Gió Bão Chiến Tranh (1939–1941)

Lượt đọc: 330 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 19

❊ ❊ ❊

"Byron!"

Tiến sĩ Jastrow thốt lên cái tên ấy, hít một hơi lạnh, đôi mắt mở to đầy kinh ngạc. Ông vẫn ngồi trên bãi cỏ như mọi khi, chân đắp một chiếc chăn len màu xanh, vai khoác chiếc khăn quàng xám, trên đầu gối đặt một tấm bảng kê và cuốn sổ tay màu vàng. Cơn gió mát thổi từ thung lũng Siena khiến những trang giấy của Jastrow lật bay phấp phới. Trong làn sương mờ ảo, bao quanh thành phố tường đỏ này là những ngọn đồi nhấp nhô với các vườn nho rải rác, trên đỉnh núi là nhà thờ sọc đen trắng, khung cảnh trang nghiêm này trông chẳng khác nào thành phố Siena thời Trung cổ trong những bức bích họa cổ xưa.

"Aaron Jastrow, chào ông."

"Trời đất ơi, Byron! Cậu làm tôi giật mình quá, tôi thề là phải mất cả tuần mới trấn tĩnh lại được đấy! Lúc ăn sáng chúng tôi còn nhắc đến cậu. Cả hai chúng tôi đều chắc mẩm giờ này cậu đang ở New York rồi."

"Cô ấy cũng ở đây sao?"

"Tất nhiên rồi. Nó đang ở trên thư viện tầng lầu đó."

"Vậy, xin lỗi ông, tôi có thể lên đó một lát được không?"

"Đi đi, đi đi, để tôi hoàn hồn lại đã. Ồ, Byron, cậu bảo với Natalie là tôi muốn uống chút trà đậm nhé."

Byron chạy như bay lên cầu thang đại sảnh, tiến vào thư viện. Natalie đang đứng cạnh bàn làm việc, mặc chiếc áo len xám và váy đen, sắc mặt tái nhợt, đôi mắt mở to. "Trời ơi, thật sự là anh! Ngoài anh ra, chẳng có ai leo cầu thang kiểu này cả."

"Là anh đây."

"Chết tiệt, sao anh lại quay lại?"

"Anh cần tìm việc để làm mà."

"Anh ngốc thật, sao không báo trước cho chúng tôi biết là anh sắp đến?"

"À, anh nghĩ cứ trực tiếp tới vẫn tốt hơn."

Cô bước đến trước mặt anh, ngập ngừng đưa tay vuốt ve khuôn mặt anh. Những ngón tay dài của cô khô khốc và lạnh ngắt. "Nhưng trông anh có vẻ khá hơn, cân nặng hình như cũng tăng lên chút ít." Cô nói rồi đột ngột bước đi một cách gượng gạo. "Em nên xin lỗi anh. Hôm ở Königsberg tâm trạng em rất tệ, có chỗ nào mạo phạm anh, thật sự rất xin lỗi." Cô rời khỏi anh, quay lại bàn làm việc ngồi xuống. "À, chúng ta có thể giữ anh ở lại làm việc, nhưng đường đột như thế này thì chẳng ai vui vẻ gì đâu. Giờ anh hiểu rồi chứ?" Cô lại tiếp tục đánh máy, cứ như thể anh chỉ vừa mới đi vào thị trấn rồi quay về vậy.

Đó chính là sự chào đón dành cho anh. Jastrow lại cho anh làm việc tại đây, chỉ trong vài ngày mọi thứ đã trở lại bình thường. Cứ như thể chuyến đi đến Ba Lan kia chưa từng xảy ra, và không ai trong hai người từng rời khỏi ngọn núi này. Giữa chốn núi rừng tĩnh mịch, dấu vết của chiến tranh rất hiếm hoi. Chỉ thỉnh thoảng việc thiếu xăng dầu gây ra đôi chút khó khăn. Báo chí Milan và Florence mà họ đọc đều không nhắc đến chiến tranh. Ngay cả tin tức chiến sự từ đài BBC cũng rất ít ỏi. Sự kiện Nga tấn công Phần Lan nghe xa vời như một trận động đất ở Trung Quốc vậy.

Vì xe buýt không đáng tin cậy, Jastrow bảo Byron chuyển vào ở tại một căn phòng dành cho người hầu trên tầng ba của biệt thự, phòng nhỏ hẹp, tường vữa đã nứt nẻ, trần nhà đầy vết ố, mỗi khi mưa to lại bị dột. Natalie ở ngay tầng dưới Byron, trong phòng ngủ nhìn ra thành phố Siena. Thái độ của cô đối với anh luôn rất đặc biệt. Khi ăn cơm, hoặc những lúc có mặt Jastrow, cô luôn tỏ ra giữ khoảng cách. Trong thư viện, cô thậm chí còn rất thô lỗ với anh, làm việc hàng giờ liền không nói một lời, nếu anh hỏi gì, cô đều đáp lại lạnh lùng, ngắn gọn. Byron vốn dĩ tự ti, cảm thấy bản thân không thu hút được người khác, nên cũng coi thái độ này của cô là điều hiển nhiên. Thế nhưng anh luôn hoài niệm về tình bạn của họ ở Ba Lan, và lạ lùng thay, cô không hề đả động gì đến trải nghiệm đó. Anh cho rằng chắc là do mình bám theo đến tận đây nên cô mới giận. Anh lại được ở bên cô, đó chính là lý do anh đến đây, vì thế, mặc cho cô có đối xử thô bạo thế nào, anh vẫn thấy mãn nguyện, giống như một chú chó được đoàn tụ với người chủ nóng tính của mình vậy.

Khi Byron đến Siena, cuốn sách về Hoàng đế Constantine tạm thời bị đình trệ, Jastrow muốn bổ sung một bài viết đăng trên tạp chí có tiêu đề "Cuộc đua ngựa cuối cùng". Khi bàn về chủng tộc, ông đã khắc họa một viễn cảnh bi thảm về việc châu Âu lại lao vào chiến tranh. Bài viết này có tính dự báo đáng kinh ngạc, tòa soạn nhận được vào ngày 1 tháng 9, đúng ngày Đức tấn công Ba Lan. Tạp chí đăng bài viết, nhà xuất bản của Jastrow gửi điện tín xuyên đại dương, khẩn thiết mong ông viết bài này thành một cuốn sách nhỏ, và nói rằng nếu có thể bày tỏ đôi chút lạc quan về kết cục chiến tranh (dù chỉ một chút) thì càng tốt. Điện tín còn nhắc đến việc có thể tạm ứng một khoản nhuận bút lớn. Hiện tại, công việc này đang nằm ngay trước mắt.

Trong tập sách nhỏ này, Jastrow đã đưa ra những luận điểm rất hùng hồn, có tầm nhìn xa và tư duy khoáng đạt. Ông viết: Người Đức có thể sẽ lại thất bại một lần nữa; ngay cả khi họ giành được quyền thống trị thế giới, cuối cùng họ cũng sẽ bị chính thần dân của mình thuần hóa và chinh phục, giống như tổ tiên người Goth và người Vandal của họ đã bị thuần hóa thành người Cơ Đốc giáo vậy. Sự chuyên chế cuồng tín hay tàn bạo đều có thời hạn. Nó là một loại bệnh sốt của nhân loại cứ tái phát liên tục, cuối cùng định mệnh sẽ khiến nó hạ nhiệt và tiêu tan. Còn toàn bộ lịch sử nhân loại sẽ mãi mãi hướng tới lý trí và tự do.

Jastrow cho rằng người Đức là những đứa con bất hiếu của châu Âu, ích kỷ, tùy hứng, không thực tế, luôn tìm mọi cách phá hoại các hình thức trật tự không ổn định. Arminius dùng vũ lực phá vỡ nền hòa bình dưới sự cai trị của La Mã. Martin Luther phá hoại Thiên Chúa giáo, và giờ đây Hitler lại thách thức chế độ tư bản tự do châu Âu vốn đã không ổn định trên cấu trúc quốc gia cũ kỹ, chia cắt.

Jastrow viết rằng, "cuộc đua ngựa" của châu Âu, nơi vô số quốc gia dân tộc chủ nghĩa điên cuồng cạnh tranh trên một mảnh đất nhỏ đông đúc dân cư, đã khiến một Siena lớn với ba mặt giáp biển, một mặt giáp châu Á không thể chống đỡ nổi. Bởi vì Siena chỉ có một công ty cấp nước, một công ty năng lượng, một hệ thống viễn thông, một thị trưởng, chứ không phải chia thành 17 khu vực giả độc lập kiểu ngỗng, sâu róm, hươu cao cổ gì đó, nên điều kiện thống nhất châu Âu theo lẽ thường đã chín muồi. Hitler, gã xấu xa thiên tài này đã nhìn ra điều đó. Hắn bắt đầu phá hủy trật tự cũ một cách tàn khốc và sai lầm bằng sự cuồng tín của người Teuton, nhưng điều quan trọng là về bản chất hắn đã đúng. Thế chiến II chính là cuộc đua ngựa cuối cùng. Dù bên nào thắng trong cuộc đua ngựa ngu ngốc và đẫm máu này, châu Âu cũng sẽ xuất hiện một cấu trúc tuy không sống động như quá khứ nhưng lại giàu lý trí và vững chắc hơn. Có lẽ quá trình đau đớn mà lành mạnh này sẽ trở thành hiện tượng toàn cầu, thế giới cuối cùng sẽ hợp nhất. Còn vai phản diện trong vở kịch này là Hitler, có lẽ sẽ bị truy đuổi, bị giết chết thảm khốc như Macbeth, hoặc hắn sẽ giành chiến thắng, rồi cuối cùng cũng sẽ sụp đổ hoặc chết đi. Nhưng hành tinh sẽ tiếp tục tồn tại, trái đất sẽ tiếp tục tồn tại, và khát vọng của nhân loại về tự do, về sự thấu hiểu và tình huynh đệ giữa người với người sẽ tồn tại mãi mãi.

Khi Byron dùng máy đánh chữ để soạn thảo bản thảo diễn giải những ý kiến này, anh nghĩ, nếu Jastrow không ở trong căn biệt thự tĩnh lặng nhìn ra toàn cảnh Siena này, mà là trải qua tháng 9 đầy khói lửa ở Warsaw, không biết ông có viết ra được tác phẩm có tầm nhìn khoáng đạt và lạc quan đến thế hay không. Anh cho rằng những luận điểm sáo rỗng không phù hợp trong "Cuộc đua ngựa cuối cùng" quá nhiều. Nhưng anh không nói ra.

Mỗi tuần Natalie đều nhận được một hoặc hai lá thư từ Leslie Slote. Cô không còn cảm thấy phấn khích với những lá thư này như hồi mùa xuân nữa, lúc đó cô luôn chạy đến phòng ngủ để xem thư, trở về mặt mày rạng rỡ hoặc đẫm lệ. Giờ đây, cô ngồi bên bàn làm việc, đọc qua loa những dòng chữ đánh máy cách dòng rộng rãi rồi nhét vào ngăn kéo. Có một ngày mưa, cô đang xem thư, Byron đang đánh máy bản thảo "Cuộc đua ngựa", chỉ nghe cô thốt lên: "Trời ơi!" Byron ngẩng đầu lên hỏi: "Chuyện gì vậy?"

"Không có gì, không có gì," cô nói, mặt đỏ bừng, xua tay đầy kích động, búng búng lá thư. "Xin lỗi anh. Không có gì đâu."

Byron lại tiếp tục làm việc, rất vất vả để nhận diện một câu viết nguệch ngoạc của Jastrow. Chữ của vị giáo sư rất khó đọc, thường xuyên thiếu chữ cái hoặc từ ngữ. Chữ S và O ông viết hiếm khi đóng kín. Một số chữ viết hoa mỹ bằng mực xanh cần phải đoán ý nghĩa. Natalie có thể nhận ra, nhưng Byron không thích vẻ bề trên miễn cưỡng đó của cô.

"Haizz!" Natalie buông thõng người vào ghế, nhìn chằm chằm vào lá thư. "Byron?"

"Chuyện gì?"

Cô cắn môi dưới đầy đặn, ngập ngừng. "Em thật sự không chịu nổi. Em phải nói với ai đó, mà anh lại ở ngay bên cạnh. Anh đoán xem trong bàn tay đang nóng hổi này của em cầm cái gì?" Cô làm lá thư kêu sột soạt.

"Anh biết em cầm gì mà."

"Anh tưởng là anh biết," cô cười tinh nghịch. "Để em nói cho anh nghe. Đây là thư cầu hôn của ngài Leslie Manson Slote, người giành học bổng Rhodes của Đại học Oxford, một nhà ngoại giao đang lên, một gã độc thân khó đoán. Anh thấy sao, Byron Henry?"

"Chúc mừng em." Byron nói.

Đúng lúc đó, chuông trên bàn Natalie reo lên. "À, trời đất ơi. Byron, phiền anh đi xem Aaron Jastrow có chuyện gì. Em đã chóng mặt lắm rồi đây." Cô ném lá thư lên bàn, luồn đôi bàn tay trắng muốt, thon dài vào mái tóc.

Tiến sĩ Jastrow đang ở thư phòng dưới lầu, quấn chăn ngồi trên chiếc ghế dài cạnh lò sưởi, ngày mưa ông thường ở nơi này. Đối diện với ông, trên chiếc ghế bành, là một quan chức Ý béo tốt, mặt tái nhợt, mặc bộ quân phục màu vàng xanh, đôi ủng đen, đang uống cà phê. Byron chưa từng gặp người này, cũng chưa từng thấy bộ quân phục như vậy.

"À, Byron, cậu bảo Natalie tìm giúp tôi giấy tờ chứng minh cư trú với? Nó biết để ở đâu đấy." Jastrow lại nói với vị quan chức kia: "Ông có muốn xem giấy tờ của họ không?"

"Hôm nay không cần đâu giáo sư. Chỉ cần của ông thôi." Natalie đang đọc lại thư, thấy anh vào liền ngẩng đầu cười toe toét. "Hả, ông ấy có chuyện gì vậy?"

Byron kể cho cô nghe. Mặt cô sầm xuống, lấy chìa khóa từ trong ví, mở chiếc tủ hồ sơ thép nhỏ cạnh bàn làm việc. "Cầm lấy đi," cô đưa cho anh một tập hồ sơ bằng giấy Manila buộc dây đỏ. "Có rắc rối gì không? Em có cần xuống dưới không?"

"Tốt nhất là đợi khi nào gọi hãy xuống."

Khi anh đi xuống cầu thang, nghe thấy tiếng cười nói vui vẻ vang lên từ thư phòng. "À, cảm ơn cậu, Byron," khi anh bước vào, Jastrow chuyển sang tiếng Anh. "Cứ để trên bàn là được." Sau đó ông lại tiếp tục dùng tiếng Ý kể chuyện thứ Hai tuần trước có con lừa xông vào vườn, giẫm nát hết rau trong vườn và nhai nát một chương bản thảo. Vị quan chức kia cười đến nỗi cái bụng thắt dây da rung lên bần bật.

Natalie lại bắt đầu đánh máy trong thư viện. Lá thư của Slote đã không còn ở đó nữa.

"Có vẻ như sẽ không có rắc rối gì đâu," Byron nói.

"Vậy thì tốt," cô bình thản nói.

Đến bữa tối, Tiến sĩ Jastrow ít nói, ăn cũng ít hơn thường lệ, còn uống thêm hai ly rượu. Họ ở đây ngày qua ngày, tuần qua tuần, sống cuộc đời đơn điệu, nên uống thêm một ly rượu đã là chuyện lớn, ly thứ hai chẳng khác nào một quả bom. Cuối cùng Natalie nói: "Aaron, hôm nay người đó đến làm gì vậy?" Jastrow đang ngẩn người, lúc này mới tỉnh lại, khẽ lắc đầu.

"Thật kỳ lạ, lại là Giuseppe."

Giuseppe vốn là trợ lý của người làm vườn, Aaron mới cho ông ta nghỉ việc gần đây, ông ta gầy trơ xương, lười biếng và ngu ngốc, là một tên bợm rượu già, đầu tóc xoăn đen, cái mũi đỏ gay vì rượu. Chính Giuseppe đã để cửa mở khiến con lừa xông vào. Ông ta luôn làm những chuyện tệ hại như vậy. Vì bản thảo bị xé nát, vườn rau bị giẫm nát, Jastrow tức đến mức hai ngày không viết lách gì được, lại còn bị khó tiêu.

"Tại sao quan chức đó lại biết Giuseppe?" Byron hỏi.

"Kỳ lạ là ở chỗ đó. Ông ta đến từ Cục đăng ký người nước ngoài ở Florence, ông ta còn nói Giuseppe có chín đứa con, giờ tìm việc khó khăn vân vân. Mãi đến khi tôi hứa thuê lại ông ta thì mới xong chuyện. Ông ta cười đắc thắng rồi trả lại phiếu đăng ký cho tôi." Jastrow thở dài, đặt khăn ăn lên bàn. "Những năm qua tôi luôn đối phó với Giuseppe, nói thật, tôi cũng chẳng để tâm nữa. Tôi hơi mệt rồi. Bảo Maria mang trái cây và phô mai của tôi vào thư phòng nhé." Sau khi giáo sư đi rồi, Natalie nói: "Chúng ta mang cà phê lên phòng em uống đi."

"Được, tốt quá."

Cô chưa từng mời anh lên phòng mình bao giờ. Đôi khi anh ở phòng trên có thể nghe thấy tiếng cô đi lại, đó là những âm thanh nhẹ nhàng, đáng yêu, làm xao xuyến lòng người. Anh đầy phấn khích đi theo cô lên lầu.

"Em ở trong một cái hộp đường lớn," cô mở cánh cửa nặng nề, ngượng ngùng nói. "Anh biết đấy, lúc Aaron mua căn nhà này, mua luôn cả nội thất, và giữ nguyên trạng như chủ cũ. Với em thì thật nực cười, nhưng mà..."

Cô bật đèn lên. Đây là một căn phòng lớn, được sơn màu hồng. Nội thất màu hồng và vàng, trần nhà màu xanh và vàng vẽ những vị thần tình yêu màu hồng, rèm cửa bằng lụa màu hồng, một chiếc giường đôi lớn phủ khăn trải giường bằng satin màu hồng có diềm xếp nếp. Natalie với mái tóc đen nhánh mặc chiếc áo khoác dạ cũ màu nâu, những đêm lạnh cô luôn mặc chiếc áo này, nhưng trong căn phòng được bài trí theo phong cách Watteau, nó lại trở nên vô cùng kỳ lạ. Tuy nhiên, Byron nhận ra dù là sự đối lập này, cũng giống như mọi thứ liên quan đến cô, đều khiến anh cảm thấy phấn khích. Cô nhóm củi trong lò sưởi bằng đá cẩm thạch khắc hình người La Mã, hai người ngồi đối diện nhau trên ghế bành, cà phê đặt trên chiếc bàn trà giữa họ.

"Anh nghĩ tại sao Aaron tâm trạng lại tệ như vậy?" Natalie nói, ngồi rất thoải mái vào chiếc ghế bành lớn, kéo chiếc váy xếp ly xuống thấp để che đôi chân tuyệt đẹp. "Giuseppe là chuyện cũ rồi. Thực ra cho ông ta nghỉ việc là một sai lầm. Ông ta biết hết đường ống nước và hệ thống điện, rõ hơn cả Tommaso. Mặc dù ông ta là một lão bợm rượu bẩn thỉu, nhưng thực tế việc sửa chữa tỉa cành ông ta làm rất khá."

"Aaron Jastrow cũng bất đắc dĩ thôi, Natalie." Cô cắn môi gật đầu. Byron nói tiếp: "Chúng ta đều nằm trong tay những kẻ này, Aaron Jastrow còn tệ hơn cả anh và em. Ông ấy có tài sản, ông ấy bị mắc kẹt ở đây rồi."

"Nhưng người Ý đều tốt cả, họ không phải là người Đức."

"Chẳng có gì hay ho khi giao thiệp với Mussolini cả. Lời khuyên của Banriel rất đúng. Chạy nhanh đi!" Natalie mỉm cười. "Lekhlekha, trời đất ơi, những chuyện đó nghe xa vời quá. Không biết giờ ông ấy thế nào rồi." Nụ cười của cô biến mất. "Em không muốn nghĩ đến chuyện ở Warsaw. Cố gắng không nghĩ tới."

"Anh không trách em."

"Còn anh thì sao, Byron? Anh có nghĩ đến chuyện ở Warsaw không?"

"Có nghĩ một chút. Anh cứ mơ thấy những chuyện đó."

"Trời ơi, bệnh viện đó, đêm nào em cũng cứ đi quanh đi quẩn..."

"Khi Warsaw thất thủ," Byron nói, "đã giáng một đòn mạnh vào anh." Anh kể cho Natalie nghe chuyện xảy ra ở Wannsee. Khi anh kể đến cảnh người phục vụ đột ngột quay lưng bỏ đi, cô cười lớn. "Cha anh thật tốt."

"Ông ấy cũng được."

"Chắc ông ấy nghĩ em là ma cà rồng, mê hoặc anh đến mức suýt mất mạng."

"Chúng tôi không nói về em."

Sắc mặt Natalie đột ngột sầm xuống. Cô lại rót thêm cà phê cho anh và chính mình. "Byron, anh khêu lửa giúp em đi. Em lạnh. Giuseppe lúc nào cũng làm gỗ bị ẩm." Anh khêu lửa cho bùng lên, thêm một khúc gỗ khô, ngọn lửa lập tức bốc cháy dữ dội.

"À, thế này mới tốt!" Cô nhảy lên, tắt đèn trần, đứng bên lò sưởi, nhìn ngọn lửa. "Ở nhà ga," cô đột ngột nói một cách thần kinh, "khoảnh khắc họ bắt những người Do Thái đi ấy! Đến giờ em vẫn không dám nghĩ tới. Ở Königsberg tâm trạng em rất tệ, đây cũng là một lý do. Em rất đau khổ. Em cứ nghĩ, lúc đó mình có thể làm gì đó không? Nếu lúc đó em đứng ra, nói mình là người Do Thái, không chịu khuất phục họ thì sao? Nếu tất cả chúng ta cùng phản đối thì sao? Kết quả có lẽ đã khác. Thế nhưng, chúng ta lại thản nhiên lên tàu, trơ mắt nhìn họ lê bước chân nặng nề đi về hướng ngược lại."

Byron nói: "Lúc đó chúng ta rất có thể sẽ mất em và Mark Hartley. Thật sự rất nguy hiểm."

"Em biết. Leslie đã che chở cho em. Mặc dù run cầm cập, anh ấy vẫn đứng vững lập trường. Anh ấy đã làm tròn trách nhiệm của mình. Nhưng còn những đại sứ và đại biện kia, thôi bỏ đi," Natalie đi đi lại lại. "Cả gia đình em đều ở Medias! Em cứ tưởng tượng cảnh những người tốt bụng đó rơi vào nanh vuốt của người Đức - nhưng nghĩ những điều này thì có ích gì chứ? Nghĩ những điều này chẳng giúp ích gì mà còn khiến lòng người đau đớn." Cô thất vọng giơ hai tay lên, rồi đột ngột ngồi xếp bằng vào ghế bành, váy phủ lên chân. Dưới ánh lửa, ngoài khuôn mặt và đôi bàn tay nắm chặt của cô, chẳng nhìn thấy gì cả. "Nhắc đến lão Slote," sau một hồi im lặng, cô nói với giọng điệu hoàn toàn khác. "Ông ấy đề nghị cưới em làm vợ, anh nghĩ sao?"

"Anh không thấy ngạc nhiên."

"Vậy sao? Em lại kinh ngạc lắm. Em chưa từng nghĩ sẽ có ngày đó."

"Ông ấy từng nói với anh ở Berlin là ông ấy có thể kết hôn với em. Nếu bỏ lỡ cơ hội, ông ấy sẽ phát điên mất."

"Anh ấy đã chọn lựa rất lâu rồi, người yêu dấu ạ." Cô lại rót thêm chút cà phê, vừa uống vừa nhìn anh đầy bí ẩn từ phía trên mép cốc. "Hai người các anh ở Berlin chắc là đã bình phẩm về em dữ lắm phải không?"

"Không bình phẩm gì đặc biệt về em cả. Ông ấy nhắc đến thái độ của em đối với ông ấy ngày cuối cùng ở Königsberg, cũng giống hệt thái độ đối với anh vậy."

"Hôm đó em thấy kinh khủng lắm, Byron."

"Không sao đâu. Anh nghĩ chắc là anh đã làm em giận, nên anh mới hỏi ông ấy."

"Thú vị thật. Slote còn nói gì về em nữa không?"

Giọng nói trầm thấp run rẩy của cô, đôi mắt lấp lánh ánh sáng vui vẻ dưới ánh lửa khiến Byron không thể bình tâm. "Ông ấy nói, nếu bị một cô gái như em đeo bám thì không ổn, còn nói, từ lần đầu tiên nhìn thấy em, lòng ông ấy chưa từng có một giây phút bình yên."

Cô cười khẽ đầy mãn nguyện. "Hai nhận xét đó rất chính xác, người tốt của em ạ. Anh ấy còn nói gì nữa?"

"Chỉ nói thế thôi. Lần ông ấy đưa danh mục sách cho anh cũng nói những điều đó."

"Đúng vậy, đây chẳng phải là Slote thực sự sao? Muốn dùng học vấn của mình để ảnh hưởng đến anh! Chuyện nhỏ này là minh chứng rõ nhất. Anh ấy thực sự kể hết chuyện của chúng ta cho anh nghe sao? Chuyện giữa anh ấy và em?" Byron lắc đầu.

Natalie nói: "Anh đi lấy cho chúng ta chút rượu Brandy được không? Em muốn uống một chút." Anh chạy xuống lầu, rồi chạy lên với một chai rượu và hai chiếc ly sáng loáng. Natalie xoay xoay ly rượu Brandy, đôi mắt nhìn chằm chằm vào chiếc ly hình cầu, hiếm khi ngẩng lên nhìn anh. Cô đột ngột tuôn trào kể hết mọi chuyện giữa mình và Leslie Slote. Cô kể rất lâu. Byron hiếm khi lên tiếng, chỉ thỉnh thoảng thêm củi vào lò sưởi cắt ngang lời cô. Chuyện cô kể rất phổ biến, một người đàn ông thông minh lớn tuổi hơn chơi đùa với một thiếu nữ, kết quả lại biến giả thành thật, rơi vào lưới tình. Nếu cô quyết tâm lấy ông ấy, chỉ có thể gây ra đau khổ cho cuộc đời ông ấy. Cô nói, ông ấy không muốn cưới cô, chủ yếu vì cô là người Do Thái. Kết hôn với người Do Thái sẽ gây bất lợi cho tương lai của ông ấy. Thái độ của ông ấy luôn mập mờ cũng là vì chuyện này. Bây giờ, sau hai năm rưỡi, với lá thư này trong tay, nếu cô cần ông ấy, cô có thể có được ông ấy.

Byron căm ghét từng chữ trong câu chuyện này, nhưng anh vẫn cảm thấy tâm trí đảo điên, đồng thời tràn ngập lòng biết ơn. Cô gái vốn luôn kín miệng như bưng cuối cùng đã tiết lộ với anh những bí mật trong đời mình. Cô không thể kiềm chế được mà thốt ra những lời đó, đặt dấu chấm hết cho bầu không khí căng thẳng kỳ lạ giữa hai người kể từ Warsaw, chấm dứt cuộc "chiến tranh giả" nhỏ bé giữa họ - sự im lặng đầy thù địch kéo dài trong thư viện, việc cô thường xuyên tránh mặt anh, trốn trong phòng riêng, cùng thái độ trịch thượng kỳ quặc của cô; tất cả đều đã kết thúc. Trong lúc cô kể lại những chuyện này, mối quan hệ giữa họ trở nên gần gũi hơn bao giờ hết, ngay cả trong chuyến phiêu lưu một tháng tại Ba Lan, họ cũng chưa từng thân mật đến thế.

Mọi thứ về cô gái này đều khiến anh hứng thú. Dù cho cô có kể về chuyện tình cảm của mình với một người đàn ông khác thì đã sao nào! Ít nhất thì Byron cũng đang được trò chuyện với Natalie Jastrow về chính Natalie Jastrow, điều mà anh hằng khao khát từ lâu. Anh lắng nghe chất giọng ngọt ngào, trầm thấp, đôi khi mang âm hưởng New York của cô, anh còn có thể nhìn thấy qua ánh lửa những cử chỉ tay đầy tự nhiên của cô, thỉnh thoảng cô vung tay rồi đột ngột dừng lại giữa không trung, anh luôn chú ý đến cử chỉ ấy. Chỉ có Natalie Jastrow là người có vị thế ngang hàng với cha anh trong lòng anh. Anh cũng khao khát được ở bên cha, được nghe cha nói chuyện hoặc kể cho cha nghe, mặc dù cuối cùng anh luôn phải kìm lòng, rút lui khỏi phòng của cha. Hơn nữa, anh biết, hầu như cuộc trò chuyện nào cũng khiến Victor Henry tức giận hoặc thất vọng. Còn sự ấm áp của mẹ, anh coi đó là điều hiển nhiên, vì vậy anh đón nhận sự âu yếm của mẹ nhưng lại chê bà hay thay đổi thất thường. Cha anh rất đáng sợ, Natalie cũng đáng sợ như ông, huống chi cô gái có làn da ngăm đen này, người mà ngay từ lần đầu gặp mặt, anh đã khao khát được ôm lấy nhưng lại cảm thấy vô vọng.

"Được rồi, giờ anh đều biết cả rồi," Natalie nói. "Kể ra thì không bao giờ hết, nhưng đại khái là vậy. Thêm chút rượu brandy của Aaron không? Anh không uống thêm chút nào sao? Đây là loại brandy hảo hạng đấy. Lạ thật, bình thường tôi lại chẳng thích nó."

Byron rót thêm rượu cho cả hai, dù ly của chính anh vẫn chưa uống cạn.

"Cả ngày hôm nay tôi cứ thắc mắc," cô nhấp một ngụm rượu, "tại sao Leslie lại chịu thua vào lúc này. Tôi nghĩ, tôi biết lý do."

"Cậu ta cảm thấy cô đơn khi thiếu cô," Byron nói.

Natalie lắc đầu. "Cách hành xử của Leslie Slote trên đường đến Bruch thật quá đỗi đáng khinh. Vì chuyện này mà tôi rất coi thường cậu ta, tôi cũng đã cho cậu ta biết điều đó. Đó là bước ngoặt. Sau đó cậu ta cứ bám theo tôi. Hơn một nửa số thư cậu ta gửi đến tôi đều không hồi âm." Byron nói: "Cô luôn phóng đại chuyện đó. Cậu ta chỉ là..."

"Đừng nói nữa, Byron. Đừng vòng vo với tôi. Cậu ta chỉ là mặt cắt không còn giọt máu, lấy tôi làm cái cớ để trốn sau váy tôi thôi. Đại sứ Thụy Điển đã chế giễu cậu ta ngay trước mặt suốt dọc đường đấy." Cô uống cạn gần hết ly brandy của mình. "Phải biết rằng, lòng dũng cảm của một người là chuyện không thể cưỡng cầu. Giờ xem ra điều đó cũng chẳng quan trọng mấy. Anh có thể là một nhà lãnh đạo thế giới, nhưng đồng thời lại là một kẻ hèn nhát đê tiện. Hitler có lẽ chính là loại người đó. Tình trạng này rồi sẽ còn tiếp diễn. Tương lai vẫn sẽ không ngừng xảy ra. Tôi không nói là mình không muốn cưới Leslie Slote chỉ vì cậu ta bị pháo kích làm cho khiếp vía. Ở nhà ga, cách thể hiện của cậu ta vẫn khá ổn. Nhưng, tôi dám chắc đây chính là lý do cậu ta cầu hôn tôi. Cậu ta dùng việc này để thay lời xin lỗi và muốn làm lại cuộc đời. Điều này hoàn toàn không giống với hình mẫu lý tưởng của tôi thời thiếu nữ."

"Vậy thì đúng ý cô rồi còn gì."

"Tôi cũng không biết nữa. Còn nhiều trở ngại lắm. Ví dụ như gia đình tôi chẳng hạn. Khi tôi nói với cha mẹ rằng mình yêu một tín đồ Cơ đốc giáo, họ đã nổi trận lôi đình. Sau cơn giận đó tôi thì không sao, nhưng cha tôi đã phải nằm liệt giường suốt cả tuần. Giờ lại sắp có một trận phong ba nữa đây. Hơn nữa, cách Leslie cầu hôn tôi thật kỳ quặc. Thời gian, địa điểm đều không thích hợp chút nào. Nếu tôi viết thư chấp nhận yêu cầu của cậu ta, có lẽ cậu ta sẽ đạp xe đến đây ngay lập tức đấy."

"Nếu cậu ta thực sự là kẻ ngốc như vậy - dù tôi rất nghi ngờ điều đó," Byron nói, "thì cô cứ để cậu ta đạp xe về đi."

"Còn có Aaron nữa."

"Cậu ta sẽ không làm phiền cô đâu. Sớm muộn gì cậu ta cũng rời Ý thôi."

"Cậu ta rất không muốn rời đi."

"Lúc chúng ta không có ở đó, chẳng phải cậu ta vẫn sống tốt sao."

"Ừ, đó là anh nghĩ vậy. Anh nên nhìn xem thư viện và phòng làm việc trông như thế nào khi tôi trở về. Lộn xộn hết cả. Hơn nữa mấy tuần đó cậu ta chẳng viết được chữ nào. Aaron lẽ ra phải kết hôn từ lâu rồi, nhưng cậu ta không chịu, vì vậy có bao nhiêu việc cần người khác lo lắng, chăm sóc. Thậm chí đến một cây bút chì cậu ta cũng không tự gọt nổi."

Byron bắt đầu nghi ngờ, liệu Natalie phấn khích và nói nhiều như vậy có phải vì đã uống quá nhiều brandy hay không. Cô nói chuyện tay chân múa may, tuôn trào không dứt, đến mức không kịp thở, đôi mắt cũng như đang phát cuồng vậy. "Ngoài ra, anh biết đấy, còn một vấn đề lớn nhất."

"Vấn đề gì?"

Cô trừng mắt nhìn anh. "Anh thực sự không biết sao, Briny? Một chút cũng không biết? Anh không cảm nhận được chút nào sao? Anh nói đi. Đừng như vậy nữa."

Natalie Jastrow liếc nhìn anh, cái nhìn đầy quyến rũ bất chợt ấy khiến anh say đắm, anh lắp bắp khó khăn: "Tôi nghĩ, tôi không biết."

"Được rồi, để tôi nói cho anh biết. Anh đã thành công rồi, đồ xấu xa, anh rõ ràng là biết mà. Điều anh muốn làm ngay từ ngày đầu tiên đến đây, anh đã thành công rồi. Tôi đã yêu anh rồi!" Cô lại liếc anh một cái, đôi mắt lấp lánh, mở to hết cỡ.

"Nhìn cái vẻ ngạc nhiên của anh kìa. Chẳng lẽ anh không tin sao?" Anh nói bằng giọng khản đặc: "Tôi ước gì mình không phải đang nằm mơ."

Anh đứng dậy, bước về phía cô. Cô nhảy lên ôm chầm lấy anh. "Ôi, lạy Chúa," cô tựa vào người anh nói, hôn hết cái này đến cái khác. "Môi anh thật tuyệt," cô lẩm bẩm, tay vuốt tóc anh, mân mê khuôn mặt anh. "Nụ cười thật ngọt ngào. Đôi bàn tay thật đẹp. Tôi thích nhìn đôi tay này của anh. Tôi thích cách anh bước đi. Anh thật tuyệt vời," đây chẳng khác nào giấc mơ mà Byron đã tưởng tượng hàng ngàn lần, nhưng còn nồng nhiệt hơn, đẹp đẽ hơn và lay động lòng người hơn. Cô tựa như một con mèo, tận hưởng khoái cảm bản năng khi cọ xát vào người anh. Bộ đồ ngủ bằng vải nỉ của cô sột soạt trong tay anh. Hương thơm tỏa ra từ mái tóc cô, hơi thở ấm áp ngọt ngào từ miệng cô, tất cả những điều này không thể là mơ được. Nhưng mọi chuyện xảy ra thật kinh ngạc, khó mà tin nổi. Họ đứng cạnh lò sưởi đang tí tách cháy, ôm hôn, nói những lời ngô nghê, thì thầm, cười đùa, rồi lại hôn nhau. Natalie thoát ra, chạy đi vài bước, xoay người lại đối diện với anh, đôi mắt sáng rực.

"Thôi được rồi. Tôi phải làm như vậy, nếu không thì chết mất. Cả đời này tôi chưa bao giờ có cảm giác như thế, Byron, tôi hoàn toàn bị anh mê hoặc đến điên dại. Tôi cứ cố tìm cách thoát ra, thoát ra, bởi vì, anh biết đấy, làm vậy chẳng có lợi lộc gì cả. Anh là một đứa trẻ. Tôi không thể làm thế. Không thể yêu thêm một tín đồ Cơ đốc giáo nào nữa. Không thể như thế này được. Hơn nữa..." Cô dùng hai tay che mặt. "Á! Á! Đừng nhìn tôi như vậy, Briny! Rời khỏi phòng tôi đi." Byron quay người định đi, đôi chân anh như nhũn ra. Anh muốn cô được vui lòng.

Cô lập tức nói tiếp: "Lạy Chúa, anh là một người tốt. Đây cũng là điều khiến người ta không thể tin nổi ở anh. Anh cứ ở lại đây đi, được không? Cưng à, tình yêu của em, em không muốn đuổi anh đi, em chỉ muốn tỉnh táo lại một chút thôi. Em không muốn làm chuyện gì sai trái. Anh bảo em làm gì, em nhất định sẽ làm. Em vô cùng ngưỡng mộ anh."

Anh nhìn cô dưới ánh lửa, cô mặc bộ đồ ngủ bằng vải nỉ, đứng khoanh tay, một chân vươn ra ngoài, hông hơi nhô lên, đây là tư thế Natalie thích nhất. Anh sung sướng đến phát điên, đồng thời cảm thấy may mắn vì mình vẫn còn sống. "Nghe này, cô có định cưới tôi không?" Byron nói.

Natalie mở to mắt, há hốc miệng. Byron nhìn thấy vẻ mặt buồn cười đó của cô, không nhịn được mà bật cười lớn, nụ cười ấy khiến cô cũng cười theo một cách điên cuồng. Cô tiến lại gần anh, gần như lao vào người anh, cười dữ dội đến mức chẳng thể hôn nổi. "Trời ạ," cô vòng tay ôm lấy anh, thở hổn hển nói. "Anh đúng là kẻ kỳ quặc. Một ngày mà có tận hai người cùng cầu hôn Jastrow! Không thì thôi, đã đến là ập tới như mưa, đúng không?"

"Tôi là nghiêm túc đấy," anh nói. "Tôi không biết tại sao chúng ta lại cười. Tôi luôn muốn cưới cô. Chuyện này nghe có vẻ nực cười, nhưng nếu cô thực sự yêu tôi..."

"Rất nực cười," Natalie hôn lên má anh nói. "Nực cười đến mức không nói nên lời, anh thì có ý, còn tôi thì trước giờ vô tâm, biết đâu được... mặc kệ đi! Dù sao cũng chẳng ai nói anh là một đứa trẻ hôi sữa được nữa! Anh đã hơi giống giấy nhám rồi đấy, phải không?" Cô lại hôn anh một cái thật mạnh, rồi buông tay ra. "Suy nghĩ lúc nãy vẫn đúng. Anh đi đi. Chúc ngủ ngon, cưng à. Tôi biết anh nghiêm túc, tôi rất cảm động. Thứ chúng ta giành được ở cái nơi bi thảm này chính là thời gian, chúng ta có rất nhiều thời gian."

Xung quanh tối đen như mực, Byron nằm trên chiếc giường nhỏ trong căn phòng trang nhã, mở trừng mắt. Anh nghe thấy cô đi lại dưới nhà một lúc, rồi cả ngôi nhà chìm vào tĩnh lặng. Anh vẫn còn cảm nhận được dư vị trên môi Natalie. Trên tay anh vẫn còn vương mùi phấn thơm của cô. Bên ngoài thung lũng, tiếng lừa kêu đáp lại nhau từ những sườn núi đầy tiếng vang, một con gà trống nhầm giờ gáy báo sáng trước cả bình minh, tiếng chó sủa vang lên. Đột nhiên một cơn gió thổi qua, mưa rơi lộp bộp trên mái ngói một hồi lâu, lát sau, nước mưa theo lỗ hổng nhỏ giọt vào cái thùng cạnh giường anh. Cơn mưa rào qua đi, ánh trăng xanh nhạt nhẽo chiếu qua cửa sổ tròn nhỏ, tiếng nước nhỏ giọt vào thùng đã dứt, nhưng Byron vẫn nằm đó với đôi mắt mở to, cố gắng thuyết phục bản thân rằng tất cả những điều này là sự thật, đồng thời phân biệt đâu là giấc mơ, ảo giác trong nửa năm qua, đâu là thực tại đầy kinh ngạc khi Natalie bày tỏ tình yêu với anh. Lúc này, với tâm trạng xao động, anh bắt đầu suy nghĩ xem bước tiếp theo nên làm gì. Đầu óc anh tràn ngập đủ loại dự định và quyết định, từ trường y, tác giả truyện ngắn cho đến lĩnh vực ngân hàng ở Washington. Khi anh chìm vào giấc ngủ với những suy nghĩ đó, bên ngoài cửa sổ trời đã ửng đỏ. Một người anh em họ xa của mẹ anh quả thực có mở một ngân hàng.

"Chào, Natalie."

"Ừ, anh đến rồi à. Ngủ ngon không?"

Khi anh vội vàng đến thư viện, đã gần mười một giờ. Byron vốn dĩ rất lười biếng, nhưng anh chưa bao giờ xuống lầu muộn đến thế. Trên bàn Natalie bày ba cuốn sách đang mở, cô đang đánh máy. Cô liếc nhìn Byron một cách nồng nhiệt rồi tiếp tục làm việc. Byron nhìn thấy trên bàn mình có một xấp bản thảo, Jastrow đã sửa chằng chịt, ngoài ra còn đính kèm một mảnh giấy, viết bằng bút đỏ: Hãy đưa tài liệu cho tôi trước bữa trưa.

"Aaron Jastrow cũng đã vào đây mười phút trước," Natalie nói, "còn càm ràm vài câu nữa."

Byron đếm số trang. "Đến lúc ăn trưa, cậu ta chắc còn càm ràm nhiều hơn. Tôi rất xin lỗi, nhưng tôi phải đến tận hừng đông mới chợp mắt được."

"Vậy sao?" Cô nói, khẽ mỉm cười. "Tôi thì ngủ ngon tuyệt."

Byron nhanh chóng chuẩn bị giấy đánh máy và giấy than, bắt đầu đánh máy, mắt dán chặt vào nét chữ nguệch ngoạc của Jastrow. Một bàn tay vuốt ve tóc anh, rồi đặt một cách âu yếm lên cổ anh. "Để tôi xem nào." Cô đứng sau lưng anh, nhìn anh đầy trìu mến và phấn khích. Trên ngực trái chiếc áo khoác nâu cũ kỹ của cô cài chiếc trâm vàng đính đá tím mang từ Warsaw sang. Chiếc trâm này trước đây cô chưa từng đeo bao giờ. Cô nhìn bản thảo rồi lấy đi vài tờ. "Briny tội nghiệp, sao anh không ngủ được? Đừng vội, anh cứ đánh đi, tôi cũng đến đây."

Họ chưa đánh máy xong trước bữa trưa, nhưng đến giờ ăn, Tiến sĩ Jastrow lại bị chuyện khác làm cho xao nhãng. Buổi trưa, một chiếc xe hơi Lancia màu trắng lăn bánh trên con đường rải sỏi ngoài biệt thự, phát ra tiếng cọc cạch. Byron và Natalie nghe thấy giọng nói trầm ấm của Tom Thorne và tiếng cười nồng nhiệt, sảng khoái của vợ ông. Vợ chồng Thorne, cặp diễn viên Mỹ nổi tiếng lẫy lừng này, đã sống rải rác mười lăm năm tại một biệt thự không xa nhà Jastrow trên núi. Vợ thì sơn sửa, quản lý vườn tược, chồng thì xây tường gạch, nấu nướng. Họ không ngừng đọc kịch bản cũ, kịch bản mới cùng những cuốn tiểu thuyết có thể chuyển thể thành kịch bản. Nhiều nhân vật nổi tiếng đến Siena để thăm họ. Thông qua họ, Jastrow đã quen biết với Maugham, Berenson, Gertrude Lawrence và Picasso. Một giáo sư đại học đã nghỉ hưu, trong nhóm những nhân vật lừng lẫy này, chẳng qua chỉ là một kẻ vô danh tiểu tốt, nhưng thành công của cuốn "Chúa Jesus của một người Do Thái" đã giúp ông có thể giao thiệp với họ mà không chút tự ti. Ông thích gia nhập vòng tròn của những người nổi tiếng, mặc dù ông cũng than phiền rằng những cuộc giao tiếp này gây trở ngại cho công việc của mình. Ông thường xuyên cùng vợ chồng Thorne lái xe đến Florence để thăm bạn bè họ, Natalie và Byron tưởng rằng cặp diễn viên này lúc này chắc hẳn đang tiện đường ghé qua đón ông đi cùng. Tuy nhiên, khi xuống lầu ăn trưa, họ phát hiện Aaron Jastrow đang ở một mình trong phòng khách, mũi đỏ ửng, hắt hơi liên tục, lắc lắc ly rượu Sherry rỗng. Ông càm ràm vì họ xuống muộn. Thực ra họ còn đến sớm hơn một chút.

"Vợ chồng Thorne sắp đi rồi," sau bữa trưa ông mới nói; suốt bữa ăn, ông cứ hắt hơi, hỉ mũi, không nói một lời. "Họ đến để chào từ biệt thôi."

"Thật sao? Họ đang soạn kịch bản mới à?" Natalie nói.

"Họ sắp rời khỏi đây. Đi hẳn đấy. Đồ đạc cũng chuyển hết về Mỹ rồi."

"Nhưng thời hạn thuê của họ còn - bao nhiêu năm? Năm năm chứ nhỉ?"

"Bảy năm. Họ bỏ hợp đồng thuê rồi. Họ nói, nếu chiến tranh lan rộng, họ sẽ bị kẹt ở đây và không trả nổi tiền thuê nhà." Jastrow ủ rũ dùng ngón tay vuốt râu nói. "Đây chính là điểm khác biệt giữa thuê và mua. Anh muốn đi là đi. Dù nơi này có xảy ra chuyện gì, cũng không cần phải bận tâm. Trước đây họ từng khuyên tôi thuê nhà. Lẽ ra tôi nên nghe lời họ. Nhưng giá bán lúc đó rẻ biết bao!"

Byron nói: "Thưa ông, nếu ông cho rằng có nguy hiểm, thì nguy hiểm nhất chính là bản thân ông đấy."

"Tôi không sợ điều đó. Họ cũng không sợ. Đối với họ, đó là một rắc rối, chúng ta ra phòng chanh uống cà phê đi." Ông không vui ngẩng đầu lên, rồi lại chìm vào im lặng.

Phòng chanh là một căn nhà dài xung quanh toàn là kính, trên nền đất bùn bày đầy những cây quýt nhỏ trồng trong chậu, từ đây có thể ngắm nhìn toàn cảnh thành phố và những ngọn núi nâu bao quanh. Cây quýt ở đây không bị gió lạnh thung lũng xâm hại, tắm mình trong ánh nắng, suốt mùa đông đều nở hoa kết trái. Jastrow tin rằng hương hoa nồng nàn của cây quýt và cây chanh có thể chữa trị bệnh hen suyễn tái phát mỗi khi ông kích động hoặc nổi nóng, thực ra điều này trái với chẩn đoán y học. Có lẽ, vì ông tin vào điều đó nên nó thực sự có tác dụng. Khi họ uống cà phê, ông đã không còn thở khò khè nữa. Ánh nắng ấm áp khiến ông phấn chấn hẳn lên. Ông nói: "Tôi dám khẳng định họ nhất định sẽ sớm quay lại thôi, kéo theo ba xe đồ đạc lên núi. Họ làm tôi nhớ đến những người ở Martha's Vineyard cứ gặp bão là vội vã tháo chạy. Tôi đã gặp bốn cơn bão rồi, nhưng vẫn thưởng ngoạn trọn vẹn cảnh sắc nơi đây."

Sau khi ông đi, Natalie nói: "Cú sốc đối với ông ấy lớn quá."

"Ước gì ông ấy có thể vì cú sốc đó mà rời khỏi đây."

"Một khi Aaron Jastrow rời đi, ngôi nhà này sẽ hoang phế mất."

"Thì đã sao nào?"

"Briny, anh chắc chưa bao giờ sở hữu tài sản gì nhỉ? Hay là chưa từng tiết kiệm tiền? Nếu anh từng có, anh sẽ hiểu thôi."

"Cô xem này, Natalie, Aaron Jastrow về già bỗng dưng có được một khoản thu nhập bất ngờ, ông ấy cao hứng mua một căn biệt thự rất lớn ở một thị trấn miền núi hẻo lánh tại Ý với cái giá rất rẻ. Cũng tốt thôi. Vậy thì, dù bây giờ ông ấy rời đi, thì đã sao? Nếu ông ấy bán căn biệt thự, kiểu gì cũng thu về được một khoản tiền. Nếu không thì đợi sau chiến tranh quay lại, ông ấy cũng có thể thu hồi nguyên vẹn ngôi nhà. Hoặc không thì ông ấy có thể quên nó đi, cứ để nó sụp đổ, đến nhanh thì đi cũng nhanh thôi."

"Anh nhìn nhận mọi việc đơn giản quá," cô nói.

Hai người ngồi cạnh nhau trên một chiếc ghế mây trắng dài. Anh vươn tay định ôm lấy cô. "Đừng làm thế," cô rùng mình, đẩy tay anh ra và nói. "Cũng giống như vậy thôi, quá đơn giản. Anh nghe tôi nói kỹ đây, Byron. Anh bao nhiêu tuổi? Anh mới hai mươi lăm tuổi thôi nhỉ? Tôi hai mươi bảy rồi."

"Tuổi tác thế là đủ xứng với cô rồi, Natalie."

"Đủ để làm gì? Sống chung với tôi sao? Đừng nói bậy. Vấn đề là, bản thân anh định làm gì? Tôi lúc nào cũng có thể dạy học ở đại học. Luận văn thạc sĩ của tôi sắp viết xong rồi. Anh có cái gì nào? Có nụ cười khiến tôi phát điên, và mái tóc đẹp đẽ của anh. Anh dũng cảm, lịch thiệp, nhưng anh chẳng qua chỉ là đang lang thang ở đây thôi. Anh ở lại đây hoàn toàn là vì tôi. Anh đang lãng phí thời gian, mà lại chẳng có lấy một kỹ năng nghề nghiệp nào."

"Natalie, cô có muốn cưới một nhân viên ngân hàng không?"

"Cưới cái gì? Nhân viên ngân hàng?"

Anh nói với cô rằng anh có người thân mở ngân hàng ở Washington. Cô chắp hai tay đặt lên đầu gối, nhìn anh với nụ cười, khuôn mặt ửng hồng vì nắng. "Cô thấy sao?" anh hỏi.

"Ừ, không tệ," cô nói. "Cuối cùng anh cũng thực sự đối mặt với cuộc sống rồi. Đây là một chuyện nghiêm túc và đứng đắn, phải không? Anh kể cho tôi nghe một chuyện đi."

"Chuyện gì?"

"Kể cho tôi nghe anh bắt đầu yêu tôi từ khi nào."

"Cô không muốn bàn chuyện ngân hàng sao?"

"Đương nhiên là có, cưng à. Chúng ta bàn ngay đây. Anh kể trước đi, bắt đầu từ khi nào?"

"Được rồi, tôi kể cho cô nghe. Chính là lúc cô tháo cặp kính râm đó ra."

"Cặp kính râm của tôi? Đó là lúc nào?"

"Sao cơ, chính là ngày đầu tiên chúng ta cùng Slote đến biệt thự đấy. Cô còn nhớ không? Cô đeo cặp kính râm to đùng trên xe, nhưng sau đó cô tháo ra, tôi nhìn thấy đôi mắt cô."

"Thật sao?"

"Cô hỏi tôi bắt đầu yêu cô từ khi nào. Tôi đã nói với cô rồi đấy."

"Nhưng, thật kỳ lạ. Giống như anh nói, và những việc khác anh làm, đều kỳ lạ như vậy. Lúc đó anh hiểu gì về tôi không? Nhưng lúc đó mắt tôi chắc là đang đầy sát khí đấy. Tôi ngủ đến bốn giờ mới dậy, cãi nhau một trận tưng bừng với Leslie. Anh lúc đó chẳng để lại ấn tượng gì cho tôi cả, nên tôi chẳng hề chú ý đến anh. Được rồi, anh thực sự muốn làm nhân viên ngân hàng sao?" Anh cười khổ một cách lúng túng rồi nói: "Tôi thực sự từng nghĩ đến một nghề khác. Nhưng, cô đừng cười tôi nhé."

"Tôi không cười anh."

"Tôi muốn làm công việc ngoại giao. Công việc này rất thú vị, lại còn được phục vụ đất nước."

"Anh đồng hành cùng Leslie," cô nói. "Thế thì tốt quá." Cô nắm lấy một bàn tay của Byron như một người mẹ, Byron vô cùng cảm động. "Đây cũng không phải nói đùa đâu, Briny cưng à, chúng ta đang nói chuyện nghiêm túc đấy."

"Được rồi," Byron nói. "Chúng ta nói tiếp đi."

Cô ngồi trầm ngâm một lát, nắm lấy bàn tay anh đặt lên đầu gối, giống như lúc trước trong xe của Đại sứ Thụy Điển. "Để tôi nói cho anh biết, tôi thực sự nghĩ gì trong lòng nhé. Vấn đề là anh có chuyên môn. Anh là một sĩ quan hải quân."

"Tôi chính là không muốn làm nghề này, cũng không muốn lấy đó làm sự nghiệp."

"Anh đã có bổ nhiệm rồi."

"Tôi chỉ là sĩ quan cấp dưới dự bị thôi. Chẳng sao cả."

"Nếu chiến tranh tiếp tục, anh sẽ phải nhập ngũ. Vậy thì anh sẽ phải ở trong quân đội nhiều năm đấy. Cuối cùng anh có lẽ từ một kẻ lười biếng, mặc thường phục, chỉ biết giết thời gian, biến thành một sĩ quan."

"Ngày mai tôi có thể đi từ chức sĩ quan dự bị. Có nên từ chức không?"

"Nếu chúng ta bị cuốn vào chiến tranh thì sao? Đến lúc đó phải làm thế nào? Đến lúc đó anh không đi đánh giặc à?"

"Đến lúc đó đương nhiên là không còn cách nào khác rồi."

Cô đặt tay lên đầu anh, dùng sức kéo mạnh mái tóc. "Phải rồi, đó chính là cách bộ não của anh tư duy về mọi vấn đề. Em yêu anh cũng vì điểm đó, và yêu cả những thứ khác nữa, nhưng này Byron, em không đời nào lấy một sĩ quan hải quân làm chồng đâu. Với em, chẳng có gì nực cười và đáng sợ hơn điều đó cả. Em cũng sẽ không lấy một phi công tập sự hay một diễn viên, anh hiểu chứ?"

"Chuyện đó chẳng có gì đâu, anh nói cho em biết, anh nhất quyết sẽ không làm sĩ quan hải quân... Ai lại đi làm cái công việc quái quỷ đó cơ chứ? Sao thế? Sao em lại khóc?"

Cô dùng mu bàn tay quệt đi những giọt nước mắt bất chợt chảy dài trên má, rồi mỉm cười. "Ừ, đừng nói nữa. Nói chuyện kiểu này làm em phát điên mất. Em càng muốn lý trí bao nhiêu thì trong lòng lại càng rối bời bấy nhiêu. Em biết, em yêu anh đến phát điên rồi. Dẫu cho không có kết quả, thì đã sao nào? Rõ ràng là em đang tự làm khổ mình. Đừng, đừng lúc này, anh yêu, thật sự đừng..." Cô thốt lên những lời cuối cùng khi anh ghì chặt cô vào lòng.

Xung quanh không một bóng người. Phía ngoài vách kính chỉ có những dãy núi nhấp nhô và toàn cảnh thành phố, trong nhà kính trồng chanh tĩnh mịch, tỏa ra hương hoa nồng đượm. Họ ôm ấp, vuốt ve và hôn nhau. Natalie tình cờ nhìn ra ngoài, chợt phát hiện người làm vườn Giuseppe đang đứng bên ngoài vách kính, dựa vào chiếc xe cút kít đầy những cành cây vừa cắt tỉa, đang quan sát họ. Ông ta nheo mắt nhìn một cách say sưa, dùng tay áo chiếc áo thể thao lau cái mũi đỏ vì rượu, rồi nháy mắt đầy vẻ thô bỉ.

"Ôi lạy Chúa," cô nói, cố hết sức kéo váy lại. Người làm vườn cười để lộ hàm răng vàng vọt thưa thớt, rồi đẩy xe cút kít bỏ đi. Byron ngồi đó, mặt đỏ bừng, tóc tai rối bời, tâm trí bất định nhìn theo bóng lưng ông ta.

"Anh yêu, bí mật nhỏ của chúng ta bị lộ rồi. Hôn hít trong nhà kính. Em bị làm sao thế này? Chắc chỉ vì hai kẻ đang yêu ở bên nhau quá lâu nên tình cảm nhất thời bốc đồng thôi." Cô nhảy dựng lên, nắm lấy tay anh. "Nhưng em yêu anh, em thực sự không thể kiềm chế được. Mà em cũng chẳng muốn kiềm chế bản thân, ừ, cái lão Giuseppe chết tiệt kia! Đi thôi, chúng ta quay lại đánh đống bản thảo đó đi. Phải đi thôi."

Khi họ bước vào nhà, Jastrow từ phòng sách gọi vọng ra: "Natalie, lá thư của cháu đâu? Cho bác xem được không?"

"Thư gì cơ, Aaron Jastrow? Cháu chẳng nhận được lá thư nào cả."

"Cháu thực sự không có thư ư? Bác nhận được một lá thư của mẹ cháu, bà ấy nói cũng đã viết cho cháu một lá, dài hơn lá thư của bác. Cháu lại đây xem lá này đi. Đây là một lá thư rất quan trọng." Jastrow vẫy vẫy một tờ giấy viết thư hàng không mỏng tang khi Byron đang đi lên lầu.

Mẹ cô viết bằng nét chữ ngay ngắn, phổ thông như kiểu người ta vẫn thường dùng ở các trường công lập tại Manhattan, dài chừng năm sáu dòng:

Aaron thân mến:

Nếu ông có thể khuyên Natalie trở về nhà, cả hai chúng tôi sẽ vô cùng biết ơn ông. Louis nghe tin con bé đi du lịch Ba Lan thì rất lo lắng. Bác sĩ thậm chí cho rằng đây rất có thể là nguyên nhân khiến ông ấy tái phát bệnh lần này. Tôi đã viết thư kể hết mọi chuyện cho Natalie rồi. Ông có thể xem lá thư tôi gửi cho con bé đó, những chi tiết đáng sợ thì tôi xin phép không kể lại ở đây. Nghĩ lại thì chúng tôi vẫn còn rất may mắn. Louis có vẻ tạm thời không còn nguy hiểm, bác sĩ chỉ nói với chúng tôi có vậy thôi.

Chúng tôi đều thấy lạ, không biết ông định ở lại Ý đến bao giờ. Ông không thấy nguy hiểm sao? Tôi biết ông và Louis nhiều năm nay không liên lạc, nhưng ông ấy vẫn rất lo cho ông. Dù sao ông cũng là anh em của ông ấy.

Thân mến,

Sophia và Louis

Natalie lật giở những lá thư đặt trên bàn làm việc của mình trong thư viện, chỉ có một lá thư của cô, là do Slote viết. Byron đang đánh máy, ngẩng phắt đầu lên nhìn thấy vẻ mặt không vui của cô. "Sao thế, Natalie?"

"Bố em ốm rồi. Em phải rời khỏi đây."

Hai ngày sau, cô nhận được thư của mẹ. Mấy ngày nay, mặc dù Natalie vẫn cài chiếc trâm đó và nhìn Byron với ánh mắt rất đặc biệt, nhưng cô vẫn cố tình tránh mặt anh.

Trong lá thư dài này, mẹ cô viết về tình trạng cơn đau tim của bố, câu chữ có phần lộn xộn, Natalie đưa lá thư cho Jastrow xem khi ông đang quấn khăn choàng, uống trà bên lò sưởi trong phòng sách. Khi đọc thư, ông lắc đầu đầy đồng cảm rồi trả lại cho cô. Sau đó, ông nhìn chằm chằm vào đống lửa, nhấp một ngụm trà rồi nói: "Cháu tốt nhất nên đi đi."

"Dạ, cháu cũng nghĩ vậy. Thực ra cháu đã bắt đầu thu dọn hành lý rồi."

"Lần trước Louis tái phát bệnh là vì nguyên nhân gì? Có nghiêm trọng không?"

Mối quan hệ giữa hai anh em họ thời gian qua rất xa cách, Natalie không biết nguyên nhân cụ thể, lần này việc phá vỡ thói quen không nhắc đến bố cô khiến cô cảm thấy không tự nhiên và cũng chẳng vui vẻ gì.

"Không, không phải vì chuyện đó. Chủ yếu là vì cháu nói với họ là cháu yêu Leslie. Bố cháu đột nhiên trở nên rất yếu, khó thở và có một thời gian mất ý thức. Nhưng lúc đó không đưa ông vào bệnh viện điều trị."

Jastrow trầm ngâm vuốt ve chòm râu. "Ông ấy mới sáu mươi mốt tuổi. Cháu biết không, Natalie, như thế này thì chẳng biết cháu di truyền từ ai nữa. Nhà bên mẹ bác phần lớn chỉ sống đến năm mươi tuổi là mất. Nhưng hai người anh của bố bác đều sống qua chín mươi, bản thân ông ấy cũng sống đến tám mươi tám. Hàm răng của bác giống hệt bố, tốt vô cùng. Răng của Louis thì cứ hay hỏng, giống mẹ." Jastrow nhận thấy cô gái đang mang tâm trạng đề phòng u ám. Ông xòe hai tay, ra hiệu xin lỗi. "Chắc là cháu đang nghĩ Aaron Jastrow là một ông già tồi tệ, lấy mình làm trung tâm phải không."

"Nhưng cháu không hề nghĩ thế chút nào."

Jastrow đeo găng tay vải vào để khều lửa, rồi thêm một thanh củi. Ông rất nâng niu đôi bàn tay đẹp đẽ của mình. "Bác biết, cháu sẽ không quay lại nữa. Cuộc sống ở đây sẽ khác đi. Bác có lẽ sẽ đến New Mexico hoặc Arizona. Nhưng những nơi đó thật tẻ nhạt và không có văn hóa! Viết lách ở những nơi như thế, thật không thể tưởng tượng nổi!" Ông thở dài một tiếng, gần như là tiếng rên rỉ. "Không nghi ngờ gì nữa, tác phẩm của bác không quá quan trọng. Nhưng bác vẫn phải dựa vào viết lách để duy trì cuộc sống."

"Tác phẩm của bác rất quan trọng, Aaron Jastrow."

"Thế ư, tại sao?"

Natalie dùng nắm tay chống cằm, suy nghĩ một câu trả lời thỏa đáng. Cô trầm ngâm một lát rồi nói: "Đương nhiên, những tác phẩm này rất dễ hiểu và thường được viết rất đẹp, nhưng đó không phải là đặc điểm của chúng, điểm độc đáo nằm ở bản chất tinh thần của tác phẩm. Những tác phẩm này mang đậm màu sắc Do Thái. Dù là nội dung hay thái độ đều xác thực đáng tin, không hề bốc đồng. Ít nhất sau khi đọc, cháu nhận ra dân tộc nhỏ bé kỳ lạ mà chúng ta thuộc về này đáng lẽ phải biết ơn thế giới Cơ Đốc giáo như thế nào. Tư tưởng này được thể hiện đến mức độ nào trong cuốn sách về Hoàng đế Constantine của bác, sẽ là điều độc giả rất quan tâm."

Lời nói của cô có tác động lớn đến Aaron Jastrow. Ông mỉm cười một cách thần kinh, đôi mắt cũng nhòe đi, khoảnh khắc này ông đột nhiên trông rất giống người Do Thái, cái miệng, cái mũi, vẻ biểu cảm đó, đôi bàn tay trắng trẻo đang vuốt chòm râu, hoàn toàn giống một vị Rabbi không đội mũ. Ông dùng giọng nói yếu ớt, run rẩy nói: "Cháu biết rõ phải nói gì để làm bác vui mà."

"Cháu thực lòng nghĩ như vậy mà, Aaron."

"Vậy thì, cầu Chúa phù hộ cho cháu. Bác từ một kẻ ngoại đạo trở thành một người duy vật, một người theo chủ nghĩa hưởng lạc, rất lâu rất lâu trước đây bác đã yêu nền Cơ Đốc giáo vĩ đại và Chúa Jesus, nhưng tất cả những điều đó không hề làm giảm đi bản sắc Do Thái của bác. Bất kỳ thành viên nào trong gia đình chúng ta cũng sẽ không chấp nhận quan điểm này, nhất là bố cháu. Bác rất cảm kích vì cháu có thể chấp nhận. Bác muốn thông qua hai cuốn sách về Hoàng đế Constantine và Luther để phác họa một bức tranh toàn cảnh. Bác hy vọng sẽ hoàn thành công việc này. Giống như tổ tiên Do Thái của mình, bác là nhân chứng cho con đường mà bác đã đi qua. Mặc dù không nghi ngờ gì nữa, bác sẽ khiến họ cảm thấy kinh hãi." Ông quan sát kỹ biểu cảm của cô, rồi nháy mắt, mỉm cười nói: "Sau khi cháu đi, Byron sẽ ở lại bao lâu nhỉ? Cậu ta ở đây mang lại cho bác cảm giác an toàn."

"Bác tăng lương cho anh ấy đi. Điều đó tốt cho anh ấy hơn bất cứ thứ gì. Anh ấy chưa từng kiếm được một xu nào cả."

Jastrow chu môi, đôi mắt trợn tròn, đầu nghiêng sang một bên. Sống ở Ý nhiều năm, tính khí ông có phần hơi kỳ quặc.

"Bây giờ bác phải chú ý đến tiền bạc của mình rồi. Để xem sao đã. Bác có cảm giác rất mạnh mẽ là, ngay khi cháu trở về bên đó, cháu sẽ lập tức kết hôn với Leslie, rồi... ừ, đừng đỏ mặt như thế, đừng ngại ngùng mà. Bác đoán đúng chứ?"

"Không có gì đâu, Aaron Jastrow."

"Bác dám chắc, nếu Byron biết, cậu ta chắc chắn sẽ càng muốn ở lại đây hơn." Jastrow vuốt râu, mỉm cười với cô.

"Trời ơi, Aaron! Bác hy vọng cháu sẽ nói với Byron Henry rằng cháu sắp lấy Slote để anh ấy ở lại bên bác sao?"

"Ôi, người yêu ơi, ai bắt cháu phải nói như thế đâu? Đợi đã, ý bác là..." Jastrow giơ một tay ra, nhìn theo bóng lưng cô, việc cô đột ngột bỏ đi khiến ông vô cùng kinh ngạc.

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:2
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »