Gió Bão Chiến Tranh (1939–1941)

Lượt đọc: 330 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9

❊ ❊ ❊

Lời tựa của dịch giả tiếng Anh

Tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ dịch một tác phẩm quân sự của Đức. Trong nhiều năm, cũng như bao sĩ quan hải quân khác, tôi từng dự định viết lại những trải nghiệm cá nhân của mình trong Thế chiến II. Nhưng kết quả là, giống như phần lớn họ, tôi quyết định từ bỏ ý định đó. Nghe nói, cố Thủy sư Đô đốc Ernest King từng nói, nếu theo ý ông ấy, các bản thông cáo về cuộc chiến tranh Thái Bình Dương chỉ cần vỏn vẹn một câu: "Chúng ta đã chiến thắng." Hồi ký chiến tranh của tôi có lẽ cũng chỉ gói gọn trong dòng chữ: "Tôi đã phục vụ."

Sau khi giải ngũ, tôi làm cố vấn cho một công ty kỹ thuật hàng hải. Năm 1965, trong chuyến công tác cuối cùng tới Đức, tôi phát hiện dù ở bất cứ đâu, trên cửa sổ các tiệm sách đều bày la liệt một cuốn sách nhỏ có tựa đề "Đế quốc thế giới đã mất" của Tướng Armin von Roon. Tôi nhớ rõ mình từng biết Tướng von Roon khi còn làm tùy viên hải quân tại Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Berlin. Tôi đã gặp và trò chuyện với ông ta. Tôi nghĩ, có lẽ ông ta từng tham dự một trong những bữa tiệc tối mà vợ tôi thường tổ chức. Khi đó, ông ta đang làm việc tại Bộ Tham mưu Tác chiến của Lực lượng Vũ trang Đức. Giống như hầu hết các sĩ quan tham mưu Đức, ông ta có thái độ lạnh lùng, khó gần. Ông ta thấp đậm, có chiếc mũi khoằm lớn, trông gần giống người Do Thái, e rằng chính điều đó đã khiến ông ta phải phiền lòng. Tất nhiên, họ của ông ta cho thấy ông ta là hậu duệ thuần chủng của dòng dõi Phổ. Ông ta vốn nổi danh, tôi luôn muốn tìm hiểu kỹ về ông nhưng chưa bao giờ có cơ hội. Khi đó, tôi thậm chí chưa từng nghĩ tới việc có ngày mình sẽ hiểu rõ con người ông qua chính tác phẩm của ông.

Vì tò mò, tôi mua cuốn sách và thấy nội dung vô cùng lôi cuốn, thế là tôi tìm đến văn phòng nhà xuất bản ở Munich để hỏi xem ai đã xuất bản cuốn sách này tại Mỹ. Tôi được biết cuốn sách vẫn chưa được dịch sang tiếng Anh. Khi chuẩn bị trở về Mỹ, tôi đã thuyết phục được nhà xuất bản và giành lấy bản quyền ấn bản tiếng Anh. Tôi đang dự định nghỉ hưu, vì vậy tôi nghĩ việc dịch cuốn sách này có thể làm vơi bớt nỗi buồn chán khi nhàn rỗi.

"Đế quốc thế giới đã mất" là bản tóm tắt từ hai tập sách dày về phân tích tác chiến trong chiến tranh mà Tướng von Roon đã viết trong thời gian ngồi tù. Ông gọi hai tập sách này là "Các chiến dịch lục, hải, không quân trong Thế chiến II". Ông có rất nhiều thời gian để viết vì phải thụ án hai mươi năm tại Nuremberg do những tội ác chiến tranh mà ông tham gia ở mặt trận phía Đông. Tác phẩm kỹ thuật chi tiết này không có bản dịch tiếng Anh, và tôi cũng nghi ngờ liệu sau này có hay không.

Trước khi thuật lại mỗi chiến dịch lớn, Tướng von Roon luôn viết một bản tóm tắt về bối cảnh chiến lược và chính trị. Sau khi ông qua đời, nhà xuất bản đã rút những đoạn tóm tắt ngắn này ra, biên tập lại thành "Đế quốc thế giới đã mất" (tôi nghi ngờ vị tướng này sẽ đồng ý với cái tên đầy kịch tính như vậy). Vì thế, "Đế quốc thế giới đã mất" không phải là một cuốn sử quân sự vững chắc, mà là một sự đầu cơ trục lợi của nhà xuất bản. Nó tập hợp tất cả những chủ trương của von Roon về chính trị thế giới vào một cuốn sách nhỏ, nhưng lại lược bỏ đi những phân tích quân sự tỉ mỉ đằng sau chúng. Dù sao đi nữa, tôi cho rằng đây vẫn là một cuốn sách đáng đọc, thú vị và có giá trị.

Giá trị của cuốn sách nằm ở sự trung thực của nó. Hầu như tất cả các tài liệu chiến tranh của Đức đều tô vẽ, che đậy cho việc thảm sát người Do Thái, trách nhiệm gây chiến và sự độc tài của Hitler đối với quân đội và nhân dân. Đối với tất cả những vấn đề hóc búa đó, von Roon đều viết một cách bình thản và thẳng thắn. Ông dự định không để cuốn sách này xuất bản cho đến khi mình đã yên nghỉ dưới nấm mồ. (Ông ấy thực sự đã làm được điều đó.) Vì vậy, không giống như đa số các tác giả quân sự Đức khác, ông không muốn bảo toàn cái đầu, cũng chẳng muốn an ủi kẻ chiến thắng. Kết quả là tạo nên một cuốn sách phơi bày suy nghĩ thực sự của người Đức về cuộc chiến do Hitler phát động, và có lẽ họ vẫn đang suy nghĩ như vậy.

Do đó, đây là những bình luận trong khả năng có thể của một vị tướng Đức. Von Roon là một cây bút tài năng, chịu ảnh hưởng lớn từ các tác giả quân sự xuất sắc của Anh và Pháp, đặc biệt là Charles de Gaulle và Winston Churchill. Văn phong tiếng Đức của ông dễ đọc hơn nhiều so với hầu hết các đồng hương viết về chủ đề quân sự. Tôi hy vọng bản dịch của mình ít nhất có thể truyền tải được một phần điều đó. Văn phong của bản thân tôi được hình thành qua cả đời viết báo cáo cho Hải quân Mỹ, không tránh khỏi những chỗ vụng về, nhưng tôi tin rằng nó không làm sai lệch bản chất nguyên tác. Tôi cho rằng, tác giả đã mô tả trung thực người Đức dưới thời Hitler: một dân tộc chiến đấu rất ngoan cường và hiệu quả cao, không phải là một lũ bạo dâm ngu xuẩn, cũng không phải là đám ngốc nghếch lố bịch bị bôi xấu trong các chương trình giải trí thịnh hành hiện nay. Suốt sáu năm ròng, những con người này đã đánh cho cả thế giới kiệt quệ, và họ cũng đã phạm phải những tội ác chưa từng có. Canh bạc của họ, dùng một câu nói rất đúng của William Shakespeare, chính là "bản thân trái đất vĩ đại". Họ đang nghĩ gì trong đầu, điều đó đối với tôi dường như rất quan trọng, và đó cũng là lý do tôi dịch tác phẩm của von Roon.

Cách ông thuật lại một số sự kiện vừa chuyên môn, vừa am hiểu tình hình, chúng ta không thể hiểu nó theo giá trị bề mặt. Ông là một người Đức từ trong xương tủy. Mặc dù tôi từng sống giữa họ vài năm, nhưng tôi chưa bao giờ dám nói mình hiểu được dân tộc kỳ lạ và thông minh đó, những người có khả năng đạt được nhiều thành tựu như vậy, cũng có khả năng làm nhiều việc ác như vậy, chỉ là sự chậm hiểu của họ cũng nổi tiếng khắp thiên hạ. Nhìn chung, tôi vẫn để Tướng von Roon mô tả cuộc chiến này theo cách của riêng ông, nhưng khi dịch một số đoạn, tôi không thể không lên tiếng chỉ trích, vì vậy thỉnh thoảng tôi có thêm vào một vài chú thích.

Ví dụ, phần mở đầu trang đầu tiên của von Roon hoàn toàn giống với phần mở đầu trong tất cả các bài diễn văn của Adolf Hitler: lên án Hiệp ước Versailles là một hiệp ước bất công, tàn nhẫn do phe Đồng minh áp đặt lên một nước Đức vinh quang và giữ chữ tín. Ông ta không nhắc đến sự biến hóa khôn lường của lịch sử, các tác giả Đức hầu như đều không nhắc đến điều này. Năm 1917, Vladimir Lenin lật đổ chính phủ Alexander Kerensky, yêu cầu ký kết hòa ước riêng biệt trên mặt trận phía Đông. Hiệp ước Brest-Litovsk do người Đức soạn thảo được ký kết hơn một năm trước Hiệp ước Versailles, đã cướp đi của Nga một vùng lãnh thổ rộng lớn hơn cả Anh và Đức cộng lại, gần sáu mươi triệu dân và hầu như toàn bộ nền công nghiệp nặng của Nga. Điều này còn khắc nghiệt hơn Hiệp ước Versailles nhiều.

Khi còn làm việc tại Berlin, mỗi khi có người nhắc đến Hiệp ước Versailles, tôi luôn đưa ra sự thật nhỏ này. Những người bạn Đức của tôi luôn tỏ ra lúng túng trước sự so sánh như vậy, họ cảm thấy làm thế chẳng có ý nghĩa gì. Hiệp ước Versailles rơi xuống đầu họ, còn Hiệp ước Brest-Litovsk rơi xuống đầu người khác. Phản ứng này của họ xuất phát từ sự chân thành. Tôi không thể giải thích được kiểu dị biệt dân tộc này của người Đức, nhưng khi đọc "Đế quốc thế giới đã mất", chúng ta không nên quên điều đó.

Victor Henry tại Oakton, Virginia

Ngày 27 tháng 5 năm 1966

Phương án Trắng

Viết cuốn sách này theo nghĩa vụ đối với Hitler, tôi chỉ có một mục đích duy nhất: bảo vệ danh dự cho người lính Đức.

Ở đây, không cần thiết phải kể lại sự trỗi dậy của Adolf Hitler, nhà lãnh đạo của chúng ta trong Thế chiến II. Lịch sử thế kỷ XX, không có gì rõ ràng hơn điều đó. Khi phe Đồng minh chiến thắng tạo ra Hiệp ước Versailles điên rồ vào năm 1919, họ cũng đã tạo ra Hitler. Năm 1918, Đức tin vào "Mười bốn điểm" của Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson mà vinh quang hạ vũ khí. Phe Đồng minh lại coi "Mười bốn điểm" đó như một tờ giấy lộn, soạn ra một bản hiệp ước chia cắt nước Đức, tạo nên một nhà thương điên về chính trị và kinh tế ở châu Âu.

Sau khi lừa gạt vị Tổng thống Mỹ ngây thơ và chia cắt thế giới như vậy, các chính trị gia Anh và Pháp có lẽ tưởng tượng rằng họ có thể làm tê liệt dân tộc Đức mãi mãi. Chính sách coi thường người khác này chẳng khác nào tự đá vào chân mình. Bản thân Winston Churchill cũng gọi quyết định tại Versailles là một "sự ngu xuẩn phức tạp đến đáng buồn". Sự áp bức tại Versailles đã tạo nên lòng căm thù như núi lửa trong lòng nhân dân Đức đầy sức sống, nó bùng nổ, và Adolf Hitler đã giành được chính quyền ngay khi ngọn lửa phun trào lên đến đỉnh điểm. Đảng Quốc xã là một liên minh kỳ lạ giữa phe cấp tiến và phe bảo thủ, giữa người giàu và kẻ nghèo, nó đoàn kết lại trên lý tưởng phục hưng nước Đức, nhưng đáng tiếc, nó cũng đoàn kết lại trên khẩu hiệu chính trị gây rối loạn thời trung cổ ở châu Âu là "chống lại người Do Thái". Một đám những kẻ cổ động tầm thường, những triết gia lý tưởng, những kẻ cuồng tín, những kẻ cơ hội, những tên côn đồ và những kẻ phiêu lưu, trong số đó có những kẻ rất có năng lực, tràn đầy sức sống, đã lên nắm quyền cùng với Hitler. Chúng tôi, những người thuộc Bộ Tổng tham mưu, đa phần đều theo dõi những sự kiện chính trị hỗn loạn này với sự chán ghét và cảm giác điềm gở. Chúng tôi trung thành với đất nước, bất kể kẻ nào cai trị, nhưng chúng tôi sợ hãi làn sóng cải cách xã hội gây nguy hại chung. Hitler đã khiến chúng tôi ngạc nhiên, đó là sự thật. Vị chính trị gia nổi danh, có khả năng cổ động mạnh mẽ này đã nhanh chóng và không đổ máu giải quyết từng sự bất công mà Versailles gây ra. Thủ đoạn của ông ta trực diện, mạnh mẽ. Chính quyền Weimar từng áp dụng những phương pháp khác, nhưng chỉ nhận lại sự khinh miệt của Anh và Pháp. Phương pháp của Hitler đã mang lại hiệu quả.

Tại Đức, khi cần thiết, ông ta cũng nghiêm khắc và tàn nhẫn như vậy, phương pháp của ông ta cũng mang lại hiệu quả tương tự; nếu bây giờ các nhà sử học gọi chính quyền của ông ta là thời kỳ khủng bố, thì phải thừa nhận rằng đây là một sự khủng bố phổ biến. Hitler đã mang lại sự phồn vinh cho đất nước, tái vũ trang cho chúng tôi. Ông ta là một người mang sứ mệnh. Niềm tin nhiệt thành của ông ta vào bản thân và sứ mệnh của mình đã chi phối quần chúng Đức, mặc dù ông ta đã chiếm đoạt không ít quyền lực, nhưng quần chúng có lẽ sẽ không tiếc bất cứ thứ gì để dành cho ông ta.

Phương án Đỏ

Đương nhiên, sự phục hưng nhanh chóng của Đức dưới thời Hitler đã gây ra nỗi kinh hoàng giận dữ trong phe Đồng minh. Nước Pháp chán ghét chiến tranh, yêu chuộng xa hoa và bị chủ nghĩa xã hội ăn mòn, không mấy sẵn lòng hành động hiệu quả. Nước Anh lại là chuyện khác. Anh vẫn thống trị thế giới bằng lực lượng hải quân trải khắp toàn cầu, hệ thống tài chính quốc tế, các đồng minh và sự cai trị đế quốc trên năm châu lục. Đức vươn lên vị thế thống trị châu Âu, lật đổ sự cân bằng quyền lực, một lần nữa thách thức Anh để tranh giành quyền bá chủ thế giới. Thế chiến lại sắp sửa bùng nổ, cuộc đối đầu này không thể tránh khỏi, vì từ đầu thế kỷ XX, dân số và nhà máy của Đức đã vượt qua Anh. Theo nghĩa này, Churchill đã đúng khi gọi Thế chiến II là sự tiếp nối của Thế chiến I, hai cuộc chiến gộp lại chính là "một cuộc Chiến tranh Ba mươi năm khác".

Chúng tôi, những người thuộc Bộ Tổng tham mưu Đức, hiểu rằng những thủ đoạn kinh ngạc mà Hitler áp dụng để bình thường hóa châu Âu sớm muộn gì cũng sẽ dẫn đến sự can thiệp của Anh. Câu hỏi duy nhất là khi nào và trong hoàn cảnh nào? Ngay từ năm 1917, chúng tôi đã chuẩn bị một kế hoạch cho cuộc chiến tranh hai mặt trận chống lại Anh và Ba Lan, gọi là "Phương án Đỏ". Trong quá trình Adolf Hitler giành được từng chiến thắng không đổ máu, chúng tôi liên tục sửa đổi phương án này. Khi Anh và Pháp chỉ biết thỏa mãn với những lời lên án và phản đối yếu ớt, vị thế chiến lược và sức mạnh quân sự của chúng tôi đã cải thiện nhanh chóng. Chúng tôi bắt đầu hy vọng vị Nguyên thủ mạnh mẽ này có thể tận dụng sai lầm của những kẻ sát nhân tại Versailles để thực sự tạo ra trật tự mới ở châu Âu mà không đổ máu. Nếu thực sự được như vậy, ông ta có thể phát động cuộc thập tự chinh vĩ đại chống lại Liên Xô, tác chiến một mặt trận, tìm một vùng đất hoạt động ở phía Đông — đó là mục đích cả đời của ông ta. Lịch sử sẽ hoàn toàn khác.

Nhưng vào ngày 31 tháng 3 năm 1939 — ngày mà cả thế giới sẽ không bao giờ quên, mọi thứ đã thay đổi. Thủ tướng Anh Neville Chamberlain đột ngột đưa ra lời đảm bảo viện trợ quân sự vô điều kiện cho Ba Lan! Ông ta lấy cớ nổi giận vì Hitler phá vỡ lời hứa không chiếm đóng vùng đất nhỏ bé Tiệp Khắc. Vùng đất này chính là phần còn lại sau khi chia cắt tại Hội nghị Munich do chính Chamberlain dàn dựng. Giống như lời hứa của mọi chính trị gia, lời hứa của Hitler tất nhiên chẳng qua chỉ là sách lược và kế hoãn binh. Nếu Chamberlain không nghĩ như vậy, thì chỉ chứng tỏ bản thân ông ta là một kẻ ngu xuẩn.

Bất kể động cơ của lời đảm bảo đối với Ba Lan là gì, đó là một hành vi ngu xuẩn tự sát. Nó khiến chính phủ quân phiệt thối nát của Ba Lan trở nên cứng rắn, chống lại sự bất bình chính đáng của Đức đối với Danzig và hành lang Ba Lan. Nó trao đòn bẩy phát động một cuộc thế chiến khác vào tay những kẻ quân phiệt lạc hậu này. Ngoài ra không có ý nghĩa gì khác, bởi rốt cuộc Anh không thể viện trợ quân sự thực sự cho Ba Lan. Nếu Nga can thiệp, lời đảm bảo này có lẽ còn có ý nghĩa; thực tế, làm như vậy có lẽ sẽ ngăn chặn được Hitler giữa chừng, vì ông ta sợ chiến tranh hai mặt trận hơn bất cứ thứ gì. Bộ Tổng tham mưu cũng vậy. Nhưng các chính trị gia quý tộc Anh lại coi thường những người Bolshevik, còn Ba Lan trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng hoàn toàn từ chối cân nhắc việc chấp nhận sự bảo vệ của quân đội Nga. Vì vậy, sự ngu xuẩn và yếu đuối đã bắt tay nhau, khơi mào cho thảm họa này.

Hành động khiêu khích này của Chamberlain, giống như một con thỏ rơi vào đường cùng, dùng đôi vuốt yếu ớt chống trả, chỉ có thể khơi dậy lòng dũng cảm lớn hơn ở vị Nguyên thủ. Mệnh lệnh truyền đến Bộ Tham mưu như chớp, yêu cầu chúng tôi lập kế hoạch tác chiến cho cuộc tấn công Ba Lan vào mùa thu. Chúng tôi làm việc ngày đêm trên cơ sở Phương án Đỏ để chuẩn bị kế hoạch. Ngày 5 tháng 4, kế hoạch này được gửi đến cho Nguyên thủ với mật danh mới là Phương án Trắng.

Sự trớ trêu của lịch sử

Phương án Trắng nhằm tiêu diệt Ba Lan được hình thành dựa trên một vài sự thật địa lý tiêu biểu.

Ba Lan là một vùng bình nguyên: là một nước Bỉ cỡ lớn, chỉ có rất ít rào cản tự nhiên, không có biên giới quốc gia thực sự. Dãy núi Carpathian ở phía Nam bị đèo Jablunka cắt ngang, cung cấp một lối vào sẵn có từ Tiệp Khắc để tiến vào Krakow và sông Vistula. Sông Vistula, sông Narew và sông San đều là vấn đề, nhưng vào mùa hè và đầu mùa thu, mực nước rất thấp, nhiều nơi ô tô và ngựa có thể lội qua.

Bản thân Ba Lan là một thực thể chính trị dị dạng, điều này cũng phản ánh qua địa lý không hình thù của nó. Nó không có diện mạo vĩnh cửu, không có một thể chế chính trị hay mục đích dân tộc liên tục. Nó đã nhiều lần biến mất khỏi bản đồ châu Âu, bị chia cắt thành các tỉnh của các cường quốc. Giờ đây nó còn không bằng một tỉnh của Nga. Tại Hội nghị Yalta, các nhà lãnh đạo phe Đồng minh đã di chuyển toàn bộ hình tứ giác địa lý thô sơ được gọi là "Ba Lan" này về phía Tây khoảng hai trăm km, đến đường Oder-Neisse. Làm như vậy tất nhiên là hy sinh nước Đức, trao một số thành phố, lãnh thổ và cư dân vốn là của Đức từ thời xa xưa cho Ba Lan, khiến hàng triệu người bị đuổi khỏi quê hương một cách bi thảm và phải tái định cư. Chiến tranh là như vậy: kẻ thắng có được chiến lợi phẩm, kẻ bại phải chịu tổn thất. Thế chiến II bùng nổ vì vấn đề toàn vẹn lãnh thổ của Ba Lan, nhưng Ba Lan không hề khôi phục lại biên giới năm 1939 của nó, và vĩnh viễn không bao giờ có thể khôi phục được nữa. Do cuộc giao dịch giữa Hitler và Stalin, nó đã mất đi một vùng lãnh thổ, sáp nhập vào lãnh thổ Liên Xô. Anh vì vấn đề biên giới đó mà khai chiến với chúng tôi, họ lôi kéo Pháp và cuối cùng là Mỹ vào cuộc chiến. Tại Yalta, Anh và Mỹ đã đem lãnh thổ Ba Lan làm món quà của Hitler vĩnh viễn trao cho người Nga. Đó chính là sự trớ trêu của lịch sử.

Vị thế chiến lược của Ba Lan vào năm 1939 cực kỳ bất lợi, toàn bộ đất nước có thể coi là một góc lồi yếu ớt đâm vào nước Đức, là vùng đất bị Đức chiếm đóng, phía Bắc giáp Đông Phổ, phía Nam giáp Tiệp Khắc, địa thế toàn bộ bằng phẳng, rất dễ để Đức tràn vào từ phía Tây. Phía sau lưng nó, ở phía Đông, đứng vững chãi là Liên Xô, quốc gia vừa mới kết nối với Đức thông qua Hiệp ước không xâm lược do Joachim von Ribbentrop dàn dựng.

Hiệp ước chí mạng

Hiệp ước này, lúc bấy giờ được hoan nghênh như một nước đi tuyệt vời, đã khiến Đức thất bại trong Thế chiến II trước khi nổ ra một phát súng nào, thế nhưng người ta lại không chú ý đầy đủ đến sự thật hiển nhiên như vậy. Liên minh với những người Bolshevik (dù là tạm thời hay mang tính sách lược) tất nhiên là sự phản bội lý tưởng của nhà độc tài này, là mâu thuẫn với tinh thần dân tộc của Đức. Nếu chứng minh được thực sự có lợi ích chiến lược thì làm như vậy có lẽ còn có thể tha thứ. Trong chính trị cũng như trong chiến tranh, điều quan trọng là giành chiến thắng, nhưng sự kiện này lại trái ngược.

Hiệp ước này trao các quốc gia ven biển Baltic và khoảng một nửa Ba Lan cho Stalin, để đám người Slav này tiến gần đến nước Đức thêm hai trăm km. Hai năm sau, chúng tôi đã phải trả giá. Tháng 12 năm 1941, Binh đoàn Trung tâm tiến quân quy mô lớn về phía Moscow — cuộc hành quân vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới — đã dừng lại ở cách mục tiêu bốn mươi km, trong khi các đơn vị trinh sát tiền phương của chúng tôi đã tiến sâu đến mức nhìn thấy đỉnh tháp Điện Kremlin. Nếu quân đội Đức bắt đầu tấn công từ chiến tuyến cách Moscow gần hai trăm km, họ đã chiếm được thủ đô của Nga, lật đổ Stalin và giành chiến thắng trong chiến dịch này trước khi bông tuyết đầu tiên rơi xuống con đường Smolensk. Khi đó Anh chắc chắn sẽ yêu cầu hòa đàm, và chúng tôi đã giành chiến thắng trong cuộc chiến này.

Ngay cả kẻ thù của chúng tôi cũng cho rằng hiệp ước này là chiến thắng của hành động ngoại giao táo bạo, nhưng giữa những dòng chữ lại chứa đựng mấy chữ: Finis Germaniae. Những cú lội ngược dòng chính trị như vậy trong lịch sử thực sự không nhiều; sự tự làm hại mình thảm khốc như vậy cũng hiếm thấy. Thế nhưng vào thời điểm đó trong Bộ Tham mưu của chúng tôi, lại có rất ít người dám bày tỏ sự nghi ngờ đối với một thông tin như vậy, dù chỉ là dùng ánh mắt để thể hiện sự kinh ngạc với nhau.

Kể cả Tham mưu trưởng của Hitler là Wilhelm Keitel và Cục trưởng Cục Tác chiến Alfred Jodl, không một ai trong quân đội biết trước về thỏa thuận bí mật nhường một nửa Ba Lan cho người Bolshevik này. Chỉ đến tuần thứ ba của chiến dịch, khi Stalin tức giận gọi điện cho Joachim von Ribbentrop, trách cứ gay gắt việc quân đội Đức tiến vào khu vực mỏ dầu ở phía Đông Nam, thì Lực lượng Vũ trang mới nhận được chỉ thị tối mật, rút lui trước mặt người Nga, thế là họ thản nhiên tràn vào, không đổ một giọt máu của mình, cũng không đổ máu người Ba Lan.

Chính tôi, vào nửa đêm ngày 16 tháng 9 tại Bộ Tư lệnh Tối cao, đã nhận được cuộc điện thoại kinh ngạc từ tùy viên của chúng tôi tại Moscow, ông báo cáo với tôi rằng người Nga đang tiến vào Ba Lan theo thỏa thuận bí mật mà Hitler đã ký vào tháng Tám. Tôi lập tức gọi điện cho Tướng Jodl, thông báo cho ông tin tức về việc người Nga đang hành động. Ông ta hỏi ngược lại: "Là nhằm vào ai?" Giọng nói run rẩy, hoàn toàn không giống Alfred thường ngày. Có thể thấy quân đội hoàn toàn bị che mắt.

Những ngày cuối tháng Tám, công việc chuẩn bị cho Phương án Trắng đang được đẩy mạnh, Hitler dự định tận dụng đòn tấn công chính trị bất ngờ của Joachim von Ribbentrop để thực hiện một màn kịch đàm phán hòa bình. Mùa xuân, khi tâm trạng bình tĩnh hơn, ông ta với giọng điệu tiên tri thường thấy đã nói rằng các cường quốc phương Tây sẽ không dung thứ cho những chiến thắng không đổ máu nữa, lần này sẽ phải đánh nhau. Chúng tôi chuẩn bị Phương án Trắng với tâm trạng vô cùng phức tạp, từ lo âu đến cảm giác sắp diệt vong, vì sự chuẩn bị tác chiến của chúng tôi còn xa mới đạt tới mức độ của một cuộc xung đột quy mô lớn. Chỉ lấy một hạng mục then chốt làm ví dụ. Chúng tôi thiếu xe tăng trầm trọng, đến mức trong Phương án Trắng, chúng tôi phải dàn trận một lượng lớn xe tăng Tiệp Khắc có giá trị hạn chế; hải quân chỉ có năm mươi tàu ngầm sẵn sàng chiến đấu; tệ nhất là, ngay cả đến lúc đó, Nguyên thủ vẫn chưa hề ban bố lệnh toàn lực đưa vào sản xuất thời chiến, vì ông ta biết đó là hành động không được lòng dân; tóm lại, chúng tôi thực sự đang đi trên băng mỏng.

Bộ Tham mưu không đặt hy vọng vào đàm phán hòa bình. Tuy nhiên, khi Hitler diễn màn kịch đã được lên kế hoạch này cùng với Nevile Henderson, rõ ràng ông ta đã bị mê hoặc bởi màn trình diễn của chính mình và những lời đảm bảo liên tục của Joachim von Ribbentrop. Ông ta bắt đầu tin rằng Anh có thể lại một lần nữa bị dọa sợ, biết đâu lại cùng chúng tôi thực hiện thêm một vụ Munich nữa. Đầu tháng 9, tại Bộ Tư lệnh Tối cao, mọi người đều nhận thấy, khi tin tức tuyên chiến ở mặt trận phía Tây truyền đến, Nguyên thủ đã vô cùng kinh ngạc, toàn thân run rẩy. Nhưng sự đã rồi, không còn cách nào khác, chỉ có thể thực hiện Phương án Trắng.

Chiến lược

Kế hoạch này yêu cầu tấn công đồng thời từ cả hai phía Bắc và Nam, mục tiêu là cắt đứt Hành lang Ba Lan và tiến quân về phía Warsaw. Người Ba Lan phân tán binh lực dọc theo toàn bộ đường biên giới vốn không thể phòng thủ, kết quả là nhanh chóng bị chia cắt, bao vây và tiêu diệt. Đáng lẽ họ phải bố trí phòng thủ chính trên ba tuyến phòng ngự là sông Vistula - sông Narew - sông Bug, như vậy có thể kéo dài chiến tranh, thúc đẩy Anh và Pháp tấn công lực lượng phòng thủ mỏng yếu của chúng ta ở phía Tây. Đó có thể là một đòn giáng mang tính hủy diệt. Sự lãnh đạo độc tài đầy mạo hiểm đã đẩy nhân dân Đức vào tình thế hiểm nghèo. Nhưng đúng lúc này, Thượng đế đã rủ lòng thương xót với chúng ta. Người Ba Lan chứng tỏ rằng bản thân họ rất kém cỏi trong việc triển khai chiến lược, mặc dù trên chiến trường ai cũng rất dũng cảm, còn người Pháp thì cứ ngồi yên trong doanh trại và công sự của họ, gần như không bắn lấy một phát súng.

Ngày nay, các nhà bình luận Đức đều viết về cuộc phòng thủ tĩnh tại của Pháp vào tháng 9 năm 1939 như một "phép màu", điều đã làm cho chiến tranh chớp nhoáng tại Ba Lan trở nên khả thi. Nhưng thật khó để thấy "phép màu" này nằm ở đâu. Tư tưởng quân sự của Pháp chính là phòng thủ và tiến hành chiến tranh trận địa, bởi tư tưởng này từng giành thắng lợi vào năm 1918. Họ vô cùng tin tưởng vào lý thuyết về ưu thế mười chọi một trong phòng thủ của chiến tranh cơ giới hóa. Không còn nghi ngờ gì nữa, vào tháng 9, Pháp hoàn toàn có thể cử hàng triệu quân được huấn luyện bài bản, với số sư đoàn thiết giáp nhiều hơn cả lực lượng vũ trang Đức tại Ba Lan, xông ra khỏi Phòng tuyến Maginot, hoặc đi qua các bình nguyên phía Bắc, băng qua Bỉ, Hà Lan, đánh thẳng vào tuyến phòng thủ phía Tây mỏng yếu của chúng ta, trực chỉ Berlin. Nhưng quyết tâm của họ không nằm ở đó. Canh bạc chính trị và quân sự của Adolf Hitler vào thời khắc then chốt này đã chứng minh là cực kỳ xuất sắc. Trong tất cả các đối thủ, ông ta hiểu rõ người Pháp nhất và đã ra tay trước đối với họ.

Chiến thắng

Việc xuyên thủng toàn bộ các phòng tuyến của Ba Lan chỉ mất khoảng bốn ngày. Sở dĩ đòn đánh bất ngờ về mặt chiến thuật thành công hoàn toàn là vì các chính trị gia Ba Lan giả tạo, dù biết tình thế nguy hiểm, vẫn liên tục đưa ra những lời đảm bảo dối trá cho nhân dân. Gần một ngàn máy bay của Không quân Ba Lan đã bị tiêu diệt ngay trên mặt đất. Từ đó, Không quân Đức tự do bay lượn trên bầu trời. Sự kháng cự trên mặt đất của Ba Lan cũng là lấy yếu chống mạnh, các chỉ huy trên chiến trường của chúng ta không thể không khâm phục những đợt xung phong của kỵ binh Ba Lan dũng cảm nhắm vào các trận địa xe tăng. Có tin đồn cho rằng, chính phủ Ba Lan nói với kỵ binh của họ rằng xe tăng của chúng ta là đồ giả làm bằng giấy, tin đồn này có lẽ là có thật. Nếu vậy, họ sẽ sớm phải tỉnh ngộ trong đau đớn. Sự ưu việt của chiến tranh cơ giới hóa đối kháng với chiến thuật quân sự cổ điển chưa bao giờ được thể hiện một cách chấn động hơn trong lần xung phong vô ích của kỵ binh Ba Lan vào những chiếc xe tăng bằng thép này.

Tuy nhiên, lực lượng vũ trang Đức cũng chỉ đang tác chiến bằng lưỡi dao mỏng manh là lực lượng thiết giáp cơ giới hóa hoàn toàn của mình. Cuộc tiến quân chính trên mặt đất của chúng ta được thực hiện bởi các nhóm bộ binh đi bộ, họ tận dụng triệt để sự phá hủy liên lạc, sự hoảng loạn của kẻ thù và sự hỗn loạn của chiến tuyến do các đơn vị thiết giáp nhỏ gây ra khi xung phong. Mặc dù không quân đóng vai trò hỗ trợ mạnh mẽ, nhưng thứ phá hủy khả năng kháng cự của Warsaw và khiến nó cuối cùng phải đầu hàng không phải là các đợt ném bom trên không, mà là những khẩu pháo hạng nặng do ngựa kéo bên ngoài thành phố Warsaw. Việc quá dựa dẫm vào ngựa đã phơi bày sự thiếu chuẩn bị nghiêm trọng của chúng ta cho một cuộc chiến tranh thế giới.

Đến ngày 21 tháng 9, Warsaw bị quân đội Đức bao vây. Tin tức lan truyền bên ngoài cho biết, hàng vạn binh lính Ba Lan bị bắt làm tù binh, từng vòng vây bị tiêu diệt, tiền tuyến sụp đổ toàn diện, chính phủ quốc gia đã sợ hãi bỏ chạy sang Romania. Thế nhưng, thành phố đang nằm trong làn mưa bom bão đạn này, không lương thực, cắt điện cắt nước, nhiều tòa nhà đã trở thành đống đổ nát, dịch bệnh lan tràn, mãi đến ngày 27 tháng 9 mới từ bỏ hy vọng vô ích vào sự cứu viện phút cuối từ phương Tây và cuối cùng đầu hàng.

Bình luận

Từ đầu đến cuối, Quốc trưởng và các nhà tuyên truyền của ông ta luôn gọi chiến dịch Ba Lan lần này là một hành động cảnh sát cục bộ, là một "nhiệm vụ đặc biệt" của lực lượng vũ trang Đức. Chính Hitler đã tự tay gạch bỏ nhiều phần liên quan đến phân phối lương thực, huy động quân đội và vận tải trong "Phương án Trắng" (Case White), mục đích chỉ để làm dịu tâm lý phản kháng của nhân dân Đức. Sự can thiệp chính trị này đã gây ra sự cản trở đáng kể đối với các hành động quân sự, những tháng ngày quý báu đã trôi qua mà tổn thất vẫn chưa được bù đắp. Ở đây tôi phải nói rằng, do sự can thiệp tương tự của Đảng Quốc xã và Quốc trưởng — loại can thiệp chưa bao giờ dừng lại — nếu xét theo tiêu chuẩn chuyên nghiệp, lực lượng chiến tranh chưa bao giờ được tổ chức một cách đầy đủ và thỏa đáng.

Tại đài phát thanh ở Gleiwitz của chúng ta — thời gian là đêm ngày 21 tháng 8, địa điểm gần biên giới Ba Lan — chúng ta đã dàn dựng một vở kịch không mấy vẻ vang, giả vờ rằng binh lính Ba Lan vượt biên giới tấn công đài phát thanh và bị đẩy lùi; những tù nhân chính trị khốn khổ đó mặc quân phục Ba Lan, quanh đài phát thanh nằm la liệt những xác chết đầy vết đạn của họ. Đây chính là cái cớ để tiến hành xâm lược, trong khi lực lượng vũ trang Đức lại hoàn toàn không biết gì về những lời dối trá lừa bịp này. Cách đó 72 giờ, chúng ta đã không thể vãn hồi mà tiến quân vào Ba Lan. Trước phiên tòa Nuremberg (tính xác thực của câu này đáng ngờ — chú thích của người dịch tiếng Anh), bản thân tôi không hề hay biết về sự kiện này, lúc đó tôi đang bận rộn với một số công việc quan trọng, có lẽ Himmler phải chịu trách nhiệm về việc này.

Ba Lan vào năm 1939 là một chế độ chuyên chế lạc hậu, bế tắc do các quân nhân phản động và những chính trị gia có tham vọng lãnh thổ điên cuồng thực thi. Chính phủ này cực kỳ tàn bạo đối với các dân tộc thiểu số (đặc biệt là người Ukraine và người Do Thái), đối với chính nhân dân mình thì vừa bất công vừa giả tạo; chính phủ này khi khủng hoảng Munich xảy ra đã lao vào Tiệp Khắc như một con linh cẩu, thừa nước đục thả câu cướp đi một tỉnh của người Séc; chính phủ này trong hai mươi năm đã vụng về chơi trò hai mặt với Đức và Liên Xô; cuối cùng còn muốn giả vờ nói năng và hành động như một cường quốc quân sự quan trọng, trong khi thực tế lại yếu đuối như một con mèo nhỏ. Các quốc gia dân chủ tham gia Thế chiến II chính là để ủng hộ một chính quyền chuyên chế phản động, lừa bịp và ngoan cố như vậy. Chính phủ này nhanh chóng sụp đổ một cách nhục nhã và bị tiêu diệt vĩnh viễn. Nhưng chiến tranh vẫn tiếp diễn, còn ngòi nổ của nó chẳng bao lâu sau đã bị người ta quên sạch. Đến một ngày nào đó, các nhà sử học tỉnh táo nhất định sẽ nhấn mạnh một cách thỏa đáng vào những lý lẽ tự mâu thuẫn đã dẫn đến cuộc chiến tranh lớn nhất thế giới này.

Trong một cuộc chiến tranh toàn cầu khủng khiếp bị phát động một cách ngu xuẩn như vậy, điều nực cười cuối cùng là: Tiệp Khắc, quốc gia bị Anh bán đứng năm 1938, không đánh trận nào, tổn thất trong suốt cuộc chiến chưa đến 100.000 người; trong khi Ba Lan nhận được sự ủng hộ của Anh năm 1939, đã đánh trận, chết 6 triệu người (mặc dù một nửa trong số đó là người Do Thái). Cả hai quốc gia cuối cùng đều trở thành những con rối cộng sản dưới ách nô lệ của Liên Xô. Vậy, chính phủ nào sáng suốt hơn, nhân dân nước nào may mắn hơn? Giữa các cường quốc xảy ra tranh chấp, các nước nhỏ tốt nhất là nên cúi đầu trước cuồng phong, gió bên nào mạnh thì nghiêng về bên đó. Mà người Ba Lan chính là đã quên mất điều này.

Chú thích của người dịch tiếng Anh: Độc giả sẽ dần dần quen thuộc với thói quen này của người Đức, đó là: đổ lỗi cho các quốc gia khác đã mặc kệ cho Đức xâm lược. Trong toàn bộ cuốn sách của Tướng von Roon, cũng như trong hầu hết các tác phẩm quân sự của người Đức, tông giọng này xuất hiện lặp đi lặp lại. Những sĩ quan trưởng thành từ hệ thống Bộ Tổng tham mưu rõ ràng đã mất đi khả năng tư duy bằng những từ ngữ khác. Bình luận của von Roon về chính phủ Ba Lan và về những lời đảm bảo của Anh là những đoạn văn đầy ẩn ý trong phần tóm tắt trước "Phương án Trắng" của ông ta.

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:2
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang