Gió Bão Chiến Tranh (1939–1941)

Lượt đọc: 330 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 51

❊ ❊ ❊

Rhoda nhận được một phong thư dày cộp, niêm phong bằng sáp gửi từ Bộ Ngoại giao, cảm thấy vô cùng kinh ngạc. Khi xé phong bì, cô phát hiện bên trong là một phong bì dày khác, trên miệng phong bì in những chữ cái Nga màu xanh nhạt. Trong thư chứa mười một tờ giấy đánh máy, ở giữa có rất nhiều chỗ được sửa chữa bằng bút chì và bút mực. Phía trên còn kẹp một mẩu giấy nhỏ in dòng chữ "Giấy viết thư của Alistair Tudsbury", bên trên là những nét chữ nghiêng đầy mạnh mẽ của Pug viết bằng bút chì đỏ:

Này,

Đừng sợ – anh nghĩ, từ lúc quen em đến giờ anh chưa từng viết lá thư nào dài như thế này, vẫn còn thiếu kinh nghiệm lắm.

Việc tham dự yến tiệc tại điện Kremlin lại là một chuyện khó tin khác, chuyện này để lần sau anh viết, lá thư này phải gửi đi ngay –

Tudsbury gửi lời hỏi thăm em. Anh mượn giấy và máy đánh chữ của ông ấy, tình hình thế nào đã viết hết trong thư rồi.

Ông ấy càng ngày càng béo, còn con gái ông ấy thì trông như một bóng ma –

Yêu em,

Pug

Ngày 3 tháng 10 tại Moscow

(Vẫn ngỡ như đang nằm mơ)

Rhoda thân yêu nhất:

Ba tiếng nữa anh sẽ đến điện Kremlin dự tiệc. Thế nào? Đây không phải là mơ. Trong chuyến đi lần này, mọi việc đều mới lạ và kỳ quặc.

Hiện giờ chúng ta đã có hai đứa cháu rồi (thế nào, bà nội?), vì vậy anh bắt đầu cảm thấy mình nên ghi chép lại một số sự việc đã trải qua khi ấn tượng còn sâu sắc. Anh không biết viết văn, nhưng dù chỉ là những ghi chép mộc mạc có gì viết nấy, một ngày nào đó các con cũng sẽ thấy thú vị. Nếu từ giờ trở đi thỉnh thoảng anh gửi cho em những tập tài liệu như thế này, đừng nghĩ là anh già rồi lẩm cẩm hay càm ràm nhé. Em đọc xong thì cất đi để lại cho bọn trẻ.

Từ lúc rời London, anh chưa có một đêm nào ngon giấc, cứ cảm thấy lơ mơ. Chặng đường đi tàu khu trục Anh tới Arkhangelsk vốn dĩ có thể nghỉ ngơi, nhưng tối nào cũng họp hành, rồi suốt ngày báo động chiến đấu khẩn cấp. Đây là một chuyến hải hành nguy hiểm, gần như suốt hành trình đều nằm trong phạm vi bay của không quân Đức. Hạm đội hộ tống trên tuyến đường này bị tấn công mấy lần, may mà một nửa thời gian chúng ta đi trong sương mù.

Anh cứ đánh máy sai mãi vì máy của Tudsbury bị hỏng. Ở Liên Xô không ai sửa được máy đánh chữ của Anh, cũng có thể là không ai muốn sửa, em không bao giờ biết được đâu. Khi làm việc anh luôn mượn máy của Đại sứ quán, nhưng hôm nay họ phải đánh quá nhiều tài liệu cho bản thảo cuối cùng của hội nghị. Gia đình Tudsbury chiếm chỗ ở đẹp nhất tại khách sạn National, tất nhiên rồi, Talky luôn có cách! Căn hộ của ông ấy nhìn ra Quảng trường Đỏ, từ chỗ anh ngồi, xuyên qua làn mưa bụi mờ mịt, anh có thể nhìn thấy điện Kremlin. Nghe nói Lenin từng ở căn hộ này, còn bây giờ là anh. Trong phòng đầy những rèm cửa màu đỏ nâu, đèn chùm mạ vàng, tượng cẩm thạch, và tấm thảm Ba Tư rộng cả mẫu, thậm chí còn có một cây đàn piano gỗ cẩm lai đặt rất khiêm tốn trong góc (đàn đã bị lạc âm rồi). Còn anh, anh ở một căn phòng khuất nắng trên tầng cao nhất, rộng năm feet, dài mười feet, tường trát vữa vàng chẳng có lấy một món trang trí nào.

Tudsbury hiện đang ở đây, đọc cho Pamela chép bản tin phát thanh tối nay, Talky luôn có cách chỉ ra chiến trường đang ở đâu! Ông ấy lấy cớ mắt kém để trưng dụng Pamela từ Cục Tin tức thời chiến về làm việc cho mình, các bản thảo và bài phát thanh của ông được coi là tuyên truyền hạng nhất. Cô ấy làm việc cho Không quân Hoàng gia Anh, hiện đang trong kỳ nghỉ phép kéo dài, xem ra rất phiền lòng về việc này. Phi công của cô ấy đã làm tù binh Đức một năm rồi, đến nay vẫn chưa có tin tức gì.

Giống như tất cả các phóng viên ở đây, Tudsbury phải tìm cách "có bột mới gột nên hồ". Tối qua ông ấy mất hai tiếng đồng hồ kể chi tiết cho anh nghe công việc này gian khổ thế nào. Người Nga giữ các phóng viên ở Moscow, cách một ngày lại triệu tập họ một lần, đưa cho họ những bản tin được dàn dựng sẵn. Đa số phóng viên đều cho rằng tình hình chiến sự không khả quan, nhưng ngoài những lời đồn thổi ở Moscow và đài phát thanh sóng ngắn của Berlin, họ không có tài liệu nào khác để làm rõ. Xem ra, người Nga ít nhiều thừa nhận những tin tức mà phía Đức công bố, nhưng thời gian luôn chậm hơn hai ba tuần. Những người giữ quan điểm bi quan – ở đây có không ít – cho rằng Moscow có thể thất thủ trong vòng một tuần. Anh và Tudsbury đều không nghĩ vậy. Nhưng trong Đại sứ quán chúng ta có vài người sợ Harriman bị Đức Quốc xã bắt giữ, căng thẳng đến mức phát điên. Ngày mai sau khi máy bay của phái đoàn rời đi, họ mới có thể thở phào nhẹ nhõm.

À, về chuyến đi này – vùng biển gần Nga làm anh nhớ tới Newfoundland. Rhoda, ở phía bắc trái đất, phần lớn vẫn là những khu rừng rậm rạp và vùng nước trắng xóa. Có lẽ loài người ngu ngốc một ngày nào đó sẽ hủy hoại cả vùng ôn đới và nhiệt đới, văn minh nhân loại sẽ bắt đầu lại một cách tồi tệ trên đỉnh địa cầu.

Điều đầu tiên làm anh ngạc nhiên và kinh ngạc là ở Arkhangelsk. Đây là một thị trấn cảng được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ giữa chốn hoang dã. Cầu tàu, nhà kho, xưởng cưa, nhà máy, nhà thờ, cần trục – đều làm bằng gỗ. Những đống gỗ chất cao như núi, hàng tỷ mét ván gỗ, chạm mắt đâu cũng thấy. Trời mới biết đã phải đốn bao nhiêu cây mới dựng lên được thị trấn này và chất đống gỗ nhiều đến thế. Nhưng những cánh rừng gần Arkhangelsk trông vẫn như chưa từng bị khai thác. Arkhangelsk hơi giống Alaska, giống như Klondike trong ảnh vậy.

Người Nga thực thụ đầu tiên anh gặp là hoa tiêu cảng, cô ấy lên tàu ở hạ lưu, điều làm anh ngạc nhiên là "anh ấy" lại là một phụ nữ. Áo khoác da cừu, mặc quần dài, đi ủng, có khuôn mặt khỏe mạnh và xinh đẹp. Anh đứng trên boong nhìn cô ấy dẫn chúng ta vào cảng, cô ấy là một thủy thủ hoặc nữ thủy thủ rất lành nghề. Cô ấy dẫn chúng ta vào cảng rất thuần thục, không hề tỏ ra căng thẳng. Sau đó bắt tay thuyền trưởng rồi rời đi, suốt cả hành trình trên mặt cô ấy không hề có một nụ cười. Người Nga chỉ cười khi họ thấy buồn cười, không bao giờ cười để làm người khác thấy vui vẻ. Điều này khiến họ trông có vẻ âm trầm và khó gần. Anh nghĩ chắc họ thấy chúng ta giống như những con khỉ cứ toe toét cười. Đây là hình ảnh thu nhỏ trong việc chúng ta giao thiệp với người Nga, ngoài rào cản ngôn ngữ, tính cách và tác phong của chúng ta hoàn toàn khác biệt.

Ông Hopkins từng nói chuyện với anh về rừng của Nga, đến tận bây giờ anh vẫn thấy kinh ngạc. Em còn nhớ không, khoảng năm ba lăm, chúng ta từng lái xe về phía tây vào giữa mùa hè, đi suốt ba ngày vẫn chưa ra khỏi cánh đồng ngô? Rừng phương bắc của Nga cũng gần như vậy. Khi máy bay chúng ta đến Moscow, bay thấp sát ngọn cây, những cành cây xanh lướt dưới cánh máy bay, suốt mấy tiếng đồng hồ không thấy điểm cuối, đột nhiên thân máy bay nâng lên, vô vàn những hàng nhà cửa và nhà máy hiện ra trước mắt chúng ta. Moscow là một bình nguyên xám xịt. Nhìn từ xa, cũng chẳng khác Boston và Philadelphia là mấy. Chỉ đến khi lại gần, nhìn thấy những nhà thờ mái vòm, điện Kremlin đỏ sẫm bên bờ sông, bên trong còn có vài nhà thờ, em mới cảm thấy mình đã đến một nơi kỳ lạ. Phi công trước khi hạ cánh, có lẽ vì lễ nghi đặc biệt, đã bay một vòng quanh Moscow cho chúng ta xem toàn cảnh. Họ cất cánh và hạ cánh đều rất thành thạo, chỉ là hơi thô so với tiêu chuẩn của chúng ta. Phi công Nga vừa rời mặt đất là bay vút lên ngay, lúc hạ cánh cũng đâm thẳng xuống.

Nói đến chuyện ăn uống, đến Moscow chúng ta không phân biệt ngày đêm, suốt ngày là cá thịt ê hề. Theo quy định chúng ta phải làm việc suốt đêm, nhưng nếu tối không họp, chúng ta lại ăn ăn uống uống. Bữa ăn chiêu đãi khách tiêu chuẩn ở đây, đại khái có mười hai mười ba loại cá nguội khác nhau, trứng cá tầm, hai món súp, gà, còn có thịt nướng, và liên tục thêm rượu. Mỗi người còn có một chai Vodka riêng. Cách làm việc này đúng là quỷ tha ma bắt, nhưng mặt khác có lẽ đây là sự thông minh của người Nga, rượu vào rồi thì mọi việc không còn quá căng thẳng nữa. Cảm giác say xỉn xem ra đối với người Bolshevik hay tư bản đều như nhau, nên ít nhất chúng ta vẫn có vài điểm chung.

Anh nghĩ hội nghị lần này mang tính thời đại. Dù thế nào đi nữa, Mỹ và Nga trước đây đã bao giờ ngồi lại bàn về vấn đề quân sự chưa? Lần này là mới lạ nhất. Người Nga không bao giờ nói cho em biết tình hình thực tế về sản xuất vũ khí và chiến sự. Hãy nghĩ xem, chỉ ba tháng trước thôi, lập trường của người Đức vẫn giống như chúng ta và người Anh hiện nay, anh không muốn trách họ làm gì. Người Nga trước đây luôn rất đen đủi. Khi em đàm phán với họ không thể quên điểm này, đây là quan điểm mà phiên dịch viên Leslie Slote của chúng ta thường xuyên đưa ra.

Nói cho em biết, người Anh sẽ nhường một số quyền ưu tiên theo "Đạo luật Cho thuê - Cho mượn", thậm chí đồng ý cung cấp cho người Nga một số xe tăng. Những điều này chẳng bao lâu nữa sẽ lên báo. Khi rút quân ở Dunkirk, trang bị của họ mất sạch, nên đây là một quyết định đáng kính và dũng cảm. Tất nhiên hiện tại họ chưa thể dùng xe tăng để đánh người Đức, còn người Nga thì có thể. Dù vậy, Hitler liệu có đạt được thỏa thuận mới với Stalin, rồi đột ngột quay lại dốc toàn lực vượt eo biển tác chiến hay không, về điểm này Churchill không nắm chắc. Anh nghĩ chắc không đến mức đó. Sự căm thù người Đức ngày càng tăng ở đây mang theo cảm xúc thù sâu oán nặng, em chỉ cần nhìn những cảnh tượng khủng khiếp trong các thước phim về những ngôi làng mà người Đức đuổi họ ra, là có thể hiểu tại sao họ lại hận người Đức như vậy. Từng nhóm trẻ em bị thắt cổ, phụ nữ bị cưỡng hiếp đến chết, v.v. Mặc dù Hitler và Stalin xem ra đều có khí chất thất thường, những việc họ làm không có việc nào là có thể đoán trước hay phù hợp với nhân tính, anh cảm thấy người Anh đồng ý cung cấp xe tăng cho người Nga là rất đáng khen ngợi.

Tại hội nghị lần này, một số người Mỹ chúng ta cảm thấy rất lạ, lạ chết đi được. Người Anh bản thân đang trong tình thế nguy cấp mà vẫn sẵn lòng giúp người Nga, còn Quốc hội của chúng ta, chỉ cần chúng ta cho người Nga một chút gì đó là kêu oai oái. Chúng ta ngồi giữa đại diện của hai quốc gia đang chiến đấu sinh tử với người Đức, mà quốc gia chúng ta đại diện, không phải là không nghe thấy tiếng kêu cứu từ Thái Bình Dương đến bờ biển Đại Tây Dương, mà nó cứ nhất quyết không để Tổng thống của mình nhúc nhích một ngón tay để giúp đỡ.

Em còn nhớ Slote không? Anh ta hiện là thư ký hạng hai tại Đại sứ quán ở đây. Nhớ chứ, anh ta từng tìm anh khi ở Berlin, khen ngợi hết lời về biểu hiện của Byron dưới làn đạn ở Ba Lan. Anh ta chính là người mà Natalie đến thăm, anh ta đến nay vẫn cho rằng cô ấy là cô gái tốt nhất trên đời, anh không hiểu tại sao lúc đó có cơ hội anh ta lại không cưới cô ấy. Hiện anh ta đang tán tỉnh con gái của Talky. Ở Moscow không có nhiều cô gái phương Tây (anh suýt nữa nói là cô gái da trắng) độc thân, mà cô ấy là một trong số đó, người theo đuổi cô ấy không chỉ có Slote.

(Nhân tiện nhắc đến, anh đề cập đến cô gái da trắng thật là nực cười. Sau khi đến Moscow hai ngày, anh muốn chỉ ra ở đây có điểm gì đặc biệt khác với chúng ta, từng nói với Slote là có hai điểm khác biệt, một là không thấy quảng cáo, hai là không thấy người da màu. Slote nghe xong cười lớn. Dù vậy, đó là sự thật. Ở Moscow, bầu không khí không câu nệ lễ nghi, bình đẳng đối xử thật giống nước Mỹ, nhưng ở bất kỳ thành phố lớn nào của Mỹ, em cũng sẽ không thấy toàn người da trắng. Và quan trọng nhất là anh thích những người Nga này và thái độ xử lý vấn đề bình tĩnh kiên quyết của họ, giống như người dân London vậy.)

Bây giờ, anh kể cho em một câu chuyện, cũng là để viết cho các cháu của chúng ta, đặc biệt là con trai của Byron sau này có thể đọc. Đây là một câu chuyện rất tàn khốc, anh đến nay vẫn chưa rõ nên nhìn nhận nó như thế nào, nhưng anh phải ghi lại những gì đã xảy ra. Hôm qua, sau khi cuộc họp cuối cùng kết thúc vào buổi chiều, còn một khoảng thời gian nữa mới đến bữa tiệc chính thức tại khách sạn Metropol, anh cùng Tudsbury và Pam đến căn hộ của Slote một lúc. Cuộc tụ họp nhỏ này là ý của Talky. Ông ấy muốn dò hỏi anh một chút về tình hình hội nghị, nhưng anh cũng chẳng có gì để tiết lộ.

Dù sao đi nữa, lúc đó anh đang uống rượu cùng họ – người mệt đến mức này, trong mạch máu không có chút cồn thì không thể vực dậy tinh thần được, đây là tiếp nhiên liệu khẩn cấp – có người gõ cửa, một gã bước vào, đi đôi ủng rách rưới, đội mũ mềm, mặc chiếc áo khoác dày tơi tả, đây là một thương nhân Do Thái từ Warsaw, Berel Jastrow, chú của Natalie! Chính là người chú mà họ gọi là Berel ấy. Em nhớ không, Byron và Natalie chính vì đến miền nam Ba Lan dự đám cưới con trai ông ấy nên mới đụng độ quân Đức xâm lược. Mặt ông ấy cạo rất sạch sẽ, tiếng Đức và tiếng Nga đều nói rất lưu loát, trông không giống người Do Thái, mặc dù Slote nói lúc ở Warsaw ông ấy để râu, trông như một giáo sĩ Do Thái.

Gã này cùng vài người còn sót lại trong gia đình trốn khỏi Warsaw, hệt như những câu chuyện anh hùng huyền thoại mà người ta vẫn nghe. Họ đến Minsk, lại đúng lúc đụng độ quân Đức tấn công chớp nhoáng vào Belarus. Ông ấy chỉ kể vắn tắt với chúng ta về quá trình ông ấy và gia đình trốn thoát qua những cánh rừng ở Minsk, rõ ràng đây là một người giỏi tùy cơ ứng biến, thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.

Phần dưới đây là phần khó tin. Jastrow nói, một đêm khuya khoảng một tháng sau khi Minsk thất thủ, quân Đức lái một đoàn xe tải lớn đến khu cư trú mà họ lập ra cho người Do Thái ở đó. Họ bắt sạch những người ở hai con phố đông dân nhất, tống lên xe tải, đàn ông, phụ nữ, trẻ em, trẻ sơ sinh và những cụ già không đi nổi, không chừa một ai, ít nhất vài nghìn người. Những người này bị đưa đến một hẻm núi trong rừng cách thành phố vài dặm, tất cả đều bị bắn chết, sau đó chôn dưới một cái hố mới đào. Jastrow nói, sớm hơn một chút quân Đức từng bắt một nhóm người Nga đến đào hố, sau đó đưa họ bằng xe tải đi khu vực khác. Trong đó có vài người đi xuyên qua rừng rồi lén quay lại xem chuyện gì xảy ra, sự việc chính là bị tiết lộ như vậy. Trong đó có một người mang theo máy ảnh còn chụp được ảnh. Jastrow lấy ra ba bức ảnh. Dù gọi nó là gì đi nữa, việc này xảy ra trước bình minh. Một bức ảnh có thể thấy ánh lửa từ súng, bức thứ hai thấy một nhóm người từ xa. Bức thứ ba rõ nhất, là những người đội mũ sắt Đức đang lấp đất. Jastrow còn đưa cho Slote hai bản tài liệu viết bằng tiếng Nga, một bản viết tay, một bản đánh máy, mô tả lại những gì đã chứng kiến.

Jastrow nói, ông quyết tâm đến Moscow để đưa tài liệu về vụ thảm sát ở Minsk cho một số nhà ngoại giao Mỹ. Anh không biết ông lấy địa chỉ của Slote ở đâu ra. Ông ấy là một người rất biết cách xoay xở, chỉ là hơi ngây thơ. Ông ấy từng tin, rõ ràng bây giờ vẫn tin, rằng nếu Tổng thống Roosevelt biết được tình hình này và nói cho nhân dân Mỹ biết, nước Mỹ sẽ lập tức tuyên chiến với Đức.

Jastrow đưa những tài liệu này cho Slote và nói, tôi đã mạo hiểm tính mạng để mang những thứ này đến Moscow, bao nhiêu phụ nữ và trẻ em bị thảm sát, xin hãy bảo quản kỹ những bức ảnh và tài liệu này. Anh nói chuyện với ông ấy vài câu về bọn trẻ, khi anh nói với ông ấy Byron và Natalie đã có một bé trai, ông ấy đã xúc động trào nước mắt.

Sau khi ông ấy đi, Slote đưa tài liệu cho Tudsbury. Anh ta nói: "Đây là tài liệu để ông làm phát thanh, tất cả các tờ báo của Mỹ đều sẽ đăng trên trang nhất." Điều làm anh kinh ngạc là Tudsbury nói ông ấy không hề muốn dùng tài liệu này. Sau khi bị thương ở cuộc chiến trước, ông ấy từng làm việc cho cơ quan tuyên truyền của Anh, giúp họ dàn dựng những câu chuyện về sự tàn bạo của kẻ thù, dùng bằng chứng giả để vu khống người khác. Ông ấy nói, người Anh từng hư cấu câu chuyện về việc người Đức dùng xác lính để làm xà phòng. Có lẽ vụ thảm sát ở Minsk là có thật, nhưng trong mắt ông ấy, Jastrow giống như một kẻ lừa đảo do cơ quan tình báo Nga phái đến. Thiên hạ làm gì có chuyện trùng hợp đến thế, một người họ hàng xa của mình – trước hết, mối quan hệ này đã đủ kỳ lạ rồi – lại đột nhiên tự động xuất hiện ở Moscow với đống tài liệu và câu chuyện dàn dựng này.

Tiếp đó diễn ra một cuộc tranh luận sôi nổi, cuối cùng Tudsbury vẫn nói, dù ông ấy tin câu chuyện là thật, ông ấy cũng không định dùng những tài liệu này. Ông ấy nói, những thứ này có thể gây ra hậu quả ngược, khiến nước Mỹ đứng ngoài cuộc chiến, hệt như chính sách của Hitler đối với người Do Thái bao năm nay đều có tác dụng làm tê liệt nước Anh vậy. "Chẳng ai chịu vì cứu người Do Thái mà đánh một cuộc chiến cả." Ông ấy đập bàn khẳng định. Hitler đến nay vẫn làm cho nhiều người tin rằng, bất kỳ ai chiến đấu với Đức, thực chất chỉ là đổ máu vì người Do Thái mà thôi. Talky nói đây là một trong những mưu kế vĩ đại của tuyên truyền chiến tranh trong lịch sử. Câu chuyện về người Do Thái ở Minsk cũng có thể bị người Đức lợi dụng.

Được rồi, anh đã ghi lại hết tình hình thực tế của việc này. Anh không cố ý lảm nhảm, nhưng việc này cứ ám ảnh anh mãi. Chỉ cần câu chuyện của Jastrow có một chút sự thật, thì người Đức đúng là đã tiến hành thảm sát điên cuồng ở đó, chưa nói đến việc khác, Natalie và con của cô ấy có nguy hiểm rất lớn, trừ khi họ đã rời khỏi Ý. Những gì Hitler làm, Mussolini đều bắt chước. Nhưng anh đoán họ đã rời đi rồi, Slote nói với anh, trước khi cô ấy sinh con mọi thứ đều đã được sắp xếp ổn thỏa.

Rhoda, cứ nghĩ đến câu chuyện của Jastrow là đầu óc anh lại đờ đẫn, anh cảm thấy, dường như thế giới mà anh lớn lên đang biến mất. Cho dù đây là câu chuyện phóng đại, nhưng nghe được những điều như vậy, khiến người ta nghĩ đến việc chúng ta đã bước vào một thời kỳ đen tối mới. Anh thực sự không chịu nổi, và tệ nhất là anh không thể khiến mình không tin lời Jastrow. Người này có một phong thái nhạy bén và cao quý, anh không phản đối việc làm họ hàng với những người như vậy, chỉ là cứ nghĩ đến việc ông ấy là họ hàng của mình lại thấy kỳ lạ. Bây giờ là sáu giờ kém năm phút. Anh phải viết xong thư để chuẩn bị đi dự tiệc đây.

Cuộc chiến này thật sự làm gia đình chúng ta khổ sở, phải không? Những ngày ở Manila, ba đứa trẻ vẫn còn đi học, trước nhà có sân tennis, anh dạy chúng chơi bóng, tất cả những điều này dường như là giấc mơ đã biến mất từ lâu. Đó là những ngày tươi đẹp nhất của chúng ta. Bây giờ anh đang ở Moscow. Anh hy vọng em vẫn kiên trì tập đánh đôi mỗi tuần với Fred Kirby và vợ chồng Vance. Em vận động cơ thể một chút sẽ cảm thấy khá hơn. Gửi lời hỏi thăm của anh tới Brink và Anna, cũng hỏi thăm Fred, nói rằng anh hy vọng Bộ Ngoại giao không làm anh ấy nản lòng.

Anh tuy rất bận, nhưng vẫn rất nhớ em. Tuy nhiên, em yêu, dù là trong thời chiến hay thời bình, em chắc chắn sẽ không quan tâm đến Liên Xô đâu. Pamela Tudsbury nói ở Moscow không có tiệm cắt tóc nào mà cô ấy muốn đến. Váy áo của cô ấy đều là tự giặt bằng xăng.

Em biết đấy, anh từng gặp Hitler, Churchill, Roosevelt, tối nay anh có khả năng sẽ bắt tay Stalin. Đối với một nhân vật nhỏ bé như anh, đây quả là một chuyện phi thường! Trải nghiệm cả đời anh đã có một bước ngoặt kỳ lạ mang tính quyết định. Vì nghĩ đến các cháu của anh (em đã biết rồi đấy), anh thà ghi chép trong trải nghiệm của mình rằng hai năm qua anh đều phục vụ trên biển. Nhưng điều này không thể thay đổi được, mặt khác anh nghĩ, không ở trên biển, cũng có thể học được một số điều. Chỉ ở điểm này, anh đã rất thỏa mãn rồi, nhưng thực sự, anh thà không đi điện Kremlin dự tiệc, mà đi ngửi lại mùi khói ống khói của tàu hải quân còn hơn. Chuyện khác lần sau lại nói, vô cùng yêu em –

Pug

Ngày 2 tháng 10 năm 1941

Tại khách sạn National, Moscow

Victor Henry đi cùng phái đoàn Harriman-Beaverbrook đến Moscow khi người Đức đang tiến hành cuộc tấn công mùa thu nghiền nát về phía Moscow. Tập đoàn quân thiết giáp đã đánh đến cách thành phố không đầy một trăm dặm, nhưng người Nga vẫn chiêu đãi khách bằng những bữa tiệc rượu, đưa họ ngồi xe sedan đen dạo phố, xem múa ballet, tổ chức các cuộc họp ủy ban kéo dài, hoàn toàn không thấy có gì bất thường, mặc dù khi tổ chức tiệc chia tay, so với một tuần trước khi khách mới đến Moscow, hành động của họ có vẻ nhanh hơn một chút.

Người Mỹ và người Anh đều biết, hơn một tháng trước, đà tiến quân trung lộ của người Đức đã bị buộc phải dừng lại ở phía đông Smolensk, và buộc phải cố thủ phòng ngự ở đó cho đến tận bây giờ. Tại Moscow, về việc đại quân Quốc xã dừng tiến quân ở trung lộ, vẫn được ca ngợi là một chiến công hiển hách của quân đội Liên Xô, một "phép màu Marne" mới. Họ tuyên bố, giống như người Pháp năm 1914 đã chặn đứng bước tiến của người Đức dã man cách Paris 30 dặm, nhờ đó khiến chúng mất đi cơ hội thắng nhanh, Hồng quân cũng đã chặn đứng bước tiến của lũ cường đạo Hitler, vốn định chiếm Moscow trước khi mùa đông tới. Người Nga thậm chí đưa phóng viên nước ngoài đến tiền tuyến trung lộ, cho họ tham quan những ngôi làng được thu hồi, xe tăng Quốc xã bị bắn cháy cũng như lính Đức bị bắn chết hoặc bị bắt. Hiện giờ người Đức tuyên bố bước tiến tới Moscow lại được đẩy mạnh, người Nga phủ nhận tin tức này. Sự ngụy trang đánh lạc hướng dư luận trong thời chiến đã che đậy hiệu quả sự thật của sự việc.

Trái ngược với những lời đồn đại rộng rãi vào thời điểm đó, vẫn luôn tồn tại một quan điểm khác cho rằng quân đội Đức tiến vào nước Nga không phải toàn bộ đều được trang bị xe tăng và xe bọc thép, cũng không phải là một đạo quân phun lửa, sát khí đằng đằng, khua chiêng gõ mõ dẫm nát đất nước đối phương. Hitler có một quân đoàn pháo kéo bằng ngựa, số lượng còn nhiều hơn cả Napoleon, nhưng cũng giống như "Đại quân" của Napoleon, quân Đức xâm lược Liên Xô đã dựa vào sức kéo của súc vật và việc đi bộ để tiến vào nước Nga. Hắn cũng có một vài sư đoàn thiết giáp, nhưng lại được bố trí ở hai bên sườn của ba lộ quân xâm lược Liên Xô. Chiến tranh chớp nhoáng được tiến hành như sau: các sư đoàn xe tăng và sư đoàn thiết giáp tiến lên phía trước ở hai bên sườn của lực lượng tấn công, cắt đứt phòng tuyến quân địch, dùng sự kinh hoàng và uy lực của những cuộc tấn công bất ngờ để nghiền nát kẻ thù. Các trung đoàn bộ binh nhanh chóng tiến vào con đường do lực lượng thiết giáp mở ra, tiêu diệt hoặc bắt giữ quân địch đã bị lực lượng xe tăng cắt đứt hoặc bao vây.

Những quân đoàn thiết giáp này đã đạt được thành công rất lớn, không nghi ngờ gì nữa, Hitler rất muốn sử dụng nhiều lực lượng thiết giáp hơn. Tuy nhiên, đúng như những gì các tướng lĩnh của hắn thì thầm, hắn đã phát động cuộc chiến tranh này sớm một chút, hắn mới chỉ nắm quyền được sáu năm. Hắn căn bản vẫn chưa vũ trang hoàn toàn cho nước Đức, mặc dù hắn gào thét một cách đáng sợ như thể đã hoàn thành công việc này, và cả châu Âu cũng tin là thật. Do đó, so với chiến tuyến dài dằng dặc, lực lượng thiết giáp của hắn là rất nhỏ.

Tháng Tám, ba tuyến tấn công kéo dài đã đột kích sâu vào bên trong lãnh thổ Liên Xô, Hitler lại điều lực lượng thiết giáp hữu hạn của lộ quân trung tâm sang hai tuyến Bắc và Nam để hỗ trợ hai bên sườn chiếm lấy Kiev và vây hãm Leningrad. Sau khi nhiệm vụ này hoàn thành, lực lượng thiết giáp sẽ quay trở lại vị trí cũ và cùng với Tập đoàn quân Trung tâm phát động cuộc tấn công vào thủ đô. Đây là vấn đề mà các nhà quân sự đến nay vẫn còn tranh luận, nhưng dù sao đi nữa, sau khi lực lượng thiết giáp của lộ quân trung tâm rút đi, bộ binh và pháo binh kéo bằng ngựa của lộ quân trung tâm buộc phải dừng lại đào hào phòng thủ, chờ đợi lực lượng thiết giáp đóng vai trò như lưỡi dao thép quay trở lại. Đây chính là "phép màu Marne" mới. Người Nga ban đầu cảm thấy kinh ngạc trước việc một đạo quân khổng lồ đang tiến về phía thủ đô thì đột ngột dừng lại. Sau đó là vô cùng phấn chấn, lúc này dù họ đã bị đánh tan tác nhưng vẫn tiến hành phản kích và giành được một vài thắng lợi nhỏ. "Phép màu" kết thúc vào cuối tháng Chín, khi đó lực lượng thiết giáp Đức đã quay trở lại vị trí cũ, có lẽ sau khi đã được bảo dưỡng và tiếp nhiên liệu, lại chia thành hai đường vòng cung tiếp tục tiến về Moscow. Đúng vào lúc này, Harriman và Beaverbrook đã đến Moscow. Đi cùng xe với họ còn có Đại tá Hải quân Henry, người vốn không mấy tên tuổi.

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:2
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »