời nhắn của Banriel dành cho Ellen Jastrow cũng áp dụng cho cô. Lekh Lekha."
"Lekh Lekha," cô cười. Byron đã kể cho cô nghe chuyện này. "Đi nhanh lên, hửm? Có lẽ có thể."
"Vì Chúa," Hartley lầm bầm. "Đừng nói tiếng Do Thái nữa."
Những chiếc xe mất bốn, năm giờ đồng hồ trên cánh đồng và khu rừng. Mọi dấu vết của chiến tranh đều biến mất khỏi khung cảnh đẹp như tranh vẽ này. Nhà cửa, nhà thờ, những thị trấn đều nguyên vẹn. Cư dân trông giống như cuộc sống làng quê thời bình của họ. Có rất ít thanh niên, không có ngựa. Bò và gia cầm cũng rất ít. Quảng trường trung tâm thị trấn treo lá cờ chữ A màu đỏ, có lá treo trên cột cờ, có lá treo trên nóc tòa thị chính, binh sĩ Đức đứng gác, cũng có người đi bộ hoặc lái mô tô đi tuần tra. Nhưng vùng đất bị chinh phục này lại là một cảnh tượng hòa bình. Không có gia súc và thanh niên khiến thị trấn trở nên chết lặng, nông dân có lẽ càng thêm ủ rũ, buồn bã, nhưng ngoài việc bị người Đức cai trị, cuộc sống hoàn toàn giống như trước đây.
Mặt trời lặn xuống dưới đường chân trời xa xôi, phía chân trời là một vệt ráng hồng nhạt, ngắn ngủi. Đoàn xe tiến vào màn đêm. Hành khách im lặng. Natalie Jastrow gối đầu lên vai Byron, nắm lấy một bàn tay anh. Cả hai đều đang thiu thiu ngủ.
Mệnh lệnh phát bằng tiếng Đức đánh thức họ. Ánh đèn chói lóa. Họ đã đến quảng trường trước một nhà ga lớn, mọi người đang xuống từ những chiếc xe tải xếp thành hàng dài. Cửa dưới của xe tải vẫn còn đóng, hai lính Đức đội mũ sắt đi tới, "cạch" một tiếng mở cửa. "Bitter aus! Alle im Wartesaal!!" Thái độ của họ tỏ ra rất thoải mái, không có biểu hiện thù địch, nói xong liền đứng sang một bên đỡ phụ nữ và người già xuống xe. Đây là một đêm trăng se lạnh, những gì Byron nhìn thấy không phải là khói lửa mù mịt, mà là màn đêm, trên đỉnh đầu là những vì sao lấp lánh, anh vì thế mà cảm thấy vui mừng.
Những người di tản đều tập trung hỗn loạn trong phòng chờ, ánh đèn vẫn chói lóa. Hai cánh cửa ở một đầu phòng chờ lớn mở ra, các binh sĩ hô bằng tiếng Đức, đi bên cạnh Byron và Natalie, dẫn đám đông vào trong. Byron xách va li giúp họ, Hartley như một đứa trẻ khoác lấy cánh tay Byron. Họ đến một nhà hàng, bên trong bày đầy những chiếc bàn dài ghép từ ván gỗ dày, trên bàn bày đầy thức ăn.
Đây là bữa tiệc thịnh soạn nhất mà Byron từng thấy trong đời, sau cuộc hành trình dài, cùng với ba tuần bị bao vây ở Warsaw, thức ăn rất tệ khiến anh đói cồn cào, vì vậy ít nhất là trong khoảnh khắc đầu tiên khiến anh kinh ngạc này, anh cho rằng bữa tiệc này rất thịnh soạn. Trên bàn bày đầy những đĩa xúc xích hun khói lớn, cải bắp muối, những tảng thịt nguội đỏ tươi, những đống khoai tây luộc và gà rán, những chồng bánh mì tươi, những bình bia lớn, rất nhiều tảng phô mai màu vàng và cam. Nhưng có vẻ đây là một trò đùa quái ác, một âm mưu tàn nhẫn mà bọn Phát xít giở trò, một bữa tiệc Barmecide. Bởi vì các binh sĩ đưa những người trung lập này từ bên cạnh bàn đến sát tường. Họ có tổng cộng vài trăm người, đều đứng sát tường, trố mắt nhìn thức ăn bày ở phía xa, vài binh sĩ Đức cảnh giác cầm súng tiểu liên Thompson chĩa xuống đất, đứng giữa họ và bàn ăn.
Từ loa phóng thanh phát ra tiếng Đức rất rõ ràng: "Chào mừng! Nhân dân Đức tiếp đón các vị. Chúng ta chào mừng công dân các nước trung lập trong không khí hòa bình hữu nghị. Nhân dân Đức mưu cầu hòa bình với tất cả các quốc gia. Quan hệ với Ba Lan hiện đã bình thường hóa. Chính quyền phản bội Smigly-Rydz đã chịu sự trừng phạt thích đáng, không còn tồn tại nữa. Một nước Ba Lan hoàn toàn mới, đã được thanh lọc, tuân thủ pháp luật sẽ ra đời từ đống đổ nát, mọi người sẽ làm việc chăm chỉ ở đó, những chính trị gia vô trách nhiệm không thể kích động những hành động phiêu lưu tai hại từ nước ngoài nữa. Quốc trưởng hiện nay có thể giải quyết hòa bình các vấn đề trọng đại tồn tại giữa Đại Anh và Pháp, từ đó thiết lập một trật tự mới thống nhất chưa từng có ở châu Âu. Bây giờ chúng tôi mời mọi người vào bàn dùng bữa. Chúc các vị ngon miệng!"
Mười hai cô gái tóc vàng, mặc đồng phục phục vụ màu trắng, tay cầm bình cà phê và những chồng đĩa, tiến vào đại sảnh như thể các diễn viên đang bước ra sân khấu. Những người lính mỉm cười rời khỏi bàn, dùng súng tiểu liên ra hiệu mời họ ngồi xuống. Một khoảnh khắc ngượng ngùng và sợ hãi bao trùm. Có người đầu tiên trong hàng ngũ những người trung lập ngập ngừng bước ra, rồi người khác cũng theo sau, băng qua khoảng trống giữa họ và những chiếc bàn. Một vài người khác tiếp bước, có người ngồi xuống ghế đẩu bắt đầu lấy thức ăn, rồi tiếng ồn ào nổi lên, đám đông đổ xô vào.
Byron, Natalie và Hartley cũng như những người khác, lao lên tranh chỗ ngồi, rồi bắt đầu thưởng thức bữa tối thịnh soạn, ngọt ngào và ngon miệng nhất trong đời họ. Điều khiến họ đặc biệt hài lòng là món cà phê, mặc dù chỉ là đồ thay thế nhưng rất nóng, và những cô gái vui vẻ, đầy đặn kia hoàn toàn đáp ứng mọi yêu cầu của họ, liên tục chủ động rót thêm cà phê. Khi họ đang ngấu nghiến ăn, loa phóng thanh phát nhạc hòa tấu, có điệu Waltz của Strauss, có những bản hành khúc và cả bài hát uống rượu vui tươi. Nhiều người rút lui bắt đầu hát theo, thậm chí cả những người lính Đức cũng hòa giọng.
"Em yêu, em ở trong trái tim anh,"
"Em yêu, em ở trong linh hồn anh..."
Sau vài ly bia, Byron cảm thấy tâm trạng trở nên phấn chấn, bữa tối thịnh soạn, âm nhạc du dương và bầu không khí hân hoan xung quanh khiến anh mê mẩn, anh thậm chí còn vung vẩy bình bia mà hát theo:
"Em yêu, em mang đến cho anh bao bất hạnh,"
"Mà em nào hay biết, anh dành cho em tình cảm chân thành."
"Phải rồi, phải rồi,"
"Phải rồi, phải rồi!"
Mark Hartley cũng hát theo, mặc dù ánh mắt anh ta vẫn không ngừng quan sát những người lính Đức. Natalie lặng lẽ nhìn hai người họ bằng ánh mắt mỉa mai nhưng đầy bao dung.
Sau khi ăn xong bữa tối khó tin, tựa như trong mơ này, họ bước vào phòng chờ với tâm trạng bàng hoàng, nhìn thấy những tấm biển viết vội dán trên tường gạch nâu: Bỉ, Bulgaria, Canada, Hà Lan. Họ đứng dưới tấm biển ghi "Hợp chủng quốc Hoa Kỳ". Những người rút lui giống như vừa đi dã ngoại về, vui vẻ cười nói, tự tìm chỗ của mình. Một nhóm người mặc quân phục đen tiến vào phòng chờ. Người Mỹ ngừng trò chuyện, âm thanh vui vẻ biến mất khỏi toàn bộ nhà ga.
Slote trầm giọng nói: "Mọi người chú ý. Họ là quân SS. Có chuyện gì để tôi nói với họ."
Những người mặc quân phục đen tản ra, mỗi nhóm người từ các quốc gia trung lập đều có một tên SS phụ trách. Tên tiến đến nhóm người Mỹ trông không hung dữ lắm. Nếu hắn không mặc bộ quân phục đen với hai vạch bạc lấp lánh trên cổ áo, trông hắn hoàn toàn giống một người Mỹ, rất giống một nhân viên kinh doanh bảo hiểm trẻ tuổi ngồi cạnh bạn trên tàu hỏa hoặc máy bay. Hắn cầm một chiếc cặp da màu đen. Slote bước ra chào hỏi: "Tôi là Leslie Slote, Bí thư thứ nhất kiêm Đại biện lâm thời của Đại sứ quán Mỹ."
Sĩ quan SS cầm chiếc cặp bằng cả hai tay, đứng nghiêm rồi cúi chào. "Trong đoàn tùy tùng của ông có người tên là Byron Henry không?" Hắn nói tiếng Anh rất trôi chảy.
"Đây là Byron Henry," ông nói. Byron bước lên một bước.
"Cha của ông là đại diện Hải quân Mỹ tại Berlin phải không?" Byron gật đầu.
"Đây là bức thư được chuyển qua Bộ Ngoại giao gửi cho ông." Byron bỏ phong bì màu vàng vào túi áo trước ngực. "Tất nhiên bây giờ ông có thể xem ngay."
"Cảm ơn, để lát nữa tôi xem."
Sĩ quan SS quay sang Slote. "Tôi đến để thu hộ chiếu Mỹ." Giọng hắn nhẹ nhàng nhưng lạnh lùng, ánh mắt cũng thờ ơ, thậm chí không buồn nhìn vị quan chức ngoại giao này. "Xin hãy giao cho tôi." Mặt Slote tái mét. "Tôi có đủ lý do để không giao những cuốn hộ chiếu này."
"Ông cứ yên tâm, đây là thủ tục bình thường. Chúng tôi sẽ giữ hộ trên tàu. Trước khi các ông đến Königsberg sẽ trả lại cho các ông."
"Được rồi." Slote ra hiệu, một trợ lý mang đến chiếc cặp da màu đỏ dày cộp, giao cho tên SS mặc quân phục đen.
"Cảm ơn ông. Xin hãy đưa cho tôi danh sách đoàn."
Người trợ lý lấy ra ba tờ giấy được kẹp cùng nhau. Sĩ quan SS xem qua danh sách rồi nhìn quanh. "Tôi thấy trong nhóm các ông không có người da đen. Nhưng, có bao nhiêu người Do Thái?"
Slote trấn tĩnh lại mới trả lời: "Tôi rất tiếc, hộ chiếu của chúng tôi không ghi chép tôn giáo."
"Nhưng các ông chắc chắn có người Do Thái." Tên đó nói một cách thản nhiên, như thể đang bàn về bác sĩ hay thợ mộc vậy.
"Trong nhóm chúng tôi dù có người Do Thái, tôi cũng chỉ có thể từ chối trả lời. Chính sách của quốc gia chúng tôi là mọi cộng đồng tôn giáo đều được đối xử bình đẳng."
"Nhưng cũng không ai đề nghị đối xử bất bình đẳng cả. Xin hãy cho tôi biết, ai là người Do Thái?" Slote liếm môi, bình tĩnh nhìn hắn. Sĩ quan SS nói: "Ông nhắc đến chính sách của chính phủ các ông. Chúng tôi sẽ tôn trọng chính sách đó. Nhưng chính sách của chính phủ nước tôi là bất cứ việc gì liên quan đến người Do Thái đều phải kiên quyết đăng ký riêng. Ở đây không liên quan đến bất cứ điều gì khác."
Byron đứng cách mọi người hai bước chân, anh rất muốn quay lại xem biểu cảm của Natalie và Hartley, nhưng anh biết nếu nhìn họ sẽ xảy ra chuyện.
Slote cẩn trọng, đưa ánh mắt cầu khẩn đầy bất an lướt qua mọi người. Nhưng khi nói chuyện, ông lại rất bình tĩnh, hoàn toàn là giọng điệu quan liêu. "Tôi rất tiếc. Tôi không biết trong số chúng tôi có người Do Thái. Cá nhân tôi không quan tâm đến điều này, tôi chưa từng hỏi và cũng không có tài liệu nào về vấn đề này."
"Tôi được lệnh phải tách riêng người Do Thái ra," sĩ quan SS nói, "Bây giờ tôi phải thực hiện công việc này." Hắn quay sang nhóm người Mỹ nói: "Xin hãy xếp thành hai hàng theo thứ tự chữ cái họ của các ông." Không ai cử động, mọi người đều nhìn Slote. Tên sĩ quan lại nói với Slote: "Nhóm của ông bây giờ thuộc quyền quản lý của Lực lượng Vũ trang Đức, phải tuyệt đối tuân thủ luật quân sự của chiến khu. Tôi xin nhắc nhở ông điều này."
Slote nhìn quanh phòng chờ, tỏ vẻ rất khó xử. Thụy Sĩ, Romania, Hungary, Hà Lan – đã có người Do Thái của nhiều quốc gia bị tách riêng, họ đứng đó với vẻ mặt đau khổ, xách va li, cúi gầm đầu. "Nhìn xem, nếu ông cứ nhất quyết làm vậy, ông có thể mặc định tất cả chúng tôi đều là người Do Thái." Giọng ông bắt đầu run rẩy. "Còn chuyện gì nữa không?"
Byron nghe thấy một người phụ nữ phía sau anh hét lên: "Đợi đã. Ông có ý gì vậy, ông Slote? Tất nhiên tôi không phải người Do Thái, cũng không muốn bị coi là người Do Thái hay bị đối xử như người Do Thái."
Slote quay người lại, giận dữ nói: "Ý tôi là chúng ta phải đối xử bình đẳng, bà Young, đó là ý của tôi. Xin bà hãy hợp tác với tôi..."
"Không ai có thể coi tôi là người Do Thái," một giọng đàn ông ở phía bên kia nói. "Tôi cũng không định bỏ tiền ra mua cái danh xưng này, rất tiếc, Leslie."
Byron nhận ra giọng của hai người này. Anh quay lại nhìn thấy sĩ quan SS nói với người phụ nữ kia: "Vâng, thưa bà. Xin hỏi bà là ai?"
"Claire Young, người Chicago, bang Illinois, ông chắc chắn có thể khẳng định tôi không phải người Do Thái." Người phụ nữ gầy gò, khô héo này khoảng sáu mươi tuổi, là nhân viên kế toán tại văn phòng Warsaw của công ty phát hành phim Mỹ. Bà ta cười khúc khích, đôi mắt không ngừng liếc qua liếc lại.
"Vậy bà có thể giúp chỉ ra trong số những người này ai là người Do Thái không, thưa bà?"
"À, không, cảm ơn ông. Đó là việc của ông, không phải việc của tôi."
Byron đã đoán trước bà ta sẽ như vậy. Anh lo lắng hơn cho người đàn ông kia, ông ta là một sĩ quan về hưu tên là Tom Stanley, từng bán máy móc hạng nặng cho chính phủ Ba Lan. Stanley luôn tin rằng Hitler là một vĩ nhân và người Do Thái đáng đời bị như vậy, v.v.
Sĩ quan SS hỏi tên Stanley trước, sau đó nói với ông ta như đang trò chuyện với người bình thường: "Xin hãy cho tôi biết, trong nhóm này ai là người Do Thái? Phải đợi đến khi tôi biết thì nhóm các ông mới được rời đi. Xem ra ông còn hiểu chuyện hơn cả vị đại biện của các ông."
Stanley trông giống như một con gà tây già, đôi má xệ xuống, yết hầu thõng xuống, với một nhúm tóc xám. Mặt ông ta đỏ bừng, hắng giọng mấy lần, đút tay vào túi chiếc áo thể thao sặc sỡ màu nâu và xanh lá cây. Những người Mỹ đều nhìn ông ta.
"Được rồi, bạn ạ, tôi sẽ nói cho ông biết, tôi sẵn sàng hợp tác với ông, nhưng theo tôi biết thì trong nhóm chúng tôi không có người Do Thái nào cả."
Sĩ quan SS nhún vai, nhìn từng người Mỹ, rồi chằm chằm nhìn vào Mark Hartley. Hắn giơ hai ngón tay búng một cái. "Anh, đúng rồi, anh đó, người đeo cà vạt xanh, đến đây." Hắn lại búng tay.
"Đứng yên đó," Slote nói với Hartley. Sau đó lại nói với viên sĩ quan: "Tôi muốn biết tên và cấp bậc của anh. Tôi phản đối thủ tục này và tôi cảnh báo anh, nếu sự việc này còn tiếp diễn, hậu quả sẽ dẫn đến việc chính phủ nước tôi gửi công hàm phản đối."
Sĩ quan SS chỉ vào phòng chờ, nói đầy lý lẽ: "Quan chức chính phủ các nước khác đều hợp tác với chúng tôi. Đây là điều ông tận mắt chứng kiến. Không có gì phải phản đối cả. Đây chỉ là tuân thủ quy định địa phương thôi. Này, anh tên gì?"
"Mark Hartley." Giọng anh ta khá bình thản, còn bình tĩnh hơn cả Slote.
"Mark Hartley, tốt." Sĩ quan SS cười lạnh, nụ cười rất đặc biệt, và trừng mắt dữ dội, nụ cười này giống hệt gã lính Ba Lan khi cố giật râu người lái xe taxi trên đường đến Warsaw. "Hartley," hắn lặp lại. "Họ của anh từ khi sinh ra là gì?"
"Chính là họ này."
"Vậy sao! Cha mẹ anh là người ở đâu?"
"Đều là người Mỹ."
"Là người Do Thái?" Byron nói: "Tôi biết anh ấy, thưa ông, ở Warsaw chúng tôi luôn cùng nhau đi nhà thờ. Anh ấy giống tôi, đều là tín đồ đạo Methodist."
Vị mục sư cao lớn với mái tóc xám bạc đứng cạnh Claire Young, lấy ngón tay chạm vào cổ áo linh mục. "Tôi có thể làm chứng điều này. Khi ông Hartley đến nhà thờ, chính tôi là người chủ trì lễ cầu nguyện. Mark là một tín đồ Cơ Đốc giáo sùng đạo."
Sĩ quan SS không tin, hắn nghi ngờ nói với Slote: "Người này chắc chắn là người Do Thái. Tôi nghĩ chỉ cần kiểm tra cơ thể là sẽ..."
Slote ngắt lời hắn: "Đây là xâm phạm thân thể, tôi sẽ báo cáo lên trên. Ở Mỹ, việc cắt bao quy đầu ngay khi mới sinh là chuyện rất bình thường."
"Tôi cũng cắt bao quy đầu," Byron nói.
"Tôi cũng vậy," vị mục sư già nói.
Việc tách riêng người Do Thái của các quốc gia khác trong phòng chờ đều đã kết thúc. Mọi người đều nhìn nhóm người Mỹ này, thì thầm bàn tán và chỉ trỏ vào họ. Các sĩ quan SS tập trung ở cửa, chỉ có một sĩ quan dáng người rắn rỏi nhưng đã hói đầu, cổ áo quân phục đen có trang trí bằng vàng, lúc này bước đến gần nhóm người Mỹ, kéo tên sĩ quan SS kia sang một bên, nhìn Hartley, lầm bầm vài câu. Viên sĩ quan không nói một lời, đẩy những người xung quanh ra, bước đến gần Hartley, cầm chiếc va li của anh lên, mở dây đai.
Slote quát lớn: "Đợi đã, thưa ông. Đây không phải hải quan, không có lý do gì để khám xét đồ đạc cá nhân..." Nhưng sĩ quan SS đã quỳ một chân xuống, mở va li ra, lục lọi lung tung, làm đồ đạc trong va li văng tung tóe khắp sàn. Sau đó, hắn cầm một cuốn "Tân Ước" lên, lật giở trong tay, lộ ra vẻ mặt nửa kinh ngạc nửa khinh bỉ, rồi đưa cuốn sách cho cấp trên của hắn. Tên hói kiểm tra một chút, trả lại cho hắn, rồi vung hai tay trong không trung. "Được rồi," hắn nói bằng tiếng Đức. "Trong một trăm người Mỹ có khả năng không có lấy một người Do Thái nào. Tại sao lại không thể chứ? Mùa hè này mà có người Do Thái đến Warsaw thì chỉ có thể là lũ ngốc. Đi thôi. Tàu đã trễ giờ rồi." Nói xong hắn bỏ đi.
Sĩ quan SS ném cuốn sách bìa đen có in hình thánh giá mạ vàng vào chiếc va li đang mở, hắn dùng chân giẫm lên đống đồ đạc như thể giẫm lên rác rưởi, rồi thô bạo ra hiệu cho Hartley thu dọn đồ đạc của mình. Sĩ quan SS lại nhìn mặt từng người một, hắn đi đến trước mặt Natalie Jastrow, nhìn cô chằm chằm một hồi lâu.
"Này, ông nhìn cái gì?" Cô nói, trái tim Byron chùng xuống.
"Cô trông khá xinh đẹp."
"Cảm ơn."
"Cũng khá ngăm đen. Tổ tiên cô là người ở đâu?"
"Tôi là người Ý."
"Cô tên là gì?"
"Mona Lisa."
"Tôi hiểu rồi. Cô bước ra đây." Natalie bất động. Viên sĩ quan hừ một tiếng, bắt đầu lật xem danh sách. Slote lập tức nói: "Cô ấy là hôn thê của tôi. Tháng sau chúng tôi kết hôn."
Viên sĩ quan hói ở cửa hét lớn, vẫy tay gọi tên sĩ quan SS kia, tên này đành thô lỗ nhét danh sách vào tay Slote. "Rất tốt. Ông rất yêu quý người Do Thái của các ông. Sao ông không thu nhận cả người Do Thái của chúng tôi luôn đi? Chúng tôi ở đây có nhiều lắm." Hắn lại nói với Byron: "Anh là con trai của một sĩ quan hải quân, vậy mà anh lại nói dối cho một tên Do Thái! Người đó chắc chắn là người Do Thái."
"Thú thật là không phải," Byron nói. "Tôi nghĩ, Mark có khuôn mặt kiểu Tiến sĩ Goebbels. Ông biết đấy, ngắn, đen, và một cái mũi to."
"Giống Tiến sĩ Goebbels? Được thôi." Sĩ quan SS liếc nhìn Hartley và Natalie, cười lớn rồi bỏ đi.
Loa phóng thanh phát bằng tiếng Đức: "Tất cả người Do Thái tập trung tại nhà hàng. Những người khác lên tàu ở sân ga số 7."
Những người rút lui đổ xô về phía sân ga tối om. Số ít người Do Thái còn lại quay về nhà hàng, một nhóm quân SS mặc quân phục đen bao vây họ. Lính Đức chặn đám đông bên cạnh tàu hỏa, để các nhân viên ngoại giao lên tàu trước.
Slote thì thầm với Byron: "Tôi đi tìm một toa tàu riêng. Anh hãy tìm tôi ở cửa sổ. Dẫn theo Natalie, Mark, nếu được thì cả mục sư Greenville và vợ ông ấy nữa."
Chẳng bao lâu, qua làn hơi nước cuồn cuộn, Byron nhìn thấy Slote đang vẫy tay với anh trong toa tàu ánh đèn lờ mờ. Byron dẫn bốn người còn lại lao lên tàu, tìm được toa riêng.
"Cảm ơn," sau khi mọi người đã ngồi ổn định, Slote nhẹ nhàng đóng cửa lại, Hartley nói nhỏ. "Vô cùng cảm ơn. Cảm ơn mọi người. Chúa phù hộ các bạn."
"Leslie Slote là một đấng trượng phu," vị mục sư nói. "Ông đã thể hiện rất cao thượng, Leslie."
"Rất cao thượng," Natalie nói.
Slote nhìn cô một cách rụt rè, mỉm cười như thể không tin cô nói lời này là thật. "Đó là vì tôi hoàn toàn có lý lẽ. Ông biết đấy, họ đã muốn lấy tài liệu này từ tôi ở nhà thờ Kantorowicz, nhưng không thành công. Họ đã lấy được từ những người khác. Vì vậy công việc tách riêng bên đó mới tiến hành nhanh như vậy. Nhưng sao cô lại bất ngờ nghĩ ra trò đùa Mona Lisa kia vậy?"
"Điều đó rất mạo hiểm," mục sư nói.
"Đúng là đồ ngốc," Hartley nói. Mặc dù tiếng nói chuyện ngoài hành lang rất lớn, giọng họ vẫn rất nhỏ. Con tàu đứng yên không ngừng phát ra tiếng xì xì và tiếng lách cách, loa phát thanh bên ngoài toa tàu đang gào thét bằng tiếng Đức.
"Còn trò đùa về Goebbels của Byron thì sao?" Natalie nhếch mép cười khinh bỉ nói. "Tôi nghĩ chắc là rất cao tay rồi."
"Hai người xem ra đều không hiểu," Hartley nói, "Lũ người này đều là đao phủ. Đao phủ đấy. Hai người vẫn còn như trẻ con vậy."
Mục sư Greenville nói: "Ông Hartley, tôi không tin vào lời nói đó. Tôi hiểu người dân Đức. Hiện tại chế độ tàn bạo, bất công đang đè nặng lên họ, một ngày nào đó họ sẽ lật đổ nó. Bản chất họ là người tốt."
"Hãy đến Stockholm đi," Natalie nói. "Tôi đã hiểu ra một điều. Tôi không còn tò mò gì về Berlin nữa."
"Trước tiên cô phải lấy lại hộ chiếu của mình đã," Hartley nói. Trên khuôn mặt vui vẻ của anh ta hằn lên những nếp nhăn của sự trải đời. Người Do Thái vô gia cư này mặc chiếc áo thể thao kiểu Mỹ, trông đặc biệt già nua, già đến mức không tưởng tượng nổi.
Con tàu rung lên một tiếng rồi chuyển bánh. Byron bèn lấy chiếc phong bì màu vàng ra. Trên một tờ giấy công văn của Lực lượng Vũ trang Đức, nội dung bức điện được viết bằng tiếng Anh: Biết con bình an rất mừng, mau đến Berlin. Cha.