Khi máy bay thực hiện đợt oanh tạc, Byron đang thay lốp xe bên vệ đường. Anh và Natalie đã rời khỏi Krakow, đang ngồi trên chiếc xe taxi Fiat cũ kỹ đầy gỉ sét để tiến về phía Warsaw. Cùng đi với họ còn có Berel Jastrow, một cặp vợ chồng mới cưới, người tài xế nhỏ thó để râu và cô vợ béo mập đến mức trông thật ngớ ngẩn của anh ta.
Sáng hôm người Đức xâm lược, Krakow có vài nơi bốc cháy, khói súng mù mịt. Nhưng đợt ném bom đầu tiên của máy bay Đức không gây ra quá nhiều thiệt hại cho thị trấn tao nhã này. Họ lái xe vòng vèo dưới ánh nắng rực rỡ để tìm đường ra. Nhờ vậy, dù đang vội vã, Byron và Natalie vẫn kịp chiêm ngưỡng những nhà thờ và lâu đài nổi tiếng trong thành phố, cùng quảng trường cổ kính tráng lệ không kém gì quảng trường St. Mark ở Venice. Người dân không hề hoảng loạn vì quân Đức vẫn còn cách đó hơn năm mươi dặm. Trên phố, người ta vẫn náo nức qua lại, nhà ga chật ních người. Berel Jastrow cuối cùng cũng mua được hai tấm vé đi Warsaw, nhưng dù ông có khuyên nhủ thế nào, Byron và Natalie cũng nhất quyết không nhận. Ông đành phải đưa vợ và cô con gái mười hai tuổi lên tàu, sau đó lại thuần thục dẫn họ đi từ văn phòng này sang văn phòng khác, băng qua những con hẻm và những cánh cổng thường ngày không mở để tìm cách đưa họ đi an toàn. Ông dường như quen biết tất cả mọi người và xử lý mọi việc rất tự tin, dù vậy, ông vẫn không thể đưa Byron và Natalie rời khỏi đó. Giao thông hàng không đã ngừng hoạt động. Biên giới Romania tuyên bố đóng cửa. Những chuyến tàu đi về phía Đông tới Nga hay phía Bắc tới Warsaw vẫn không có giờ khởi hành cụ thể, người ta bám lấy cửa sổ tàu hoặc treo mình trên đầu tàu. Cách duy nhất còn lại là đi đường bộ.
Người tài xế taxi có râu tên là Yankel cùng vợ là họ hàng nghèo của Berel, họ sẵn sàng đi bất cứ đâu. Berel tìm cách lấy cho anh ta một giấy tờ chính thức để tránh xe bị trưng dụng, nhưng Yankel không tin loại giấy tờ đó có thể dùng được bao lâu. Vợ anh ta khăng khăng đòi lái xe về nhà trước, gom tất cả thực phẩm, chăn màn, đồ dùng nhà bếp buộc chặt lên nóc xe. Berel cân nhắc rằng hai người Mỹ này tốt nhất nên đến đại sứ quán ở Warsaw, nơi đó cách đây ba trăm cây số, vẫn hơn là mạo hiểm lao về phía biên giới để đụng độ quân Đức. Thế là nhóm người tạm bợ này xuất phát: bảy người chen chúc trong chiếc Fiat cũ gỉ sét, trên nóc xe những tấm đệm vỗ bành bạch, mấy cái nồi đồng va vào nhau kêu lanh canh theo nhịp.
Ban đêm họ dừng lại ở một thị trấn, nơi Jastrow có vài người quen là người Do Thái. Họ ăn một bữa no nê, ngủ trên sàn nhà rồi bình minh lại lên đường. Con đường nhựa hẹp phía trước họ chật kín người đi bộ và xe ngựa, trên xe chất đầy trẻ con, đồ đạc, những con ngỗng kêu quàng quạc cùng đủ thứ linh tinh. Vài nông dân thúc những con lừa chở đầy đồ đạc hoặc những con bò đang rống lên. Những toán lính hành quân thỉnh thoảng lại ép chiếc xe của họ vào lề đường. Một đội kỵ binh đi qua, họ đều cưỡi những con ngựa đốm cao lớn. Những kỵ sĩ đầy bụi bặm vừa đi vừa trò chuyện; họ đều là những gã vạm vỡ, mũ sắt và mã tấu sáng loáng dưới ánh nắng ban mai. Họ cười lớn, để lộ hàm răng trắng, tay vuốt râu, nhìn những người tị nạn nhếch nhác bằng ánh mắt khinh miệt đầy vẻ khoan dung. Một đại đội bộ binh hát vang đi ngang qua. Mặc dù mặt trời đã lên cao nóng bỏng, nhưng tiết trời trong xanh cùng hương thơm của ngô chín khiến những người đi đường cảm thấy khá dễ chịu. Khi trên con đường dài hun hút chạy xuyên qua những cánh đồng lúa mì vàng óng này vẫn chưa thấy bóng dáng quân đội chiến đấu, một chiếc máy bay lẻ loi đột ngột lao từ trên không xuống, bay thấp dọc theo con đường, phát ra tiếng động dữ dội "tạch tạch, tạch tạch". Chiếc máy bay bay rất thấp, Byron có thể nhìn rõ số hiệu, chữ thập đen, chữ A và những chiếc bánh xe thô kệch cố định. Đạn bắn vào người, vào ngựa, vào đồ đạc trên xe và cả lũ trẻ. Byron cảm thấy một bên tai nóng ran, đau nhói, không tự chủ được mà loạng choạng vài bước rồi ngã xuống đất.
Anh nghe thấy tiếng trẻ con khóc, mở mắt ra rồi ngồi dậy. Máu trên quần áo khiến anh giật mình — toàn là những vệt máu đỏ tươi; anh cảm thấy có thứ gì đó nóng hổi nhỏ xuống mặt. Natalie đang quỳ bên cạnh anh, dùng chiếc khăn tay đỏ đẫm máu lau đầu cho anh, anh nhớ lại chuyện máy bay. Phía bên kia đường, cô bé đang khóc ôm lấy chân một người đàn ông, mắt nhìn chằm chằm vào người phụ nữ nằm trên đường. Cô bé vừa nức nở vừa lặp đi lặp lại mấy câu tiếng Ba Lan. Người đàn ông đó là một người Ba Lan tóc nhạt màu, chân trần, quần áo rách rưới, ông ta dùng tay vuốt tóc đứa trẻ.
"Cô bé nói gì vậy?"
"Anh không sao chứ, Byron? Anh cảm thấy thế nào?"
"Hơi choáng. Cô bé kia đang nói gì thế?"
Natalie trông hơi lạ, mũi cô dường như dài và nhọn hơn, tóc tai bù xù, sắc mặt tái xanh và đầy bụi bặm, son môi đã trôi hết, trên trán còn dính một chút máu của Byron. "Em không biết, con bé phát điên rồi."
Berel đứng cạnh Natalie, vuốt râu. Ông nói bằng tiếng Pháp: "Nó cứ nói mãi, 'Mẹ trông thật đáng sợ'."
Byron đứng dậy, một tay chống vào tấm chắn bùn nóng rẫy của chiếc xe, hai đầu gối không còn chút sức lực nào. Anh nói: "Tôi nghĩ mình ổn rồi. Vết thương thế nào?"
Natalie nói: "Em không rõ, tóc anh dày quá, nhưng chảy nhiều máu lắm. Tốt nhất nên đưa anh đến bệnh viện khâu mấy mũi."
Người tài xế cũng vội vàng vặn chặt ốc vít trên chiếc lốp vừa thay, cười với Byron, những giọt mồ hôi từ cái mũi và trán tái nhợt của anh ta lăn xuống bộ râu. Vợ anh ta và cặp vợ chồng mới cưới đứng trong bóng râm của chiếc xe, vẻ mặt hoảng sợ, mắt nhìn lên bầu trời, con đường và cô bé đang khóc. Trên đường, nhiều con ngựa bị thương nhấc chân sau nhảy cẫng lên, hí vang, gia cầm văng ra từ những chiếc xe chở hàng bị lật đang chạy tán loạn, bị lũ trẻ la hét đuổi theo. Mọi người cúi người chăm sóc người bị thương hoặc khiêng họ lên xe, xúc động kêu gào bằng tiếng Ba Lan. Trên bầu trời trong xanh, mặt trời nóng bỏng đang chiếu rọi gay gắt.
Byron loạng choạng đi về phía cô bé đang khóc, Natalie và Jastrow đi theo sau. Mẹ của đứa trẻ nằm ngửa trên đất, một viên đạn bắn trúng mặt bà, đôi mắt bất động của bà không hề bị thương, nên cái hố đỏ tươi đó trông càng đáng sợ hơn. Berel trò chuyện với người cha, gương mặt người đàn ông này chất phác và hiền lành, để một bộ râu vàng rậm rạp. Ông ta nhún vai, ôm chặt lấy cô con gái nhỏ. Vợ Yankel đi tới, đưa cho đứa trẻ một quả táo đỏ, nhóc con lập tức nín khóc, cầm quả táo lên gặm. Người đàn ông ngồi xuống cạnh người vợ đã khuất, khoanh đôi chân trần bẩn thỉu lại, bắt đầu lẩm bẩm, vẽ dấu thánh lên người, một chiếc giày vẫn còn treo trên cổ ông ta. Byron thấy chóng mặt dữ dội, Natalie đỡ anh lên xe. Họ tiếp tục tiến về phía trước. Jastrow nói, cách đó ba dặm có một thị trấn không nhỏ, đến đó họ có thể báo cho chính quyền về việc có người bị thương trên đường. Sau khi cởi bỏ bộ váy cưới, cô dâu trở thành một cô gái nhỏ đeo kính cận dày, mặt đầy tàn nhang, cô bật khóc, đẩy người chồng mặt không chút máu ra, vùi mặt vào lòng vợ người tài xế, khóc suốt cả chặng đường cho đến tận thị trấn.
Thị trấn này không bị phá hủy, bệnh viện xây bằng gạch đỏ cạnh nhà thờ yên tĩnh và mát mẻ. Sau khi nghe Jastrow kể lại, vài y tá và nữ tu liền lên một chiếc xe tải xuất phát. Byron được đưa vào một căn phòng sơn trắng, trong phòng đầy rẫy thiết bị phẫu thuật và ruồi nhặng vo ve. Một bác sĩ béo mặc áo khoác trắng và quần vải bạt chắp vá khâu vết thương trên đầu cho anh, việc cạo tóc xung quanh vết thương còn khó chịu hơn cả mấy mũi kim này. Khi bước ra, anh khuyên Natalie cũng nên đi băng bó đầu gối vì cô lại bị khập khiễng.
"Ôi, mặc kệ đi," Natalie nói, "Đi thôi, Yankel nói tối nay chúng ta vẫn có thể đến kịp Warsaw, đến đó em sẽ băng bó sau."
Vì bác sĩ cho anh uống một thìa thuốc giảm đau, cộng thêm sự mệt mỏi và kinh hãi, Byron thiếp đi. Khi tỉnh dậy, anh không biết đã qua bao lâu. Trên một quảng trường lát đá cuội rộng lớn gần nhà ga xây bằng gạch đỏ, hai người lính cầm súng trường chặn chiếc xe lại. Nhà ga và một đoàn tàu chở hàng đều bốc cháy, lửa và khói đen cuồn cuộn bay ra từ các cửa sổ. Những tòa nhà quanh quảng trường đều bị đánh sập thành đống đổ nát hoặc bị hư hại. Có hai ngôi nhà đang cháy. Mọi người tụ tập quanh các cửa hàng để chuyền tay nhau hàng hóa, vận chuyển đồ đạc đi. Byron nhận ra đây là cướp bóc, không khỏi kinh ngạc. Phía bên kia quảng trường, người ta đang dùng xe cứu hỏa kéo bằng ngựa để bơm nước vào nhà ga đang cháy (loại xe cứu hỏa này Byron chỉ thấy trong những bộ phim câm thời trước), một đám đông đứng xem bên cạnh, cứ như thể đang hóng chuyện thời bình vậy.
"Chuyện gì thế này?" Byron hỏi.
Trong hai người lính, gã thanh niên cao lớn có mái tóc vàng, khuôn mặt vuông đỏ gay nổi đầy mụn mủ đi đến bên cửa sổ của người tài xế. Người lính, Yankel và Jastrow nói chuyện bằng tiếng Ba Lan. Gã lính này luôn giữ nụ cười với vẻ dịu dàng khó chịu, cứ như thể đang nói chuyện với mấy đứa trẻ mà hắn không ưa vậy. Gã đồng bọn gầy gò của hắn đi tới, nhìn họ qua lớp kính vàng, vừa hút thuốc vừa ho không dứt. Hắn nói chuyện với gã cao lớn, nhiều lần gọi hắn là Kazimierz. Lúc này Byron mới hiểu, "Zhid" trong tiếng Ba Lan nghĩa là "người Do Thái", từ này xuất hiện rất thường xuyên trong cuộc đối thoại của họ. Kazimierz lại nói với người tài xế, có lúc, hắn còn thò tay vào vuốt râu người tài xế, rồi lại giật mạnh, rõ ràng là vì câu trả lời của người tài xế làm hắn nổi giận.
Jastrow nói thầm vài câu tiếng Yiddish với Natalie, liếc nhìn Byron.
"Ông ấy nói gì vậy?" Byron hỏi.
Natalie nói nhỏ: "Ông ấy nói, người Ba Lan có người tốt kẻ xấu, những người Ba Lan này là kẻ xấu." Kazimierz dùng súng ra hiệu, ra lệnh cho tất cả xuống xe. Jastrow nói với Byron: "Họ muốn lấy xe của chúng ta."
Byron đau đầu như búa bổ; viên đạn sượt qua tai anh, chỗ da bị rách nóng ran, giật giật, đau hơn cả vết khâu trên đầu; ngoài ra, hai ngày nay chỉ toàn ăn đồ thừa, uống nước bẩn nên cảm thấy trong người đau nhức âm ỉ; còn loại thuốc anh vừa uống vẫn đang có tác dụng gây tê; anh chưa bao giờ thấy khó chịu như thế này. "Tôi sẽ thử nói chuyện với gã mặt đỏ kia, hắn có vẻ là người phụ trách," anh nói rồi bước xuống xe.
"Này," anh đi về phía hai người lính, "Tôi là sĩ quan hải quân Mỹ, đang trên đường trở về đại sứ quán ở Warsaw, họ đang đợi tôi ở đó. Cô gái Mỹ này —" anh chỉ vào Natalie — "là vợ chưa cưới của tôi, chúng tôi đến thăm gia đình cô ấy. Đây đều là người thân của cô ấy."
Nghe tiếng Anh, lại nhìn thấy băng gạc dày dính đầy máu trên đầu Byron, những người lính nhíu mày. "Người Mỹ à?" gã cao lớn hỏi. Jastrow đang tựa vào cửa sổ xe liền dịch lời Byron.
Kazimierz gãi cằm, nhìn Byron từ đầu đến chân, trên mặt lộ ra nụ cười ân cần. Hắn nói với Jastrow, Jastrow run rẩy dịch lại lời hắn sang tiếng Pháp: "Hắn nói, không có sĩ quan hải quân Mỹ nào lại đi cưới một người Do Thái. Hắn không tin lời anh."
"Bảo hắn, nếu tối nay chúng tôi không đến được Warsaw, đại sứ Mỹ sẽ hành động để tìm chúng tôi. Nếu hắn không tin, chúng ta cùng đi gọi điện cho đại sứ quán."
"Hộ chiếu," sau khi Jastrow dịch xong, Kazimierz nói với Byron. Byron đưa hộ chiếu ra. Người lính nhìn bìa xanh của hộ chiếu, nhìn tiếng Anh, nhìn bức ảnh, rồi lại nhìn mặt Byron. Hắn nói gì đó với gã đồng bọn đang ho, rồi bỏ đi, gọi Byron theo sau.
"Byron, đừng đi," Natalie nói.
"Tôi sẽ về ngay. Mọi người cứ bình tĩnh."
Gã lính thấp người tựa vào tấm chắn bùn của xe, lại châm một điếu thuốc, sau khi ho dữ dội một hồi liền toét miệng cười ngây ngô với Natalie.
Byron theo Kazimierz đi vào một con đường nhỏ, bước vào một tòa nhà hai tầng bằng đá, bên ngoài treo đầy thông báo và áp phích chính thức. Họ đi qua nhiều căn phòng đầy tủ hồ sơ, quầy và bàn làm việc, rồi đến trước một cánh cửa kính mờ ở cuối đại sảnh. Kazimierz bước vào, khoảng mười phút sau, hắn thò đầu ra, gọi người Mỹ vào trong.
Sau một chiếc bàn làm việc lớn cạnh cửa sổ, ngồi một gã béo mặc quân phục xám, đang dùng tẩu thuốc hổ phách để hút. Nhìn vào những ký hiệu màu sắc và huy hiệu đồng trên quân phục, rõ ràng là một sĩ quan. Trước mặt hắn đặt cuốn hộ chiếu đang mở. Hắn vừa nhấp ngụm trà trong ly thủy tinh, vừa liếc nhìn hộ chiếu, nước trà nhỏ cả vào bức ảnh của Byron. Trong căn phòng chật hẹp, bẩn thỉu này, những tủ hồ sơ kim loại và giá sách chất đống ở một góc, những cuốn sách luật đầy bụi bặm bị vứt bừa bãi.
Sĩ quan hỏi anh có biết nói tiếng Đức không. Họ trò chuyện bằng thứ ngôn ngữ đó, tất nhiên là cả hai đều nói không ra sao. Hắn bắt Byron kể lại tình hình một lần nữa, rồi hỏi một sĩ quan hải quân Mỹ tại sao lại dính líu đến người Do Thái, tại sao lại đi lại lung tung ở Ba Lan khi chiến tranh đang diễn ra. Điếu thuốc của hắn đã cháy đến tận cùng, hắn lại châm điếu khác. Hắn tra khảo dữ dội về việc Byron bị thương ở đầu như thế nào, nghe tin họ bị oanh tạc trên đường, hắn nhướng mày cười nhạt. Hắn nói, dù tất cả đều là thật, thì hành vi của Byron cũng đủ ngu ngốc, rất dễ bị bắt đi xử bắn. Trong những khoảng lặng dài giữa các câu hỏi, hắn dùng chiếc bút cắm vào mực ghi lại câu trả lời của Byron, rồi kẹp tờ ghi chép cẩu thả đó vào hộ chiếu, ném tất cả vào một chiếc giỏ sắt đầy tài liệu.
"Ngày mai năm giờ chiều lại đến đây."
"Không được. Tối nay tôi phải quay về Warsaw." Sĩ quan nhún vai.
Byron ước gì thái dương mình đừng giật mãi như thế, như vậy thật không thể suy nghĩ nổi, nhất là bằng tiếng Đức, hơn nữa mắt anh cũng đã hoa lên. "Tôi có thể hỏi ông là ai không? Ông dựa vào quyền hạn gì mà tịch thu hộ chiếu của tôi, và tên lính kia dựa vào quyền hạn gì mà đòi lấy xe của chúng tôi?"
Nụ cười khó chịu mà Kazimierz vừa thể hiện — Kazimierz vẫn đứng ngây ra cạnh bàn làm việc trong lúc họ trò chuyện — lúc này xuất hiện trên mặt viên sĩ quan. "Đừng quan tâm tôi là ai. Chúng ta phải làm rõ anh là ai trước đã."
"Vậy xin hãy gọi điện cho đại sứ quán Mỹ, tìm thư ký chính trị Leslie Slote, việc này không tốn nhiều thời gian đâu."
Viên sĩ quan uống cạn ly trà nguội, bắt đầu ký tên vào tài liệu, lầm bầm vài câu tiếng Ba Lan với Kazimierz, Kazimierz liền túm lấy cánh tay Byron, đẩy anh ra ngoài cửa, đưa anh quay lại chỗ chiếc xe.
Nhà ga và những chiếc xe chở hàng đều bốc khói trắng, trên phố đầy mùi gỗ cháy bị ẩm. Vụ cướp bóc đã kết thúc. Cảnh sát đứng trước những cửa hàng bị nạn. Khuôn mặt của ba người phụ nữ nhìn Byron đầy căng thẳng qua lớp kính vàng của xe. Gã đồng bọn của Kazimierz lúc nãy vừa gõ kính, vừa nháy mắt với cô dâu, làm cô sợ hãi trốn khỏi cửa sổ. Bây giờ Kazimierz nói với hắn vài câu, rồi họ bỏ đi.
Byron kể lại tình hình cho Natalie, cô lại dịch lại một lần nữa bằng tiếng Yiddish cho những người khác. Jastrow nói, họ có thể ngủ lại nhà một người bạn trong thị trấn này. Khi Byron ngồi vào ghế lái, Yankel tỏ ra rất vui mừng, quay lại hàng ghế sau, ngồi cạnh vợ mình.
Dưới sự chỉ dẫn của Berel, Byron lái xe về phía một ngã tư. Tại ngã tư có một mũi tên lớn, chỉ về con đường bên trái chạy xuyên qua cánh đồng chất đầy những bó rơm ngô, trên đó viết: Warsaw, 95 km. Jastrow bảo anh rẽ phải, đi vào con đường chạy qua những ngôi nhà nhỏ, dẫn đến một nhà thờ gỗ chưa sơn. Nhưng Byron lại chuyển số, rẽ trái, lao ra cánh đồng. "Quay lại không phải chuyện tốt," anh nói với Natalie, "Chúng ta tốt nhất nên tiếp tục tiến lên."
Natalie hét lên: "Byron, dừng lại, đừng điên rồ nữa! Không có hộ chiếu anh không thể vượt qua những người này đâu."
"Hỏi Berel xem ông ấy nghĩ sao." Tiếp theo là một cuộc đối thoại bằng tiếng Yiddish. "Ông ấy nói, làm vậy anh quá nguy hiểm. Quay lại đi."
"Tại sao? Nếu gặp rắc rối, tôi sẽ nói là hộ chiếu bị mất trong một đợt oanh tạc, trên đầu tôi còn cái lỗ này đây." Byron đạp mạnh chân ga, chiếc Fiat cũ kỹ quá tải kêu lạch cạch này đạt tốc độ tối đa, khoảng ba mươi dặm một giờ. Nồi niêu xoong chảo trên nóc kêu lanh canh, Byron buộc phải hét lên: "Hỏi ông ấy, đối với em và những người khác, rời khỏi đây có phải là an toàn nhất không."
Anh cảm thấy có thứ gì đó chạm vào vai, quay đầu lại nhìn, hóa ra Berel Jastrow đã thiếp đi, gương mặt đầy râu trông vô cùng mệt mỏi và xám xịt.
Họ mất hai ngày để đi hết chín mươi lăm cây số này. Khi chuyện mới xảy ra, Byron cảm thấy thực sự như một thiên sử thi, nếu anh có thể sống sót, nhất định sẽ kể cho con cháu nghe. Nhưng sau đó, chuyện như vậy xảy ra quá nhiều, nên hành trình năm ngày từ Krakow đến Warsaw chẳng mấy chốc đã trở thành ký ức nhạt nhòa, vụn vỡ: có lần, máy bơm nước của xe bị hỏng, khiến họ phải kẹt lại nửa ngày trên con đường vắng vẻ trong rừng, cuối cùng Byron dù chóng mặt hoa mắt vẫn cố gắng sửa được, ngay cả anh cũng không ngờ nó lại có thể hoạt động trở lại; do bình xăng bị rò rỉ, họ phải mạo hiểm đi mua thêm xăng; có một đêm họ ngủ lại trên cánh đồng cỏ khô, cô dâu hơi thần kinh đột nhiên biến mất, mất rất nhiều thời gian mới tìm thấy cô (cô đi lang thang đến một trang trại khác, ngủ quên trong chuồng ngựa); còn có hai cậu bé đầy máu me, một đứa khoảng mười một, một đứa mười bốn tuổi, đều ngủ bên đường, chúng kể một câu chuyện không rõ ràng, bảo là bị rơi khỏi xe tải, rồi ngồi trên những thanh gỗ trên nắp capo kêu cọt kẹt của chiếc Fiat, đi hết ba mươi cây số cuối cùng đến Warsaw. Tất cả những điều này anh đều đã trở nên thờ ơ, nhưng anh không bao giờ quên được lúc đó bụng mình khó chịu thế nào, khiến anh cứ phải chạy vào bụi rậm, vô cùng bối rối; hơn nữa, Natalie dù ngày càng bẩn thỉu, đói khát và mệt mỏi, vẫn kiên định và vui vẻ; đặc biệt, điều khiến anh không bao giờ quên được, là cái lỗ trên túi áo ngực, nơi vốn là chỗ anh để hộ chiếu, bây giờ chỗ đó dường như còn giật mạnh hơn cả vết thương trên tai và trên đầu, vì anh biết, lúc này sĩ quan Ba Lan có thể ra lệnh bắn chết anh, còn những người lính sẽ thực hiện mệnh lệnh đó. Dưới sự chỉ dẫn của Jastrow, anh lái xe tránh các thị trấn, đi đường vòng qua những con đường đá, đường đất hẻo lánh, mặc dù đường đi dài hơn khiến chiếc xe sắp tan rã này càng hỏng hóc nặng nề hơn.
Trong buổi bình minh lạnh giá, họ đến vùng ngoại ô Warsaw, chậm chạp di chuyển giữa hàng trăm chiếc xe ngựa. Trên tất cả các cánh đồng còn gốc rạ, phụ nữ, trẻ em và những ông lão lưng còng râu trắng đều đang đào chiến hào, dùng dây thép gai chất thành chướng ngại vật chống tăng. Những cụm tòa nhà hiện lên trên nền trời đông bắc màu hồng, trông thực sự giống như thành Jerusalem linh thiêng. Người vợ to lớn của tài xế, mùi trên người ngày càng giống một con bò bị nóng, cô cứ chen chúc Natalie cả ngày lẫn đêm, thân thiết vô cùng, cô gái này chưa bao giờ cảm nhận được sự gần gũi như vậy từ người khác; cô ôm Natalie, hôn cô, cưng chiều cô. Chiếc xe kêu ầm ĩ, lạch cạch này đi thêm hơn ba tiếng đồng hồ nữa mới đến đại sứ quán Mỹ. Hai cậu bé nhảy xuống từ nắp capo, chạy vào một con đường nhỏ. "Đi đi, mau vào đi," người bán nấm nói với Natalie bằng tiếng Yiddish, khi bước ra khỏi xe và hôn cô, "Nếu có thể, sau này hãy đến thăm ta."
Khi Byron nói "Tạm biệt", Berel Jastrow gần như không muốn buông tay anh. Ông dùng hai tay nắm chặt lấy tay Byron, chân thành nhìn gương mặt của chàng thanh niên này rồi nói: "Merci. Mille fois merci. Cảm ơn anh một nghìn lần. Mỹ sẽ cứu Ba Lan, phải không Byron? Cứu cả thế giới."
Byron cười lớn. "Đây là một mệnh lệnh quan trọng đấy, nhưng tôi nhất định sẽ chuyển lời, Berel."
"Anh ấy nói gì vậy?" Natalie hỏi Byron, tay vẫn nắm chặt lấy tay Byron. Ngay khi cô vừa dịch xong, Byron cũng phá lên cười. Sau đó, anh ôm chầm lấy Byron như một con gấu, rồi nhanh chóng đặt một nụ hôn nhẹ lên má cậu, khiến Byron vô cùng kinh ngạc.
Một người lính thủy quân lục chiến đứng canh gác cô độc trước cánh cổng đại sứ quán đang đóng chặt. Dọc theo bức tường xám xịt là một hàng bao cát, những thanh gỗ hình chữ X xấu xí che chắn các khung cửa sổ, còn trên mái ngói đỏ vẽ một lá cờ Mỹ rất lớn. Tất cả những thứ này trông thật kỳ quặc, nhưng kỳ quặc hơn cả là việc những hàng người dài chờ đợi đã biến mất. Ngoài người lính thủy quân lục chiến kia ra, chẳng còn ai đứng bên ngoài nữa, đại sứ quán Mỹ không còn là nơi ẩn náu hay lối thoát hiểm nữa rồi.
Người lính gác nghe họ nói, khuôn mặt đỏ bừng, cạo râu sạch sẽ với vẻ hoài nghi lộ rõ nét cười ngay lập tức. "Vâng, thưa cô, ông Leslie vẫn ở đây, hiện tại ông ấy đang phụ trách." Anh ta lấy điện thoại từ trong hộp kim loại đóng trên cửa ra, tò mò quan sát họ. Natalie đưa tay vuốt lại mái tóc rối bời, Byron cũng vuốt mái tóc đỏ dày và cứng của mình, cả hai cùng bật cười. Leslie chạy từ những bậc thềm rộng dưới quốc huy đại sứ quán xuống. "Này! Chúa ơi! Thật vui khi được gặp hai người." Anh ôm lấy Natalie bằng một cánh tay, hôn lên má cô, trong khi mắt vẫn dán chặt vào băng gạc dính đầy máu trên đầu Byron. "Sao thế này? Không sao chứ?"
"Không có gì. Có tin tức gì không? Pháp và Anh đã tham chiến chưa?"
"Tin tức của hai người chậm thế sao? Họ mắng Hitler ba ngày trời, yêu cầu hắn biết điều mà rút quân khỏi Ba Lan, đến chủ nhật thì tuyên chiến. Từ đó đến nay, ngoài việc rải truyền đơn ra, tôi chẳng thấy họ làm được cái trò trống gì cả."
Họ ăn một bữa sáng ngon lành với giăm bông và trứng, đây là bữa cơm nóng đầu tiên họ được ăn sau mấy ngày nay, sau đó họ kể lại những trải nghiệm của mình. Byron cảm thấy cái bụng đang cồn cào của mình rất hợp với bữa ăn đơn giản này, ăn xong liền thấy êm ru. Cậu và Natalie ăn trên chiếc bàn làm việc rộng lớn của ngài đại sứ. Ngay khi vụ ném bom bắt đầu, Washington đã triệu hồi đại sứ và hầu hết nhân viên đại sứ quán rời khỏi Ba Lan. Leslie là người độc thân duy nhất trong số các quan chức cấp ba nên được chọn ở lại canh giữ. Vị nhà ngoại giao này nghe tin Byron vứt bỏ hộ chiếu thì kinh ngạc đến mức tái mặt. "Lạy Chúa, anh bạn, đất nước này đang có chiến tranh đấy! Anh không bị bắt tống giam hay đem đi xử bắn thì đúng là phúc đức lắm rồi. Tuy rằng anh có lý do chính đáng để đi lại khắp nơi ở đây, nhưng nếu nói anh là gián điệp Đức thì nghe còn hợp lý hơn. Người ta cũng khó mà tin hai người là một cặp. Hai người may mắn đến mức khó tin."
"Mà cũng bẩn đến mức khó tin nữa," Natalie nói, "Bây giờ chúng ta phải làm sao?"
"Hai người đến đúng lúc lắm, cưng à. Hiện tại thì không thể rời khỏi Ba Lan được đâu. Người Đức đang giày xéo các vùng nông thôn Ba Lan, ném bom dữ dội. Chúng ta phải tìm cho hai người một chỗ ở tại Warsaw, đợi đến khi... ừm, đợi đến khi tình hình sáng tỏ hơn rồi tính tiếp. Trong lúc đó, hai người cũng phải cùng chúng tôi trốn bom thôi." Leslie lắc đầu với Byron. "Cha cậu đang rất lo lắng cho cậu đấy. Tôi phải gửi điện tín cho ông ấy. Chúng ta vẫn có thể liên lạc qua Stockholm. Ông ấy có thể báo cho Aaron Jastrow biết rằng ít nhất thì Natalie đã được tìm thấy và vẫn còn sống."
"Tôi thèm tắm quá đi mất," Natalie nói.
Leslie gãi đầu, rồi lấy chùm chìa khóa trong túi ra, trượt qua bàn. "Tôi đã chuyển đến đây ở rồi. Cô cứ dùng phòng của tôi đi. Ở tầng một, đó là nơi an toàn nhất, lại còn có một tầng hầm khá sâu nữa. Lúc tôi rời khỏi đó, vẫn còn nước máy, điện đóm cũng vẫn dùng được."
"Còn Byron thì sao?" Byron hỏi: "Tôi có thể đến ký túc xá Hội Thanh niên Cơ đốc giáo."
"Nơi đó bị ném bom rồi," Leslie nói. "Hôm kia chúng tôi buộc phải sơ tán tất cả mọi người ra khỏi đó."
"Nếu anh ấy ở cùng phòng với tôi, anh có phiền không?" Natalie hỏi.
Cả hai người đàn ông đều kinh ngạc và tỏ vẻ rất lúng túng. Byron nói: "Tôi nghĩ mẹ tôi sẽ phản đối chuyện này đấy."
"Ôi dào, vẫn còn mít ướt như trẻ con vậy, Byron. Chỉ dựa vào việc hồi xưa chúng ta hay chạy vào bụi rậm cùng nhau, và những chuyện khác nữa, tôi không biết giữa chúng ta còn có bí mật gì để mà giấu giếm nữa." Cô quay sang Leslie: "Anh ấy thực sự giống như một cậu em trai ruột thịt trung thành của tôi vậy."
"Đừng tin lời cô ấy," Byron cáu kỉnh nói, "Tôi là một con thú dữ dễ nổi nóng đấy. Ở đây có Hội Thanh niên Cơ đốc giáo nào khác không?"
"Này, tôi không bận tâm đâu," Leslie nói, giọng điệu rõ ràng thiếu nhiệt tình. "Trong phòng khách có một chiếc ghế sofa. Cứ để Natalie quyết định đi."
Cô chộp lấy chùm chìa khóa. "Tôi muốn tắm trước, rồi ngủ một giấc vài ngày—mặc kệ bom đạn. Chúng ta làm thế nào để rời khỏi Ba Lan đây, Leslie?" Leslie nhún vai, hắng giọng rồi cười. "Ai mà biết được? Hitler nói nếu người Ba Lan không đầu hàng, hắn sẽ san phẳng Warsaw. Người Ba Lan thì gào thét rằng họ đã đẩy lùi quân Đức và đang tiến về phía Đức. Có lẽ đó chỉ là lời nói dối. Theo đài phát thanh Stockholm, quân phát xít đã chọc thủng mọi mặt trận, chỉ trong vòng một tuần nữa là sẽ bao vây Warsaw. Người Thụy Điển và Thụy Sĩ ở đây đang tìm cách đàm phán để kiều dân các nước trung lập có lối đi an toàn qua chiến tuyến của Đức. Có lẽ tất cả chúng ta đều phải dùng cách này để rời đi. Trước khi việc đó thành công, nơi an toàn nhất chính là ở đây."
"Vậy ra chúng ta đến Warsaw là một quyết định thông minh nhỉ," Natalie nói.
"Cô chính là hiện thân của mọi sự thông minh sáng suốt đấy, Natalie."
Chiếc xe điện uốn lượn chạy qua những con phố hẹp trong khu dân cư, Byron và Natalie thấy rằng sự tàn phá ở đây nghiêm trọng hơn nhiều so với Krakow—những ngôi nhà bị đánh bom hoặc thiêu rụi, những hố bom trên vỉa hè, thỉnh thoảng có một con phố chất đầy gạch vụn bị chặn lại bằng dây thừng—nhưng nhìn chung, Warsaw trông vẫn giống như thời bình, mặc dù cái thời bình này cách đây chưa đầy một tuần, nhưng dường như đã là một thời đại khác rồi. Người Đức đe dọa sẽ tiêu diệt Ba Lan, dù cho họ có thể làm được đi chăng nữa, thì ít nhất hiện tại điều đó vẫn chưa xảy ra. Những hành khách khác không chú ý đến băng gạc trên đầu Byron và bộ râu xồm xoàm của cậu, vài người trong số họ cũng quấn băng gạc, hầu hết đàn ông đều có mái tóc dựng đứng như lông nhím, cả toa xe tràn ngập mùi hôi khó chịu từ cơ thể con người.
Họ vừa xuống xe, Natalie đã nói: "A, không khí trong lành! Chắc chắn trên người chúng ta cũng đầy cái mùi đó, có khi còn kinh khủng hơn. Tôi phải đi tắm ngay, nếu không sẽ phát điên mất. Lúc trên đường thì tôi không bận tâm lắm, nhưng giờ thì dù chỉ đợi thêm một phút thôi tôi cũng không chịu nổi."
Từng tia nắng xuyên qua những tấm rèm cửa đóng chặt, khiến căn hộ của Leslie trở thành một ốc đảo yên tĩnh, mờ ảo. Những cuốn sách đặt trong phòng khách tạo cho căn phòng một mùi của thư viện đầy bụi bặm. Natalie bật công tắc đèn, rõ ràng cô khá quen thuộc với nơi này. "Anh muốn tắm trước không?" cô hỏi. "Một khi tôi đã bước vào cái bồn tắm đó, đừng hòng bắt tôi ra ngoài trong vài tiếng tới. Ở đây chỉ có nước lạnh thôi. Tôi phải đun chút nước nóng đã. Nhưng tôi không biết nữa, có lẽ trước tiên anh nên tìm một bệnh viện để kiểm tra cái đầu của mình đi."
Câu nói này vừa thốt ra, cả hai đều thấy thật buồn cười. Họ cười mãi, cười không dứt. "Được rồi, nhân lúc cả hai chúng ta vẫn còn đầy mùi hôi," Natalie vừa thở hổn hển vừa nói, "lại đây nào," cô ôm lấy anh và hôn một cái. "Đồ ngốc đáng chết, vì bảo vệ mấy người Do Thái khờ khạo mà đến hộ chiếu cũng không cần nữa."
"Đầu tôi không sao đâu," Byron nói. Mặc dù cả hai đều bẩn thỉu và mệt mỏi, nhưng khi môi cô chạm vào môi cậu, nó như tiếng hót của loài chim và những đóa hoa. "Trong lúc cô đun nước, tôi đi rửa mặt mũi trước."
Trong lúc cậu cạo râu, cô xách từng xô nước bốc hơi nghi ngút vào phòng tắm, đổ vào chiếc bồn tắm ố vàng có những vết nứt, miệng ngân nga một bản Polonaise của Chopin. Trước chương trình tin tức buổi trưa, đài luôn phát bản nhạc này. Byron chỉ nghe hiểu được vài địa danh trong đó: những thị trấn và thành phố cách Warsaw chưa đầy nửa chặng đường từ biên giới phía tây và phía nam.
"Lạy Chúa, mặt anh tái nhợt quá, Byron," cô nói, nhìn kỹ khuôn mặt cạo sạch sẽ của cậu; vì dùng nước lạnh nên mặt cậu bị xước từng đường. "Mà còn trẻ quá! Tôi cứ quên mất anh vẫn chỉ là một đứa trẻ."
"Này, đừng có phóng đại quá thế. Tôi đã tốt nghiệp viện nghiên cứu rồi đấy," Byron nói, "Chẳng lẽ đây không phải việc mà người trưởng thành làm sao?"
"Ra ngoài đi. Tôi muốn nhảy vào bồn tắm đây."
Khoảng nửa tiếng sau, tiếng còi báo động không kích vang lên rõ mồn một bên ngoài. Byron đang chợp mắt trên ghế sofa với cuốn tạp chí "Time" cũ, cậu giật mình tỉnh dậy, lấy ống nhòm từ trong túi xách ra. Natalie bước ra từ phòng tắm, khuôn mặt ửng hồng, tóc vẫn còn nhỏ nước, người khoác chiếc áo choàng tắm bằng vải nhung trắng dày của Leslie. "Chúng ta có nên xuống tầng hầm không?"
"Để tôi ra xem trước đã."
Đường phố vắng tanh: không có xe cộ, không có người qua lại. Byron đứng ở cửa, dùng mắt thường quan sát bầu trời; một lúc sau, cậu nhìn thấy máy bay. Những phi đội chui ra từ một đám mây trắng, xuyên qua những làn khói đen loang lổ, chậm rãi di chuyển trên bầu trời. Cậu nghe thấy tiếng ầm ầm trầm đục từ xa vọng lại, giống như tiếng sấm không có tiếng vang. Cậu bước ra vỉa hè, vừa đưa ống nhòm lên mắt thì một tiếng còi vang lên; trên phố, một người đàn ông thấp bé đội mũ sắt trắng, đeo băng tay trắng đang giận dữ vẫy tay với cậu. Cậu lùi lại vào cửa, dùng ống nhòm tìm kiếm máy bay: đó là những chiếc máy bay màu đen, to hơn chiếc máy bay đã bắn bị thương cậu, là một loại hình dáng thô kệch khác, nhưng sơn cùng một loại biểu tượng chữ thập và chữ A, thân máy bay đặc biệt dài, trong khung hình cầu vồng của ống nhòm, trông chúng hơi giống những chiếc xe tải bay nhỏ. Điện bị cắt, Natalie đang chải tóc trước gương ở tiền sảnh dưới ánh nến.
"Chuyện gì vậy? Đang ném bom à?"
"Đang ném bom. Chúng không bay về phía này, tôi đã nhìn thấy máy bay rồi."
"Thôi được, tôi nghĩ tốt nhất đừng quay lại bồn tắm nữa."
Tiếng ầm ầm càng lúc càng lớn. Cả hai ngồi xuống ghế sofa, hút thuốc, nhìn nhau. Natalie run rẩy nói: "Thật giống như một cơn giông mùa hè đang ập tới. Tôi chưa bao giờ tưởng tượng nó lại như thế này."
Tiếng còi từ xa vọng lại ngày càng rõ, đột nhiên một tiếng nổ lớn làm rung chuyển cả ngôi nhà. Không biết chỗ nào đó cửa kính vỡ tan, loảng xoảng cả một mảng lớn. Cô gái hét lên, nhưng vẫn ngồi thẳng tắp ở đó, không nhúc nhích. Gần đó lại có thêm hai tiếng nổ nữa, tiếng này nối tiếp tiếng kia. Trên phố ồn ào tiếng la hét, tiếng kêu cứu và tiếng tường gạch sụp đổ truyền qua rèm cửa vào trong.
"Byron, chúng ta có nên chạy xuống tầng hầm không?"
"Tốt nhất là cứ ngồi yên."
"Được thôi."
Đây là đợt dữ dội nhất. Sau đó lại có tiếng ầm ầm thêm một chặp, có những tiếng ở xa, nhỏ hơn, có những tiếng khá gần, nhưng không còn khiến người ta cảm nhận được từ trong không khí, sàn nhà và cả hàm răng nữa. Chúng dần dần tan biến. Ngoài phố, tiếng chuông đồng vang lên, tiếng bước chân chạy trên đường đá không ngớt, mọi người đang gào thét. Byron kéo rèm, mở một cánh cửa sổ, nheo mắt nhìn dưới ánh nắng chói chang, thấy hai ngôi nhà trên phố đang bị đánh bom bốc cháy. Mọi người vây quanh đống gạch vụn và những ngôi nhà tàn tạ đang cháy, múc từng xô nước đổ vào ngọn lửa đang bùng lên dữ dội. Natalie đứng bên cạnh cậu, cắn môi. "Đồ khốn nạn Đức. Lạy Chúa, Byron, nhìn kìa, nhìn đi!" Mọi người bắt đầu khiêng những người đã tắt thở ra khỏi những làn khói. Một người đàn ông mặc áo khoác cao su màu đen đang ôm một đứa trẻ với hai cánh tay buông thõng. "Chúng ta không thể giúp gì sao? Không thể làm được gì à?"
"Chắc chắn sẽ có đội tình nguyện. Natalie, kiều dân các nước trung lập có thể tham gia chăm sóc, cứu hộ, dọn dẹp. Tôi sẽ đi hỏi thăm."
"Tôi không chịu nổi khi nhìn cảnh này." Cô quay người bỏ đi. Natalie Jastrow chân trần không đi giày cao gót, thấp hơn một hai inch, thân hình quấn trong chiếc áo choàng tắm quá khổ, khuôn mặt không trang điểm ngước lên, đôi mắt đẫm lệ, trông trẻ trung hơn và cũng không còn bướng bỉnh như thường ngày. "Ở gần như vậy, rất có thể chúng ta sẽ bị ném bom chết cả hai đấy."
"Lần tới khi nghe thấy tiếng còi báo động, có lẽ chúng ta nên chui xuống tầng hầm, giờ thì chúng ta biết rồi."
"Tất cả là tại tôi làm hại anh. Vì chuyện này mà lòng tôi cứ bất an mãi. Cha mẹ anh ở Berlin chắc chắn đang lo đến phát ốm vì anh rồi, và..."
"Gia đình chúng tôi đều là người của hải quân, những chuyện này đã quá quen thuộc rồi. Còn về phần tôi, tôi thấy khá thú vị."
"Thú vị?" Cô cau mày trừng mắt nhìn cậu. "Thật chết tiệt! Đừng nói lời trẻ con nữa."
"Natalie, chưa bao giờ tôi cảm thấy phấn khích như lúc này, chuyện là thế đấy. Tôi không tin mình sẽ bị bom đánh chết. Dù có phải mất mạng thì tôi cũng không muốn bỏ lỡ cơ hội này."
"Byron, chỉ trong nửa tiếng vừa qua thôi, có lẽ đã có hàng trăm người chết ở đó rồi! Chẳng lẽ anh không thấy những đứa trẻ họ kéo ra từ đống đổ nát sao?"
"Tôi thấy chứ. Ý tôi là..." Byron ngập ngừng, vì cậu đã nói rằng ý cậu là thấy khá thú vị.
"Nói như vậy thật ngu ngốc, thật vô cảm. Chỉ có người Đức mới nói những lời như thế." Cô kéo chặt chiếc áo choàng tắm. "Thú vị! Leslie thấy thần kinh tôi có chút kỳ quái, anh mới là người thực sự kỳ quái đấy." Cô lắc đầu không hài lòng với cậu, rồi bước thẳng về phía phòng tắm.