Cuộc gặp gỡ giữa Byron Henry và Natalie Jastrow hai tháng trước đã nói lên rất nhiều điều về tính cách của Byron. Anh như bị một cơn cuồng phong thổi đến bên cạnh Natalie.
Byron rất khác với cha mình, anh làm việc gì cũng luôn không có mục đích rõ ràng. Theo thời gian lớn lên, anh dần tránh xa Hội Nam Hướng đạo trên biển, Học viện Hải quân Severn và mọi thứ có thể dẫn anh đến với sự nghiệp hải quân. Tuy nhiên, anh cũng chẳng hề có ý định theo đuổi ngành nghề nào khác. Thành tích học tập của anh nhìn chung rất tệ. Anh sớm học được một kỹ năng điêu luyện là sống buông thả. Đôi khi nổi hứng lên, anh cũng thể hiện cho thấy mình có khả năng đạt được vài điểm "A", hoặc lắp ráp được một chiếc radio có hiệu suất tốt, hoặc tìm một chiếc xe hơi từ bãi phế liệu để nó chạy lại được, hay sửa chữa lại một chiếc máy sưởi chạy xăng bị hỏng. Cái tài sửa chữa máy móc này là truyền thống gia đình từ cha và ông nội anh. Nhưng chẳng bao lâu sau, anh lại cảm thấy chán ghét những công việc sửa chữa đó. Mà toán học của anh lại kém, không cách nào cân nhắc việc học kỹ thuật cơ khí.
Anh cũng có khả năng trở thành vận động viên. Cơ thể anh rắn chắc, khỏe mạnh hơn nhiều so với vẻ bề ngoài, nhưng anh không thích những quy định khắt khe về ăn uống và hoạt động tập thể của các vận động viên trong trường. Bản thân anh dù đã uống không biết bao nhiêu gallon bia, vòng eo lại chẳng hề tăng lên chút nào. Tại Đại học Columbia (nơi anh có thể vào học chỉ vì anh chiếm được cảm tình của người phỏng vấn, điểm thi trí tuệ của anh rất cao, và anh không phải là người New York), anh chỉ làm được mỗi việc là không bị đuổi học vì thành tích quá kém. Anh thích đến câu lạc bộ sinh viên mà mình tham gia để giải sầu, hoặc chơi bài đánh bạc, hoặc đọc đi đọc lại mấy cuốn tiểu thuyết cũ, hay là bàn tán về các cô gái rồi tán tỉnh họ. Anh thích đấu kiếm, cảm thấy môn thể thao này khá phù hợp với tinh thần độc lập và thể chất khỏe mạnh của mình. Nếu được huấn luyện nhiều hơn, chắc chắn anh có thể trở thành người lọt vào vòng chung kết cuộc thi đấu kiếm sinh viên toàn quốc. Nhưng việc tập luyện làm anh chán ngấy, không hợp với tính cách lười biếng của anh.
Năm thứ ba, anh chọn học môn mỹ thuật, các vận động viên thường chọn môn này vì nghe nói chưa từng có ai bị trượt. Thế nhưng Byron Henry lại trượt trong kỳ thi giữa kỳ. Anh chưa bao giờ làm bài tập, lại còn vắng đến một nửa số tiết học. Mặc dù vậy, kết quả thi kém cỏi vẫn khiến anh bị sốc. Anh đã đến gặp vị giáo sư đó và nói cho ông biết suy nghĩ của mình. Vị giáo sư đeo một cặp kính xanh, đầu hơi hói, lông mọc trên tai, vốn là một người say mê thời kỳ Phục hưng của Ý. Ông lại khá thích Byron. Khi trò chuyện, Byron thỉnh thoảng đề cập đến một vài quan điểm về Leonardo và Botticelli, cho thấy mấy tiết học đó anh không hề uổng phí, khác hẳn với những sinh viên cao lớn hay ngủ gật trong lớp. Hai người họ trở thành bạn bè. Đây là lần đầu tiên trong đời Byron Henry kết bạn với một người thuộc giới trí thức. Anh trở thành tín đồ cuồng nhiệt của thời kỳ Phục hưng, như một nô lệ thuật lại những kiến nghị của giáo sư, khi tốt nghiệp đại học thành tích thi cử rất ưu tú, còn bỏ được thói quen uống bia, một lòng muốn dạy mỹ thuật trong tương lai. Anh lên kế hoạch làm nghiên cứu sinh một năm tại Đại học Florence để lấy bằng thạc sĩ nghệ thuật.
Nhưng chỉ sau vài tháng ở Florence, nhiệt huyết của Byron đã nguội lạnh. Một đêm mưa tháng Mười một, anh đột nhiên chán ghét mọi thứ xung quanh: căn phòng anh thuê nhìn xuống dòng sông Arno đục ngầu, bẩn thỉu không chịu nổi; mùi tỏi và mùi cống rãnh làm anh buồn nôn; việc sống một mình giữa những người ngoại quốc khiến anh phiền muộn. Anh viết một lá thư cho bạn mình, nói rằng hội họa Ý quá lòe loẹt, quá ủy mị, hơn nữa toàn vẽ những thứ như Đức Mẹ, Thánh Anh, các vị thánh, hào quang, Chúa Jesus bị đóng đinh trên thập tự giá, Chúa Jesus phục sinh, vị cứu tinh màu xanh lá đã chết, Jehovah có râu biết bay, v.v.; nói rằng anh thà chọn những họa sĩ hiện đại như Miro và Klee; lại nói rằng hội họa chẳng qua chỉ là trang trí nội thất, anh thực ra không hề hứng thú với nghề này. Anh viết nguệch ngoạc mấy trang giấy, bày tỏ tâm trạng rơi vào đường cùng của mình, sau đó gửi thư đi, còn bản thân thì lên đường đi lang thang khắp châu Âu, bỏ lại học nghiệp và tấm bằng tốt nghiệp ra sau đầu. Sau khi trở về Florence, anh nhận được một lá thư khích lệ từ giáo sư.
"...Ta không biết tương lai con sẽ trở thành người như thế nào. Rõ ràng nghệ thuật không phải là niềm đam mê thực sự của con. Ta cho rằng, để con tập trung toàn bộ tinh thần học một môn là có lợi cho con. Chỉ cần con có thể rũ bỏ tâm trạng tê liệt đó, theo đuổi một sự nghiệp thực sự khiến con hứng thú, con vẫn sẽ có tiền đồ rộng mở. Ta là một cảnh sát giao thông già, đứng ở góc phố này điều tiết giao thông, nhìn thấy rất nhiều xe Chevrolet và Ford chạy qua. Thỉnh thoảng cũng có một chiếc Cadillac chạy qua, ta nhìn thấy thì tuyệt đối không bao giờ nhận nhầm. Chỉ là bây giờ chiếc Cadillac này đang gặp sự cố nghiêm trọng ở máy móc.
Ta đã viết thư cho Tiến sĩ Aaron Jastrow, người đang sống ở ngoại ô Siena, nói về tình hình của con. Chắc chắn con cũng đã nghe nói về ông ấy. Ông ấy viết cuốn "Chúa Jesus của một người Do Thái", kiếm được không ít tiền, cuối cùng đã thoát khỏi sự nghiệp học thuật bi thảm. Chúng ta từng là bạn ở Đại học Yale, ông ấy thực sự rất tận tâm dẫn dắt người trẻ. Hãy đến tìm ông ấy trò chuyện và gửi lời hỏi thăm của ta đến ông ấy."
Đó là lý do Byron đến thăm Tiến sĩ Jastrow. Anh đi xe buýt đến Siena, quãng đường mất ba tiếng đồng hồ, chạy dọc theo một con đường núi hiểm trở có nhiều vết xe. Thị trấn kỳ lạ này anh đã từng đến hai lần, trong thị trấn toàn là những tòa tháp và tường thành màu đỏ cùng những con phố nhỏ quanh co, trung tâm là một nhà thờ lớn lộng lẫy với những đường vân như ngựa vằn, tọa lạc trên đỉnh núi nhỏ, xung quanh là những vườn nho vùng Tuscany xanh và nâu. Điều khiến nơi này nổi tiếng, ngoài loại nghệ thuật nhà thờ mô phỏng Byzantine mà anh đặc biệt đến nghiên cứu, còn có cuộc đua ngựa hàng năm, cuộc đua ngựa này nghe nói có đặc điểm riêng, nhưng Byron chỉ nghe người ta kể lại, chưa từng tận mắt chứng kiến.
Thoạt nhìn, cô gái ngồi trên ghế lái chiếc xe mui trần cũ màu xanh không mấy thu hút: khuôn mặt trái xoan, da hơi ngăm đen (nên ban đầu anh tưởng cô là người Ý), mái tóc sẫm màu, đeo một cặp kính râm rất lớn, bên ngoài chiếc áo sơ mi trắng cổ rộng khoác một chiếc áo thể thao màu đỏ sẫm. Ngồi cạnh cô là một người đàn ông tóc vàng, mặc một bộ vest đen sọc trắng. Anh ta đang đưa bàn tay dài và trắng lên miệng, che một cái ngáp.
"Này! Có phải Byron Henry không?"
"Đúng vậy."
"Ngồi ra phía sau đi. Tôi là Natalie Jastrow. Đây là Leslie Slote. Anh ấy làm việc tại đại sứ quán của chúng tôi ở Paris, lần này đến thăm chú của tôi."
Byron cũng không thu hút sự chú ý của cô gái này là bao. Những gì Natalie Jastrow nhìn thấy qua cặp kính râm là một người đàn ông cao gầy, lêu lổng, nhìn là biết ngay người Mỹ, trong mái tóc nâu dày điểm xuyết vài sợi đỏ. Anh đang dựa lưng vào tường khách sạn Continental để sưởi nắng, hút thuốc lá, hai chân lười biếng bắt chéo vào nhau. Chiếc áo khoác màu xám nhạt, quần thể thao đen và một chiếc cà vạt màu hạt dẻ, trông hơi có vẻ giống một gã lưu manh. Vầng trán dưới mái tóc rất rộng, cái cằm nhọn dài rất gầy, khuôn mặt rất tái nhợt. Dáng vẻ của anh hoàn toàn giống một sinh viên đại học chỉ biết chạy bằng, nhưng ngoại hình khá đẹp trai. Những người như thế này, Natalie thời thiếu nữ đã xua đuổi không dưới chục người.
Chiếc xe quanh co xuyên qua những hẻm núi hẹp với hai bên là những ngôi nhà cũ màu đỏ sẫm xiêu vẹo, chạy về phía ngoại ô. Byron hỏi Slote làm công việc gì ở đại sứ quán. Vị ngoại giao này trả lời rằng anh ta làm trong bộ phận chính trị, hiện đang học tiếng Nga và tiếng Ba Lan, hy vọng tương lai có thể được điều đến Moscow hoặc Warsaw. Slote ngồi trong xe trông rất cao; sau đó Byron phát hiện ra mình còn cao hơn Slote; vị nhà ngoại giao này thân hình dài, nhưng hai chân lại không dài lắm. Mái tóc vàng dày của Slote mọc rất cao, lộ ra vầng trán cao và khuôn mặt màu nâu đỏ gầy gò. Đôi mắt màu xanh nhạt sau cặp kính không gọng rất sắc sảo, sáng ngời; đôi môi mỏng của anh ta luôn mím chặt, như thể đang hạ quyết tâm. Suốt dọc đường, anh ta cứ cầm trong tay hoặc ngậm trong miệng một chiếc tẩu thuốc đen lớn, nhưng không hề hút. Byron đột nhiên cảm thấy, công việc ngoại giao có lẽ rất thú vị, cho bạn cơ hội đi du lịch, mạo hiểm, gặp gỡ những nhân vật quan trọng. Nhưng khi Slote nhắc đến việc mình là sinh viên nhận học bổng Rhodes, Byron liền quyết định không bàn về chủ đề này nữa.
Jastrow sống trong một biệt thự bằng vữa màu vàng, biệt thự nằm trên một sườn núi dốc, có thể nhìn thấy rõ nhà thờ lớn và những tòa tháp cùng mái ngói màu đỏ của Siena. Từ thị trấn đi xe đến đây mất khoảng hai mươi phút. Byron vội vàng đi theo cô gái và Slote, xuyên qua một khu vườn được xây những bồn hoa, trong vườn đầy những bức tượng nhựa dính đầy vết bẩn màu đen.
"À, các cháu đến rồi!" Giọng nói rất cao, rất ra dáng, rất thiếu kiên nhẫn, khi phát âm chữ "r" hơi có chút giọng nước ngoài.
Họ bước vào một phòng khách dài có xà ngang, thứ đầu tiên Byron nhìn thấy là hai món đồ: một bức tranh chân dung rất lớn, chiếm phần lớn một bức tường, nền tranh là một mảng vàng, trên tranh Thánh Francis mặc áo choàng đỏ, dang rộng hai tay; ở phía xa trong phòng, trên một chiếc giường nằm bằng lụa đỏ, ngồi một ông lão nhỏ nhắn có râu, mặc một bộ đồ màu xám nhạt, nhìn thấy họ bước vào, liền nhìn đồng hồ, đứng dậy, vừa ho vừa tiến về phía họ.
"Đây là Byron Henry, Aaron," cô gái nói.
Jastrow đưa hai bàn tay nhỏ và khô khốc như móng vuốt nắm lấy tay Byron, nhìn anh bằng ánh mắt sắc bén, hơi do dự. Đầu Jastrow rất to, vai rất hẹp; làn da có đốm của người già, mái tóc thẳng màu nhạt, một chiếc mũi to hơi đỏ vì cảm lạnh. Bộ râu được cắt tỉa rất gọn gàng đã hoàn toàn bạc trắng. "Tốt nghiệp Đại học Columbia năm 38, phải không?"
"Vâng, thưa ông."
"Ừm, mời vào." Ông đi vào trong phòng trước, vừa đi vừa cài cúc chiếc áo khoác hai hàng khuy. "Lại đây, Byron." Ông cầm một chiếc bình pha lê nặng, rút nắp thủy tinh ra, cẩn thận rót rượu màu hổ phách vào bốn chiếc ly thủy tinh. "Uống đi, Leslie, Natalie. Chúng ta thường không uống rượu vào ban ngày, Byron, nhưng hôm nay là một ngày tốt lành." Ông nâng ly rượu lên. "Vì ông Byron Henry, chúc mừng anh đã căm ghét những thành tựu xuất sắc của thời kỳ Phục hưng Ý."
Byron cười lớn. "Tiến sĩ Milano viết như vậy trong thư sao? Tôi phải cạn ly này."
Jastrow nhấp một ngụm, đặt ly xuống, nhìn đồng hồ. Byron thấy vị giáo sư này nóng lòng muốn ăn trưa, nên uống cạn ly rượu Sherry trong tay như uống rượu whiskey lúa mạch đen vậy. Jastrow cười vui vẻ reo lên: "À! Một, hai, ba. Giỏi lắm. Lại đây, Natalie. Leslie, mang ly rượu của cháu đến bàn ăn đi."
Bữa ăn là món nhẹ: chỉ toàn rau củ và cơm trắng, sau đó là phô mai và trái cây. Bộ đồ ăn là đồ sứ cổ tinh xảo, màu hạt dẻ và màu vàng. Một người phụ nữ Ý thấp bé tóc bạc trắng bưng đồ ăn. Những ô cửa sổ cao trong phòng ăn mở ra phía vườn, có thể nhìn thấy cảnh quan Siena. Từ ngoài cửa sổ tràn vào ánh nắng nhợt nhạt, còn thổi đến từng đợt gió mát, thổi thẳng vào bàn ăn.
Mọi người vừa ngồi xuống, cô gái liền hỏi: "Tại sao anh lại phản đối thời kỳ Phục hưng Ý, Byron?"
"Nói ra thì rất dài dòng."
"Kể cho chúng tôi nghe đi," Jastrow nói bằng giọng như đang giảng bài trong lớp, còn đặt một ngón tay cái lên miệng đang mỉm cười.
Byron do dự một chút. Jastrow và vị nhà ngoại giao nhận học bổng Rhodes khiến anh cảm thấy không thoải mái. Cô gái kia lại càng làm anh phiền lòng hơn. Sau khi tháo kính râm, đôi mắt lộ ra to và đen, hơi nghiêng lên trên, tỏa ra ánh sáng dũng cảm và trí tuệ. Khuôn mặt cô rất gầy, miệng rộng và dịu dàng, son môi màu cam tô hơi đậm một chút. Natalie nhìn anh với vẻ mỉa mai, như thể đã kết luận anh là một kẻ ngốc; mà Byron cũng không đến nỗi ngốc đến mức không nhìn ra điều đó.
"Có lẽ tôi đã nghiên cứu quá đà," anh nói, "Khi bắt đầu nghiên cứu tôi rất say mê, đến cuối cùng lại như bị dội một gáo nước lạnh, chán nản thất vọng. Tôi thấy không ít nghệ thuật thời Phục hưng Ý đúng là rực rỡ huy hoàng, nhưng giữa những tác phẩm thiên tài, cũng lẫn lộn rất nhiều thứ rác rưởi hữu danh vô thực. Tôi phản đối nhất việc trộn lẫn ngoại giáo và Cơ đốc giáo vào nhau. Tôi không tin David trông giống Apollo, hay Moses trông giống Jupiter, hoặc Đức Mẹ Maria trông giống tình nhân của các nghệ sĩ thời Phục hưng, trên đùi đặt một đứa trẻ mượn được. Có lẽ họ buộc phải vẽ người Do Thái trong Kinh Thánh thành người Ý địa phương hoặc người Hy Lạp giả, nhưng mà..." Byron dừng lại một chút, nhìn vẻ mặt mọi người như thể đều rất hứng thú. "Nhìn xem, tôi không cho rằng ý kiến vừa rồi của mình là một sự phê bình quan trọng gì. Tôi đoán nó chỉ vừa hay giải thích rằng chính tôi đã đi sai đường. Thế nhưng tất cả những thứ này thì có liên quan gì đến tinh thần Cơ đốc giáo chứ? Chính điểm này khiến tôi bực mình. Giả sử Chúa Jesus quay lại nhân gian, đi tham quan Uffizi hay Nhà thờ Thánh Peter, ngài sẽ cảm thấy thế nào? Chính là vị Chúa Jesus mà Tiến sĩ Jastrow mô tả trong sách của ông, vị lý tưởng hóa đến từ vùng núi, nhà truyền giáo Do Thái đáng thương ấy? Chúa trong tâm trí tôi chính là dáng vẻ như thế. Cha tôi là một người sùng đạo; ở nhà mỗi buổi sáng chúng tôi phải đọc một chương Kinh Thánh. Hừ, nếu Chúa Jesus đi tham quan, ngài sẽ không thể nào nghĩ ra những thứ này có liên quan gì đến bản thân ngài và giáo lý của ngài." Natalie Jastrow vẫn nhìn anh, lộ ra nụ cười dịu dàng gần như của người mẹ. Anh đột ngột nói với cô: "Được rồi. Cô hỏi tôi tại sao phản đối thời kỳ Phục hưng Ý. Tôi đã trả lời cô rồi."
"Ừm, đây là một quan điểm," cô nói.
Đôi mắt Slote sau cặp kính lấp lánh, anh ta châm tẩu thuốc, vừa hút thuốc vừa nói: "Đừng thỏa hiệp, Byron, có người từng đồng ý với quan điểm của anh đấy. Tên chính thức gọi là 'Tin lành'."
"Luận điểm cơ bản của Byron là đúng," Tiến sĩ Jastrow nói một cách hòa ái, khẽ búng mấy ngón tay ngắn của mình. "Thời kỳ Phục hưng Ý là thời kỳ hưng thịnh của nghệ thuật và tư tưởng. Byron, lúc đó sở dĩ xảy ra tình trạng này, là vì tinh thần ngoại giáo và tinh thần Do Thái - theo cách nói của Cơ đốc giáo - không phải đối địch nhau, mà là cùng nhau phồn vinh trong thời gian ngắn. Đó là một loại lai tạo, không sai, nhưng một số giống lai thường mạnh mẽ hơn cha mẹ chúng, cháu biết đấy. Con la chính là minh chứng."
"Không sai, thưa ông," Byron nói, "Nhưng con la không thể truyền giống."
Trên mặt Natalie Jastrow thoáng qua một vẻ vừa thấy buồn cười vừa thấy kinh ngạc, đôi mắt to đen của cô liếc sang Leslie Slote, rồi lại quay về phía Byron.
"Nói hay lắm. Chính là như vậy." Jastrow gật đầu vui vẻ. "Thời kỳ Phục hưng quả thực không thể sinh sản, nó tự già đi và chết, để tinh thần ngoại giáo và tinh thần Do Thái mỗi bên đi theo con đường bất tử của riêng mình. Thế nhưng hài cốt của con la này hiện tại là di sản quý giá nhất trong văn hóa nhân loại, Byron, dù hiện tại vì muốn vạch trần nó mà cháu căm ghét nó đến mức nào." Byron nhún vai. Leslie Slote nói: "Cha anh là mục sư à?"
"Cha anh ấy là sĩ quan hải quân," Jastrow nói.
"Thật sao? Bộ phận nào?" Byron nói: "Ừm, ông ấy hiện đang ở Cục Kế hoạch Tác chiến."
"Trời đất! Cục Kế hoạch Tác chiến?" Jastrow giả vờ ngạc nhiên một cách hài hước. "Ta thực sự không biết. Có nghe đáng sợ như vậy không?"
"Thưa ông, mỗi quốc gia đều lập ra các kế hoạch tác chiến lý thuyết trong thời bình."
"Có phải cha anh cho rằng chiến tranh sắp nổ ra không?"
"Tháng Mười một năm ngoái tôi nhận được lá thư cuối cùng của ông ấy. Ông ấy không nhắc đến chiến tranh."
Ba người còn lại trao đổi với nhau những ánh mắt kỳ lạ. Slote nói: "Ông ấy có nhắc đến những chuyện loại này trong thư nhà không?"
"Ông ấy có thể yêu cầu tôi về nhà. Ông ấy không đưa ra yêu cầu này."
"Rất thú vị," Tiến sĩ Jastrow nói, mỉm cười đắc ý với Slote, vừa xoa hai bàn tay nhỏ của mình.
"Thực tế, tôi cho rằng chiến tranh sắp nổ ra," Byron nói. Câu nói này gây ra sự im lặng trong một, hai giây và nhiều ánh mắt hơn. Jastrow nói: "Thật sao? Tại sao?"
"Ừm, tôi vừa đi du lịch ở Đức về. Ông chỉ nhìn thấy quân phục, duyệt binh, tập luyện, ban nhạc quân đội. Dù ông đi xe đến đâu, cũng có thể gặp những chiếc xe quân sự chở đầy lính, và những đoàn tàu chở đại bác, xe tăng. Một số đoàn tàu đôi khi dài đến hai dặm."
"Thế nhưng, Byron, Hitler chính là nhờ phô trương võ lực, mới giành được Áo và Sudetenland," Jastrow nói, "Và không tốn một viên đạn."
Natalie nói với Byron: "Leslie cho rằng chú tôi nên về nhà. Chúng tôi đã tranh cãi ba ngày rồi."
"Tôi hiểu."
Jastrow cầm một con dao cán ngà, gọt quả lê bằng tư thế nghiêm túc thường thấy của người già. "Không sai, Byron, ta cứng đầu như con la vậy." Ông dùng từ này rõ ràng là vô ý, vì ngay sau đó liền mỉm cười, thêm một câu: "Có lẽ là vì con người ta cũng có chút 'tạp' chăng, ta đoán vậy. Đây là một nơi ở thoải mái, cũng là ngôi nhà duy nhất của ta hiện nay, công việc của ta cũng tiến triển rất thuận lợi. Chuyển nhà một lần sẽ lãng phí của ta nửa năm thời gian. Nếu ta muốn bán căn nhà này, chắc chắn mỗi đồng tiền cũng không thu lại được năm xu. Đám người Ý đó mấy trăm năm nay vẫn luôn đối phó với những người ngoại quốc buộc phải bán rẻ bất động sản để chạy trốn. Họ sẽ lột sạch da ta. Khi ta mua căn biệt thự này, sớm đã cân nhắc tất cả những điều này rồi. Ta dự định sẽ trải qua những năm cuối đời ở đây."
"Cháu hy vọng sẽ không phải là trải qua những năm cuối đời của ông trong tay quân phát xít vào mùa thu năm nay," Slote nói.
"Này, anh thật là ngốc, Slote," Natalie chen vào, giơ một bàn tay chém thẳng từ giữa không trung xuống. "Từ khi nào mà những nhà ngoại giao các anh lại có tầm nhìn xa trông rộng tuyệt vời như vậy? Từ Munich à? Từ Áo à? Từ lưu vực sông Rhine à? Chẳng phải lần nào các anh cũng cảm thấy kinh ngạc sao?"
Những cuộc đối thoại như vậy Byron nghe rất hứng thú. Những người khác dường như quên mất có anh ở trên bàn ăn.
"Hitler luôn thực hiện những hành động mất lý trí, không màng đến việc có thể mang lại hậu quả thảm khốc như thế nào," Slote phản bác. "Bất kỳ ai cũng có thể rút súng lục trên đường phố, trước khi cảnh sát ngăn cản anh ta thì bắn chết bốn người. Tóm lại, đây chính là chính sách ngoại giao cao minh gọi là của Hitler cho đến tận bây giờ, là sự oanh tạc bất ngờ của một tên cướp phát điên. Cái trò này đã không còn tác dụng nữa, mọi người đã có cảnh giác, họ sẽ ngăn cản hắn ở Ba Lan."
Jastrow ăn một lát lê, bắt đầu nói chuyện một cách nhịp nhàng, trôi chảy, vừa giống như một người đang tự nói với chính mình, vừa giống như đang giảng bài trên lớp. "Leslie, nếu Hitler là nhân vật như Hoàng đế Đức hay Charles XII, ta thừa nhận ta chắc chắn sẽ cảm thấy lo lắng. Thế nhưng năng lực của hắn lớn hơn cháu tưởng tượng nhiều, may mà giai cấp thống trị cũ đã bị lật đổ. Đám hoàng tộc và chính trị gia năm 1914 thích ăn diện và làm bộ làm tịch, đám sắc quỷ đầy huân chương trong ngòi bút của Proust, đám đần độn hủ bại, chính là họ đã phát động Thế chiến thứ nhất. Họ nằm mơ cũng không ngờ tới, lễ nghi cũ, công văn cũ, nghị định thư cũ đều sẽ hoàn toàn kết thúc, chiến tranh công nghiệp hóa sẽ nghiền nát chế độ cũ dễ dàng như đá đổ nhà búp bê. Thế là họ đều lăn vào đống rác, những nhà lãnh đạo mới xuất hiện từ cống rãnh, đề xướng chủ nghĩa hiện thực và tiến hành cải cách. Cháu biết đấy, trước đây cũng có một số tín đồ Cơ đốc giáo trốn trong cống rãnh và lăng mộ dưới lòng đất ở Rome." Jastrow nói với Byron Henry, rõ ràng là rất có cảm tình với người nghe mới này.
"Vâng, thưa ông, cháu đã nghe nói qua."
“Dĩ nhiên là anh đã từng nghe. Ừ, Hitler là một tên lưu manh, Mussolini là một tên lưu manh, còn Stalin là một tên tù nhân. Bọn chúng đều là những con người mới cứng rắn, thông minh, tài giỏi, toàn bộ đều từ cống rãnh chui lên. Một tên tù nhân khác là Lenin, là một nhà cách tân vĩ đại. Mọi thứ đều do hắn sáng tạo và phát minh ra, Leslie này, anh biết đấy - tổ chức một đảng bí mật giống như Dòng Tên, dạy cho quần chúng những khẩu hiệu thô tục, coi thường trí tuệ và trí nhớ của quần chúng, lạm dụng ngôn ngữ cuồng tín và giáo điều chói tai, đem lòng cuồng tín tôn giáo của Hồi giáo áp dụng vào chính trị, tổ chức những cảnh tượng hào nhoáng và nông cạn như diễu hành, chiến lược cực kỳ vị kỷ - tất cả những thứ đó đều là chủ nghĩa Lenin. Hitler là một người theo chủ nghĩa Lenin, Mussolini là một người theo chủ nghĩa Lenin. Còn cái trò nói toàn những chuyện chống cộng hay thân cộng, đều là để lừa bọn khờ và trẻ con cả.”
“Ôi, vì Chúa, Allen –”
“Xong ngay đây! Lenin rất thận trọng trong ngoại giao, đó là toàn bộ luận điểm của tôi. Danh dự, danh tiếng và những thứ đồ chơi viển vông, hào nhoáng tương tự, chế độ cũ vì chúng mà gây ra chiến tranh, nhưng trong mắt Lenin, chúng đều là thuốc giả lừa người. Hitler cũng nhìn vấn đề như vậy. Hắn sẽ không hành động gì trừ khi chắc chắn có thể thoát thân an toàn. Giống như một tên cướp điên cầm súng, đó chính xác là hiệu quả mà hắn muốn tạo ra. Anh lại mắc lừa, điều này làm tôi ngạc nhiên đấy. Thực ra hắn là một người vô cùng, vô cùng thận trọng. Hắn chắc chắn có thể đạt được mục đích ở Ba Lan mà không gây ra chiến tranh, nếu không hắn sẽ không hành động. Ít nhất là không phải lúc này. Có lẽ mười năm nữa, sau khi hắn xây dựng xong nước Đức. Tôi chỉ cần sống thêm mười năm nữa là mãn nguyện rồi.”
Slute dùng những ngón tay thon dài hơi run run sờ bộ ria mép. “Anh thực sự làm tôi bối rối đấy, Allen. Anh không đùa đấy chứ? Hitler là người theo chủ nghĩa Lenin! Đó là trò lừa bịp của mấy quán cà phê, chính anh cũng biết rõ. Cách mạng Nga đã thay đổi căn bản lịch sử nhân loại. Do xóa bỏ tài sản tư hữu, một thế giới mới đã được sáng lập. Dù anh thích hay ghét, nó vẫn là một thế giới mới. Chủ nghĩa xã hội của Hitler hoàn toàn là hàng giả, mục đích là đưa một bọn lưu manh lên ngôi báu. Hắn làm kinh tế Đức đình trệ, đập tan công đoàn, kéo dài thời gian làm việc, giảm lương, để những kẻ giàu có ngày trước vẫn ở trên đỉnh cao, ví dụ như bọn Krupp và Thyssen, chính bọn chúng cho hắn tiền để hắn thi hành nhiệm vụ. Những nhân vật lớn của Đức Quốc Xã sống như quý tộc và đế vương. Còn những ai kiên trì đòi thực hiện chủ nghĩa xã hội trong chủ nghĩa quốc gia xã hội, thì từng người một bị nhốt vào trại tập trung. Anh có biết chuyện này không? Cuộc thanh trừng năm 1934 là cuộc đối đầu cuối cùng giữa những người xã hội chủ nghĩa trong nội bộ Đức Quốc Xã với các tướng lĩnh và phe bảo thủ giàu có. Hitler đã giết như giết gà mấy người bạn cũ trong đảng của chính hắn. Anh lại đặt sự an toàn của chính anh và Natalie vào sự cẩn thận của con người này, tôi thấy thật hoang đường và buồn cười.”
“Thế à?” Jastrow nhìn đồng hồ, thở dài. “Tôi rất tiếc. Điều làm tôi ấn tượng sâu sắc là khả năng của Hitler trong việc lợi dụng những lời lẽ xã hội chủ nghĩa khi cần thiết, rồi sau đó vứt bỏ nó sang một bên. Hắn sử dụng chủ nghĩa cũng như sử dụng tiền, để hoàn thành công việc. Chúng đều là một phương tiện. Hắn sử dụng chủ nghĩa chủng tộc, bởi vì nó hoàn toàn là tinh chất chưng cất từ chủ nghĩa lãng mạn cá nhân của người Đức, cũng như Lenin sử dụng chủ nghĩa Marx không tưởng, vì nó hợp với tính cách thích làm đấng cứu thế của người Nga. Hitler muốn rèn một châu Âu thống nhất. Những lời rỗng tuếch về chủng tộc, viễn cảnh xã hội chủ nghĩa, đội nhạc quân đội, diễu hành, quân phục, bài hát bi ai – chỉ cần mớ đồ vô bổ này có thể hàn gắn người Đức thành một vũ khí nặng nề, thì đương nhiên Hitler sẽ cho chúng tất cả những thứ đó. Người Đức nói chung trầm tĩnh, thông minh, tàn bạo, dễ bảo, chỉ cần anh lên giọng cao hơn một chút, chúng sẽ hùng dũng thi hành bất kỳ mệnh lệnh nào anh đưa ra. Hitler hiểu chúng, vì vậy hắn rất có thể thành công. Một châu Âu thống nhất nhất định sẽ xuất hiện. Thời kỳ trung cổ phân tranh đã lỗi thời, chính sách cân bằng quyền lực trong thời đại công nghiệp hóa là nguy hiểm và ngu xuẩn. Tất cả những thứ này đều phải xóa bỏ triệt để. Nhất định phải có một kẻ mạnh tay tàn nhẫn, lạnh lùng đảm nhận nhiệm vụ này, bởi vì dựa vào đám người bảo thủ ghét cái mới thì chẳng làm nên trò trống gì. Vốn dĩ đây là kiến giải độc đáo của Napoleon, tiếc là ông ta ra đời sớm hơn một trăm năm. Bọn người bảo thủ lúc đó vẫn còn đủ sức tóm được ông ta, nhốt vào lồng cho chết. Nhưng bây giờ thì không còn ai có thể nhốt Hitler vào lồng nữa rồi.”
Byron thốt ra: “Tiến sĩ Jastrow, khi tôi ở Đức, tôi đã thấy những biểu ngữ chống người Do Thái trên ghế dài trong công viên hoặc trên xe điện. Tôi cũng thấy vài giáo đường Do Thái bị thiêu rụi.”
“Thế à?”
Mọi người đều nhìn ông ta. Ông tiếp tục: “Tôi rất ngạc nhiên khi ngài nói về Hitler mà lại bình tĩnh đến vậy. Ý tôi là, bản thân ngài là người Do Thái.”
Tiến sĩ Jastrow chậm rãi, chua chát mỉm cười, để lộ hàm răng vàng nhỏ. Ông sờ râu, dùng giọng điệu giáo sư trên lớp học nghiêm trang giảng giải. “Ừ, sự ngạc nhiên của anh không làm tôi ngạc nhiên. Người trẻ - nhất là thanh niên Mỹ - không hiểu rằng, châu Âu chỉ khoan dung người Do Thái từ năm mươi đến một trăm năm, và nói gì đến chiều sâu. Ví dụ như Ba Lan, quê hương tôi sinh ra, đã không hề khoan dung người Do Thái. Ngay cả ở phương Tây – các anh còn nhớ vụ Dreyfus chứ? Không, không. Về phương diện này, Hitler chỉ làm cho châu Âu trở lại bình thường – sau một thời gian ngắn châu Âu bừng sáng ánh sáng tự do, bây giờ thì trở lại bình thường. Chỉ là sự thù địch với người Do Thái đã từ giáo hội chuyển sang các đảng bài Do Thái, bởi vì Cách mạng Pháp đã sớm biến châu Âu từ một lục địa tôn giáo thành một lục địa chính trị. Nếu Hitler thắng lợi, người Do Thái sẽ trở lại địa vị xã hội hạng hai thời xưa; dưới thời vua chúa và giáo hoàng, họ vốn dĩ đã ở trong địa vị đó. Suốt mười bảy thế kỷ như vậy, chúng ta cũng đều sống sót. Chúng ta có nhiều biện pháp và nguyên tắc để đối phó với những chuyện kiểu này.”
Slute lắc đầu. “Tôi biết ông thích nói nhảm kiểu này, nhưng tôi vẫn hy vọng ông đáp chuyến tàu tiếp theo về nhà, lên tàu mà nói nhảm ấy.”
“Nhưng tôi đang nói nghiêm túc đấy, Leslie,” Jastrow nói, để lộ một nụ cười hơi có vẻ tinh nghịch. “Khi Mussolini thông qua luật bài Do Thái, các anh cũng từng ồn ào một trận. Kết quả thì sao, hóa ra là một trò đùa.”
“Chúng đã trở thành luật chính thức, và nếu người Đức gây áp lực với Mussolini, thì có thể thực thi.”
“Người Ý vừa ghét vừa sợ người Đức. Nếu chẳng may chiến tranh xảy ra, Ý cũng sẽ không chiến đấu. Siena có thể an toàn như bất kỳ nơi nào trên thế giới.”
“Tôi rất nghi ngờ là bố mẹ của Natalie có nghĩ vậy không.”
“Cô ấy có thể về nhà vào ngày mai. Có lẽ cô ấy thấy Siena còn dễ thương hơn bãi biển Miami.”
“Tôi thì muốn về,” cô gái nói, “nhưng không phải vì tôi sợ chiến tranh hay sợ Hitler. Có vài thứ còn làm tôi phiền lòng hơn thế.”
“Có lẽ em nói đúng,” Jastrow nói.
Mặt Slute đỏ bừng. Tẩu thuốc của anh ta bốc khói trên gạt tàn, nhưng anh ta lại móc từ trong túi ra một cây bút chì vàng, vân vê trong tay. Cây bút chì trong tay anh ta đột nhiên ngừng quay. Jastrow đứng dậy. “Byron, đi với tôi.”
Họ để cô gái và người đàn ông mặt đỏ ở lại bàn, trừng mắt nhìn nhau.
Trong một phòng thư viện nhỏ có ốp tường, giá sách chất đầy sách, bàn làm việc và sàn nhà cũng chất đầy sách. Phía trên lò sưởi bằng đá cẩm thạch trắng treo một bức tranh Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng thành Siena cứng nhắc, vẽ bằng hai màu xanh trời và hồng nhạt trên nền vàng; đây là một bức tranh rất nhỏ, được đặt trong một khung vàng mạ lớn lộng lẫy. “Bernard Berenson bảo đây là tác phẩm của Duccio,” Jastrow nói, vẩy nhẹ tay về phía bức tranh, “một bức tranh như vậy với tôi là đủ tốt rồi. Nhưng là thật hay giả, còn chưa được giám định. Bây giờ em ngồi xuống chỗ có ánh nắng kia để tôi nhìn rõ em. Đặt mấy cuốn tạp chí xuống sàn đi. Tốt. Cái ghế này ngồi có thoải mái không? Tuyệt vời.” Ông thở dài, lấy một ngón tay cái đè lên môi dưới.
“Này, Byron, sao em không vào Học viện Hải quân? Em không tự hào về cha mình sao?”
Byron ngồi thẳng dậy trên ghế. “Tôi nghĩ có ngày cha tôi sẽ làm Bộ trưởng Hải quân.”
“Chẳng lẽ không đáng để noi gương ông ấy sao?”
“Anh trai Warren đang theo học. Còn tôi, tôi không có chút hứng thú nào.”
“Bác sĩ Milano viết trong thư rằng, em đã học khóa dự bị Hải quân và còn nhận được quân hàm sĩ quan.”
“Làm vậy để cha tôi vui.”
“Em có cân nhắc lại việc vào Hải quân không? Bây giờ chưa muộn.”
Byron mỉm cười lắc đầu. Jastrow châm một điếu thuốc lá, nhìn chăm chú vào mặt Byron. Người thanh niên nói: “Ngài thực sự thích sống ở Ý sao, thưa ngài?”
“Ừ, bác sĩ bảo tôi sống ở nơi có khí hậu ôn hòa. Tôi đã thử không ít nơi, Florida, Arizona, Nam California, và Riviera của Pháp.” Ông giáo sư nói những địa danh này với một giọng châm biếm mỉa mai, như thể chúng rất nực cười hoặc rất đáng ghét, và ông đang lấy bút gạch bỏ từng cái một. “Ý đẹp, yên tĩnh, giá rẻ.”
“Ngài không ngại định cư ở một nước phát xít sao?”
Jastrow để lộ nụ cười hiền từ. “Bất kỳ chế độ chính trị nào cũng có mặt tốt và mặt xấu.”
“Làm sao ngài viết được cuốn ‘Một người Do Thái tên Jesus’? Ngài viết nó ở đây à?”
“Ồ không, nhưng cuốn sách ấy đã đưa tôi đến đây.” Jastrow nói với vẻ hơi tự đắc. “Em thấy đấy, trước đây tôi dạy lịch sử cổ đại có đề cập đến Kinh Thánh. Hồi trẻ ở Ba Lan tôi cũng học bộ luật Do Thái, vì vậy khi dạy Tân Ước, tôi hơi nhấn mạnh đến ảnh hưởng của giáo lý mà Jesus và Paul truyền bá đối với bộ luật Do Thái. Cái trò mới này hình như rất hợp khẩu vị với sinh viên năm nhất và năm hai của Yale. Tôi viết nó thành một cuốn sách, lúc đầu đặt tên là ‘Chủ đề bộ luật Do Thái trong Cơ đốc giáo sơ khai’, cho đến phút cuối tôi mới nghĩ ra cái tên ‘Một người Do Thái tên Jesus’. Cuốn sách ấy đã được ‘Hội sách hàng tháng’ chọn.” Jastrow mỉm cười, dùng hai tay nhẹ nhàng chỉ ra xung quanh phòng. “Kết quả là tôi đến đây. Tôi dùng tiền nhuận bút của Hội sách để mua nơi này. Còn em, Byron, em có kế hoạch gì không? Em định về Mỹ à?”
“Tôi không biết nữa. Lúc này tôi không có quyết định gì cả.”
“Em muốn tìm việc làm không?” Byron ngập ngừng. “Ừ, tôi đoán kiếm một công việc cũng tốt, thưa ngài.”
Jastrow thong thả đi đến bên bàn làm việc, tìm kiếm trong một đống sách lớn, còn tháo kính ra, đưa sách lên rất gần mặt để xem tên sách. “Tôi vốn có một nghiên cứu sinh tốt, một cậu thanh niên tốt nghiệp Yale, nhưng bố mẹ cậu ta sợ chiến tranh bùng nổ nên gọi về nhà rồi – à, đây rồi. Tôi trả em hai mươi đô mỗi tuần, liệu có thể khiến em hứng thú với Hoàng đế Constantine không? Đây là một cuốn tiểu sử tổng quát viết rất hay, em có thể bắt đầu từ nó.”
“Thưa ngài, tôi thi trượt môn lịch sử nhiều hơn bất kỳ môn nào –”
“Tôi hiểu rồi. Em không muốn nhận công việc này.”
Người thanh niên cầm cuốn sách dày, do dự lật xem. “Không. Tôi muốn thử. Cảm ơn ngài.”
“Ồ, em muốn thử, phải không? Mặc dù em nói rằng mình không có năng lực về phương diện này. Tại sao?”
“Ừ, vì tiền, và cũng để ở cạnh ngài.” Đó là sự thật, chỉ có điều anh ta giấu lý do thứ ba: vì Natalie Jastrow.
Jastrow làm ra vẻ rất nghiêm trang, sau đó phì cười, “Chúng ta thử xem.”
Bức thư mà bố mẹ anh ta sau đó nhận được – lá thư mà anh ta kể về cô gái ấy, kết quả là gây ra bức thư hồi âm đầy sức nặng của Victor Henry – quả thật rất dễ bị hiểu lầm, mặc dù đó không phải là ý định của người viết. Chỉ có một người đang yêu, nhưng người tình của Natalie là Leslie Slute. Mỗi tuần anh ta đến hai, ba lá thư, đều là những phong bì trắng dày và dài của Bộ Ngoại giao, trên phong bì là nét chữ thon dài viết bằng mực nâu, chỗ in dòng chữ “Miễn phí” thì dán tem. Byron cảm thấy ghét mỗi khi nhìn thấy những phong bì ấy.
Mỗi ngày anh ta có vài tiếng đồng hồ ở cùng cô ấy trong căn phòng lớn trên tầng hai, đó là thư viện chính của Jastrow. Bàn làm việc của cô ấy để ở đấy. Cô ấy trả lời thư, đánh máy bản thảo, cùng với người phụ nữ Ý quản lý việc nhà. Byron ngồi làm việc bên chiếc bàn dài trong thư viện, đọc tài liệu về Constantine, kiểm tra sự thật, vẽ vài tấm bản đồ về những trận đánh quan trọng dưới thời Hoàng đế Constantine. Chỉ cần anh ta ngước mắt lên, là có thể thấy khuôn mặt mượt mà đang cắm cúi làm việc, ánh nắng chiếu lên gò má xinh đẹp ấy, nếu ngày mưa thì là ánh đèn. Anh ta cũng thường xuyên có thể thấy đôi chân dài đẹp đẽ đi tất lụa. Natalie mặc bộ quần áo len màu nâu sẫm, đối xử với anh ta luôn đứng đắn. Sau khi Slute rời đi, cô ấy hầu như không trang điểm, vén tóc ra sau búi thành một búi lớn, nói chuyện với Byron với thái độ thẳng thắn và lạnh lùng. Nhưng nỗi si tình của anh ta lại càng đâm rễ, và ngày càng tăng.
Trước khi gặp cô ấy, anh ta đã mấy tháng không giao tiếp với các cô gái Mỹ, bây giờ họ gặp nhau hàng ngày, căn phòng bốn vách đầy sách này chỉ có hai người, và ở cùng nhau suốt mấy tiếng đồng hồ. Chỉ một điều đó thôi cũng đủ khiến anh ta xiêu lòng trước cô ấy rồi. Nhưng cô ấy còn có những điểm khác khiến anh ta rung động. Natalie Jastrow nói chuyện với người chú nổi tiếng của mình một cách tự nhiên, cứ như thể trên phương diện trí tuệ hai người không có khác biệt gì. Kiến thức uyên bác của cô ấy khiến Byron tự thấy xấu hổ, nhưng cô ấy không hề có chút mùi sách vở. Theo kinh nghiệm trước đây của anh ta, các cô gái trẻ đều là những kẻ nhẹ dạ, ngốc nghếch, không chịu nổi một nụ cười nhẹ và vài lời tán tụng. Ở đại học, sau đó ở Florence cũng vậy, họ đều rất cưng chiều anh ta. Byron hơi giống Adonis, uể oải và không có tình yêu nồng nhiệt. Anh ta không giống Warren, chịu ảnh hưởng của cha mình phần nào, sống khá nghiêm túc. Anh ta cho rằng Natalie vừa thông minh vừa đáng yêu, là một viên ngọc đẹp không lộ ánh sáng bên ngoài, bị bỏ rơi giữa rừng núi, không ai để ý. Còn việc cô ấy lạnh nhạt với anh ta, anh ta cho là chuyện bình thường. Anh ta không hề nghĩ đến việc xóa bỏ hiện tượng đó.
Anh ta đã làm những việc chưa từng làm. Anh ta đã lấy trộm một chiếc khăn tay nhỏ màu xanh nhạt của cô ấy, ban đêm ngồi trong phòng khách sạn ở thị trấn hít nó một cách điên cuồng. Có lần anh ta ăn mất nửa miếng bánh cô ấy để lại trên bàn, vì trên miếng bánh có in dấu răng của cô ấy. Sau đó cô ấy không tìm thấy nửa miếng bánh đó, nhưng anh ta vẫn mặt không đổi sắc mà nói dối. Nhìn chung thì hành vi của anh ta hơi thất thường. Nhưng Natalie Jastrow dường như không hề nhận thấy. Byron có một lớp vỏ cứng sâu thẳm, đã hình thành từ thuở ấu thơ, để bảo vệ anh ta khỏi ánh mắt khắt khe của người cha có thể nhìn ra sự lười biếng và kết quả học tập quá kém của anh ta.
Họ thường xuyên tán gẫu, dĩ nhiên, đôi khi cũng cùng nhau lái xe ra ngoài dã ngoại trong núi sâu, cô ấy uống vài ly rượu vào, sẽ nhiệt tình hơn một chút với anh ta, thái độ hơi giống chị đối với em, và chẳng bao lâu anh ta đã dò ra được một số sự thật quan trọng trong chuyện tình yêu của cô ấy. Cô ấy từng học xã hội học tại Đại học Paris, Slute là học trò của Jastrow, giáo sư đã viết thư giới thiệu cô ấy cho Slute. Giữa họ đã bùng nổ tình yêu, sau đó Natalie trong cơn thịnh nộ đã rời Paris, về sống với bố mẹ ở Florida một thời gian. Rồi cô ấy lại trở về châu Âu, làm việc dưới trướng chú mình. Theo Byron phỏng đoán, cô ấy đến châu Âu cũng để gần Slute hơn, làm một lần thử nữa. Lúc này Slute đã nhận lệnh điều đến Warsaw, Natalie đang lên kế hoạch tháng bảy đến Warsaw thăm anh ta, vì lúc đó Jastrow cũng sẽ đi nghỉ hè ở đảo Hy Lạp.
Một lần họ cùng nhau đi dã ngoại, khi Byron rót vài giọt rượu cuối cùng trong chai vào cốc của cô ấy, đã liều lĩnh đâm thẳng vào vấn đề. “Natalie, em có thích công việc của mình không?”
Cô ấy ngồi trên một tấm chăn, quấn hai chân trong chiếc váy caro, nhìn ra vườn nho mùa đông màu nâu ở phía bên kia thung lũng. Cô nghiêng đầu, để lộ vẻ mặt tinh nghịch dò hỏi, đáp: “Ồ, việc thì cũng là việc. Sao vậy?”
“Anh cứ có cảm giác em đang lãng phí thời gian ở đây.”
“Ừ, để anh nói cho, Byron. Khi em yêu, em sẽ làm những chuyện kỳ lạ.” Phản ứng của anh ta rất lạnh nhạt, mặt không biểu cảm. Cô ấy nói tiếp: “Đây là một mặt khác. Ngoài ra, nói thẳng ra, em thấy Allen khá là tuyệt vời. Em nói thế nhé? Mặc dù ông ấy hay nghĩ ra những ý tưởng rất kỳ quặc, cũng rất thích tự mãn, và đủ thứ tật xấu tương tự, nhưng cuốn sách về Constantine này quả th
Nàng viết xong thư, anh cũng dùng chính chiếc máy đánh chữ đó để viết cho cha mẹ mình một bức thư dài hiếm thấy. Ban đầu anh chỉ định viết một trang, kết quả lại viết tới bảy trang. Đây là lá thư đầu tiên anh viết cho họ trong suốt mấy tháng qua. Anh hoàn toàn không ngờ rằng mình đã tự họa chân dung bản thân trong thư như một chàng trai trẻ đang đắm chìm trong tình yêu. Anh cứ ngỡ mình chỉ đang mô tả công việc, chủ nhân của mình, và cả cô gái đáng yêu cùng làm việc với anh mà thôi. Vì thế, Pug Henry đã phí công lo lắng, viết một bức thư hồi đáp đầy nghiêm trọng. Khi Byron nhận được thư, cảm thấy vừa ngạc nhiên vừa buồn cười. Anh vốn chẳng hề nghĩ đến việc kết hôn với Natalie, cũng giống như việc anh chưa bao giờ nghĩ đến chuyện cải sang đạo Hồi vậy. Anh chỉ đơn thuần bị tình yêu làm cho mê muội, cô gái trẻ đó có thể nói là gần ngay trước mắt mà xa tận chân trời. Anh cảm thấy giờ đây chỉ cần được ở bên cạnh nàng là đã mãn nguyện lắm rồi. Anh lại viết một bức thư khác gửi cha để giải thích rõ ràng, thế nhưng, khi bức thư này đến Washington, vợ chồng Henry đã khởi hành đi Đức rồi.