“Dù sao thì mọi chuyện cũng chẳng đến nỗi tệ đến mức đó.”
Christine ngồi bên bàn làm việc trong văn phòng nằm ngoài dãy phòng Tổng giám đốc, cô vừa đọc bức thư trên tay vừa nhíu mày. Khi ngước lên, cô vừa vặn nhìn thấy gương mặt vui vẻ nhưng chân chất của Peter McDermott đang ngó nghiêng ở cửa.
Cô mỉm cười đáp lời: “Lại một mũi tên bắn tới, nhưng vốn dĩ đã nhiều như vậy rồi, thêm một phát nữa thì có sá gì?”
“Tôi lại thích kiểu suy nghĩ đó đấy.” Peter duỗi thẳng vóc dáng cao lớn của mình bên khung cửa. Christine tỉ mỉ quan sát anh: “Đêm qua chắc anh ngủ ít lắm, nhưng trông anh chẳng có vẻ gì là mệt mỏi cả.”
Anh nhếch mép cười: “Sáng sớm nay tôi vừa có một trận khẩu chiến với sếp của cô, cảm giác cứ như vừa được tắm nước lạnh vậy. Ông ấy đã xuống đây chưa?”
Cô lắc đầu, rồi liếc nhìn bức thư mình vừa đọc: “Ông ấy mà tới nơi thì chắc chắn sẽ không thích thứ này đâu.”
“Là bí mật à?”
“Thực ra cũng chẳng phải bí mật gì. Nhưng tôi nghĩ, nó có liên quan đến anh đấy.”
Peter ngồi xuống chiếc ghế da đối diện bàn làm việc.
“Anh còn nhớ một tháng trước không?” Christine nói, “Có một người đang đi trên phố Callender thì bị một cái chai rơi trúng đầu. Vết thương khá nặng.”
Peter gật đầu: “Thật đáng xấu hổ! Không còn nghi ngờ gì nữa, cái chai đó rơi từ một trong những phòng của khách sạn chúng ta. Nhưng chúng ta không thể tìm ra vị khách nào đã ném nó.”
“Người bị thương là kiểu người như thế nào?”
“Tôi nhớ đó là một gã nhỏ con khá tử tế. Sau sự việc tôi đã nói chuyện với ông ta, chúng ta cũng đã thanh toán chi phí y tế cho ông ta. Luật sư của chúng ta đã viết một bức thư cho ông ta, giải thích rằng đó chỉ là cử chỉ thiện chí chứ không phải là thừa nhận trách nhiệm.”
“Thiện chí chẳng có tác dụng gì cả. Ông ta đang kiện đòi khách sạn bồi thường mười ngàn đô la. Ông ta nói mình bị chấn động não, tổn thương cơ thể nghiêm trọng, mất khả năng lao động, còn nói chúng ta chẳng quan tâm gì đến chuyện này.”
Peter dứt khoát nói: “Ông ta không lấy được tiền đâu. Tôi cũng thấy ở một khía cạnh nào đó thì điều này không công bằng lắm. Nhưng ông ta không thể thắng kiện được.”
“Sao anh lại chắc chắn như vậy?”
“Bởi vì những sự việc tương tự xảy ra rất nhiều. Luật sư bào chữa sẽ có tiền lệ để viện dẫn tại tòa.”
“Như vậy có thể ảnh hưởng đến phán quyết sao?”
“Thông thường là vậy,” anh khẳng định với cô. “Luật pháp bao năm nay vẫn luôn như thế. Lấy ví dụ nhé, ở Pittsburgh từng có một vụ án điển hình – tại khách sạn William Penn, một người bị cái chai rơi từ phòng khách sạn phía trên đánh trúng, cái chai đập xuyên qua nóc xe của ông ta. Ông ta đã kiện khách sạn đòi bồi thường.”
“Ông ta thắng kiện chứ?”
“Không. Ông ta thua ở tòa sơ thẩm, sau đó kháng cáo lên Tòa án Tối cao Pennsylvania. Họ đã bác bỏ đơn kháng cáo.”
“Tại sao?”
“Tòa án cho rằng một khách sạn – bất kỳ khách sạn nào – không thể chịu trách nhiệm cho hành vi của khách hàng. Ngoại lệ duy nhất là nếu một người có trách nhiệm nào đó – ví dụ như quản lý khách sạn – biết trước sự việc sắp xảy ra mà không ngăn chặn.” Peter tiếp tục, nhíu mày hồi tưởng. “Còn một vụ khác – tôi nghĩ là ở Kansas City. Một vài người đang họp đã ném những túi giặt chứa đầy nước từ phòng của họ xuống. Khi túi nước vỡ tung, những người trên vỉa hè sợ hãi chạy tán loạn, một người bị đẩy ngã vào gầm xe hơi đang chạy tới. Ông ta bị thương nặng. Sau đó ông ta kiện đòi khách sạn bồi thường, nhưng cũng chẳng nhận được xu nào. Còn một số phán quyết khác nữa – tất cả đều giống nhau.”
Christine tò mò hỏi: “Sao anh lại biết những chuyện này?”
“Khi còn học tại Đại học Cornell, tôi cũng có học về luật khách sạn.”
“Chà! Tôi thấy điều này có vẻ quá bất công.”
“Ai gặp phải chuyện này thì đúng là đen đủi, nhưng đối với khách sạn thì lại là công bằng và hợp lý. Tất nhiên, lẽ ra người gây ra chuyện phải chịu trách nhiệm. Vấn đề là có quá nhiều phòng nhìn ra phố, gần như không thể tìm ra ai là người đã làm. Vì thế phần lớn bọn họ đều nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật.”
Christine chăm chú lắng nghe, một khuỷu tay chống lên bàn làm việc, lòng bàn tay đỡ lấy cằm. Ánh mặt trời xuyên qua khe rèm sáo nửa khép, chiếu lên mái tóc đỏ của cô khiến nó càng thêm rực rỡ. Lúc này cô nhíu mày vì bối rối, Peter cảm thấy mình rất muốn đưa tay ra khẽ vuốt phẳng nếp nhăn đó.
“Để tôi làm rõ xem nào,” cô nói. “Ý anh là một khách sạn không phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với bất kỳ hành vi nào của khách hàng, kể cả đối với những khách hàng khác sao?”
“Xét theo những tình huống chúng ta vừa bàn thì chắc chắn là không chịu trách nhiệm pháp lý. Luật đã quy định rất rõ ràng, và từ xưa đến nay vẫn vậy. Thực tế, nguồn gốc của nhiều bộ luật chúng ta có thể truy ngược về những quán trọ nhỏ ở Anh từ thế kỷ 14.”
“Kể tôi nghe xem.”
“Tôi có thể kể vắn tắt cho cô. Nó bắt nguồn từ những quán trọ nhỏ ở Anh, thời đó những quán trọ này đều có một đại sảnh, bên trong đốt lửa, vừa ấm áp vừa sáng sủa, mọi người đều ngủ trong đại sảnh đó. Khi họ ngủ, trách nhiệm của chủ quán là bảo vệ họ khỏi sự quấy nhiễu của kẻ trộm và sát thủ.”
“Nghe có vẻ rất hợp tình hợp lý.”
“Đúng là vậy. Khi bắt đầu sử dụng những căn phòng nhỏ hơn, người ta vẫn yêu cầu chủ quán làm như vậy, bởi vì dù là phòng nhỏ nhưng thường là – hoặc có khả năng là – ở chung với người lạ.”
“Nếu nói như vậy,” Christine trầm ngâm, “thì thời kỳ này vẫn chưa nói đến không gian riêng tư cá nhân nhỉ.”
“Mãi sau này mới có phòng riêng, không gian cá nhân mới xuất hiện, và khách cũng có chìa khóa riêng. Sau đó, quy định của pháp luật cũng khác đi. Chủ quán nên bảo vệ khách của mình, không để người khác xông vào quấy nhiễu. Nhưng ngoài ra, dù trong phòng khách xảy ra chuyện gì, hoặc bản thân khách hàng làm gì, chủ quán đều không phải chịu trách nhiệm nữa.”
“Vậy ra mấu chốt nằm ở chiếc chìa khóa.”
“Bây giờ vẫn vậy,” Peter nói. “Về vấn đề này, luật pháp không thay đổi. Khi chúng ta giao chìa khóa cho khách, đó chính là một biểu tượng pháp lý, giống như ở những quán trọ Anh thời đó vậy. Nó có nghĩa là khách sạn không thể sử dụng căn phòng đó nữa, không thể cho bất kỳ ai khác vào ở được nữa. Mặt khác, sau khi khách hàng đóng cửa phòng lại, khách sạn sẽ không còn phải chịu bất kỳ trách nhiệm nào đối với họ.” Anh chỉ vào bức thư Christine vừa đặt xuống, “Vì vậy, người bạn ngoài kia của chúng ta nhất định phải tìm ra kẻ đã ném cái chai vào người ông ta, nếu không thì ông ta đành phải tự nhận xui xẻo thôi.”
“Tôi không biết anh lại uyên bác đến thế đấy.”
“Tôi không cố ý thể hiện đâu,” Peter nói. “Tôi nghĩ Warren Trent là người tinh thông luật pháp, nhưng nếu ông ấy cần danh sách các vụ án, tôi có thể tìm ra một bản.”
“Vậy chắc chắn ông ấy sẽ rất cảm kích anh. Để tôi viết một mẩu giấy ghi chú đính vào bức thư này.” Ánh mắt cô vừa vặn chạm vào mắt Peter. “Anh rất thích những chuyện này, đúng không? Quản lý một khách sạn và tất cả những gì liên quan đến nó.”
Anh thẳng thắn trả lời: “Đúng, tôi rất thích. Nhưng nếu chúng ta có thể cải cách một số việc ở đây thì tôi sẽ còn thích hơn nữa. Nếu chúng ta làm vậy từ sớm, thì bây giờ đã không cần đến Curtis O'Keefe rồi. Tiện thể hỏi một câu, tôi nghĩ chắc cô biết ông ta đã tới đây rồi nhỉ.”
“Anh là người thứ mười bảy nói với tôi chuyện này rồi đấy. Tôi đoán là ngay khi chân ông ta vừa đặt xuống vỉa hè bên ngoài khách sạn, điện thoại đã bắt đầu reo không ngớt rồi.”
“Điều này cũng không có gì lạ. Bây giờ đã có rất nhiều người đoán già đoán non lý do ông ta tới đây. Chính xác hơn là đang đoán xem khi nào mới chính thức công bố lý do ông ta tới đây.”
Christine nói: “Tôi vừa sắp xếp cho Warren một bữa tối riêng tư tối nay tại phòng của ông ấy, mời ông O'Keefe và bạn của ông ta. Anh đã gặp cô ấy chưa? Nghe nói cô ấy có chút đặc biệt.”
Anh lắc đầu: “Tôi quan tâm đến kế hoạch ăn tối của mình hơn – có liên quan đến cô đấy, tôi đến đây chính là vì chuyện này.”
“Nếu là mời tôi tối nay thì tôi rảnh, cũng đang muốn đi cải thiện bữa ăn đây.”
“Tuyệt quá!” Anh nhảy cẫng lên, đứng sừng sững trước mặt cô. “Bảy giờ tôi đến căn hộ của cô đón cô.”
Peter vừa định đi thì thấy trên một cái bàn gần cửa có đặt một tờ “Tin tức Thời đại” đang gấp lại. Anh dừng bước, nhận ra nó giống hệt tờ anh vừa xem – in tiêu đề chữ đen đậm về vụ tai nạn đâm người rồi bỏ chạy. Anh trầm giọng nói: “Tôi nghĩ cô đã xem bài báo này rồi.”
“Đúng, tôi đã xem rồi. Thật kinh khủng, phải không? Khi xem nó, vì đêm qua chúng ta đi ngang qua đó nên tôi cảm thấy đặc biệt khó chịu, cứ như tận mắt chứng kiến toàn bộ sự việc vậy.”
Anh nhìn cô đầy kỳ lạ: “Cô nói vậy thật kỳ lạ. Tôi cũng có cảm giác đó. Nó hành hạ tôi suốt đêm qua, sáng nay lại đến hành hạ tôi lần nữa.”
“Cảm giác như thế nào?”
“Tôi cũng không nói rõ được. Cảm giác gần nhất là – dường như tôi biết điều gì đó, nhưng tôi lại không biết.” Peter nhún vai, không nghĩ đến nó nữa. “Tôi hy vọng đúng như cô nói – đây chỉ là vì chúng ta đi ngang qua đó mà thôi.” Anh đặt tờ báo về chỗ cũ.
Anh vừa sải bước ra ngoài, vừa quay đầu lại vẫy tay mỉm cười với cô.
Christine như thường lệ, gọi nhân viên phục vụ phòng mang một phần sandwich và một tách cà phê đến bàn làm việc để ăn trưa. Khi cô đang ăn thì Warren Trent xuất hiện, ông chỉ ghé qua xem thư từ trước, sau đó mới đi thị sát khắp khách sạn. Christine biết ông đi một vòng quanh khách sạn phải mất mấy tiếng đồng hồ. Nhìn gương mặt căng thẳng của ông chủ khách sạn này, cô thấy mình đang lo lắng cho ông, lại nhìn thấy dáng vẻ đi lại khó khăn của ông, cô biết chắc là dây thần kinh tọa của ông lại đau rồi.
Hai giờ rưỡi, Christine dặn dò vài câu với một thư ký ở văn phòng ngoài rồi đi ra ngoài thăm Albert Wells.
Cô đi thang máy lên tầng mười bốn, khi bước vào hành lang, cô nhìn thấy một người thấp béo đang đi về phía này. Đó là Trưởng phòng Tín dụng Sam Jakubik. Khi ông ta tiến lại gần, cô thấy trong tay ông cầm một mẩu giấy, nét mặt vô cùng u ám.
Nhìn thấy Christine, ông ta dừng lại nói: “Tôi vừa đi thăm người bạn ốm yếu Wells của cô về.”
“Nếu ông cứ mặt ủ mày chau như thế này thì ông sẽ không làm cho ông ấy vui lên được đâu.”
“Nói thật với cô,” Jakubik nói, “ông ta cũng chẳng làm tôi vui nổi. Ông ta đưa cho tôi cái tờ giấy này, trời mới biết nó có ích hay không.”
Christine nhận lấy tờ giấy từ tay Trưởng phòng Tín dụng để xem. Đây là một mẩu giấy ghi chú của khách sạn đã bị vấy bẩn, góc còn có một vết dầu. Trên tờ giấy này, Albert Wells đã nguệch ngoạc ký tên vào tờ séc rút hai trăm đô la từ một ngân hàng ở Montreal.
“Nhìn cái vẻ im lặng đó của ông ta,” Jakubik nói, “ông ta đúng là một lão già cứng đầu không thể cứu chữa. Ban đầu ông ta không chịu đưa cho tôi cái gì cả, còn bảo với tôi là đến lúc ông ta sẽ thanh toán hết. Tôi bảo ông ta nếu cần chúng ta có thể cho ông ta thêm vài ngày, nhưng ông ta chẳng hề quan tâm.”
“Mọi người luôn nhạy cảm với tiền bạc,” Christine nói, “đặc biệt là những người thiếu tiền.”
Trưởng phòng Tín dụng tặc lưỡi thiếu kiên nhẫn: “Mặc kệ ông ta! Hầu hết chúng ta đều thiếu tiền. Tôi cũng thường xuyên thiếu tiền, vốn dĩ chỉ cần họ chịu nói thẳng thắn thì người ta đa phần sẽ giúp họ giải quyết khó khăn. Nhưng mọi người luôn cảm thấy đây là chuyện mất mặt.”
Christine nghi ngờ nhìn tờ séc ngân hàng viết tùy tiện này: “Nó hợp pháp chứ?”
“Chỉ cần trong ngân hàng có tiền để thanh toán thì nó hợp pháp. Nếu cô thích, cô có thể viết séc trên khuông nhạc hay vỏ chuối cũng được. Nhưng hầu hết những người có tiền trong ngân hàng ít nhất bên người đều mang theo sổ séc đã in sẵn. Bạn của cô, Wells, nói ông ta không tìm thấy tờ séc nào như vậy.”
Khi Christine trả lại tờ giấy cho ông, Jakubik nói: “Cô biết tôi nghĩ gì không, tôi nghĩ ông ta trung thực và có số tiền này – chỉ là miễn cưỡng mới gom đủ con số đó, vì gom số tiền này mà sau này ông ta sẽ tự làm khó mình. Vấn đề là khoản nợ của ông ta đã vượt quá một nửa số tiền hai trăm đô la này rồi, hóa đơn y tá tới nơi là lập tức sẽ tiêu hết sạch số tiền còn lại.”
“Ông định làm thế nào?”
Trưởng phòng Tín dụng dùng tay xoa cái đầu hói của mình: “Trước tiên tôi sẽ gọi một cuộc điện thoại đến Montreal hỏi xem đây là tờ séc có tiền thanh toán hay là séc khống.”
“Nếu đây là séc khống thì sao, Sam?”
“Vậy thì ông ta phải rời khỏi khách sạn – ít nhất tôi nghĩ nên làm như vậy. Tất nhiên, nếu cô muốn đi báo với ông Trent, mà ý kiến của ông ấy lại khác” – Jakubik nhún vai – “thì đó lại là chuyện khác.”
Christine lắc đầu: “Tôi không muốn làm phiền Warren đâu. Nhưng trước khi ông hành động, làm ơn hãy báo cho tôi biết một tiếng, tôi sẽ rất cảm kích.”
“Được thôi, cô Francis.” Trưởng phòng Tín dụng gật đầu, rồi sải bước mạnh mẽ đi về phía cuối hành lang.
Một lát sau, Christine đã gõ cửa phòng 1410. Một nữ y tá trung niên mặc đồng phục y tá mở cửa, gương mặt bà ta khá nghiêm nghị, còn đeo một cặp kính gọng sừng bản rộng. Christine báo tên, y tá ra lệnh: “Xin chờ ở đây một lát. Tôi đi hỏi xem ông Wells có gặp cô không.”
Bên trong có tiếng bước chân đi lại, Christine nghe thấy một giọng nói kiên quyết: “Tất nhiên là tôi gặp cô ấy rồi. Đừng để cô ấy chờ lâu.” Cô mỉm cười.
Khi y tá quay ra, Christine đề nghị: “Nếu bà muốn đi đâu đó một lát, tôi có thể chờ bà quay lại rồi mới vào.”
“Ừm...” Người phụ nữ lớn tuổi này do dự một chút, sắc mặt dịu lại.
Giọng nói bên trong vọng ra: “Cô đi đi, cô Francis biết phải làm gì mà. Nếu không có cô ấy đêm qua, có lẽ tôi đã sớm chầu trời rồi.”
“Được thôi,” y tá nói. “Tôi đi mười phút, nếu ông cần gì thì hãy gọi điện đến quán cà phê nhé.”
Christine vừa bước vào, Albert Wells đã nở nụ cười. Lão già thấp bé tựa người vào đống gối ngồi dậy. Ngoại hình của ông – khung xương gầy trơ xương khoác trên mình bộ đồ ngủ kiểu cũ mới thay – vẫn tạo cho người ta ấn tượng về một chú chim sẻ nhỏ, nhưng so với dáng vẻ bệnh tật sắp chết đêm qua thì hôm nay đã là một chú chim sẻ hoạt bát hơn nhiều. Ông vẫn còn rất nhợt nhạt, nhưng sắc xám chết chóc đêm qua đã không còn nữa. Hơi thở của ông dù đôi khi vẫn khò khè, nhưng đã rất đều đặn, cũng rõ ràng là không cần phải tốn quá nhiều sức lực nữa. Ông nói: “Cảm ơn ý tốt của cô, còn đến thăm tôi nữa.”
“Đây không phải là ý tốt gì đâu,” Christine an ủi ông. “Tôi chỉ muốn biết sức khỏe ông thế nào rồi.”
“Cảm ơn cô, tốt hơn nhiều rồi.” Ông chỉ vào cánh cửa mà y tá vừa đóng lại: “Nhưng bà ấy dữ quá, cô y tá đó.”
“Có lẽ bà ấy giúp ích cho ông rất nhiều đấy.” Christine tán thưởng nhìn quanh căn phòng. Mọi thứ trong phòng, bao gồm cả đồ đạc cá nhân của lão già, đều được sắp xếp ngăn nắp. Trên tủ đầu giường đặt một khay thuốc dự phòng. Bình oxy dùng đêm hôm qua vẫn để ở đó, chỉ là chiếc mặt nạ dùng tạm đã được thay bằng loại y tế.
“Ồ, bà ấy làm việc cũng khá tốt,” Albert Wells thừa nhận, “nhưng lần sau tôi muốn một cô xinh đẹp hơn.”
Christine cười: “Ông khỏe hơn nhiều rồi.” Cô thầm nghĩ không biết có nên nhắc đến cuộc trò chuyện với Sam Jakubik lúc nãy không, sau đó quyết định không nhắc tới nữa. Mà đổi giọng hỏi: “Đêm qua ông nói, ông bắt đầu mắc những căn bệnh này khi còn là thợ mỏ, đúng không?”
“Tôi bị viêm phế quản, đúng vậy.”
“Ông Wells, ông làm thợ mỏ lâu lắm sao?”
“Số năm nhiều đến mức tôi không muốn nghĩ tới nó nữa, cô ạ. Nhưng luôn có những chuyện khiến cô nhớ lại nó – viêm phế quản chính là một trong số đó, còn có những thứ này nữa.” Ông xòe hai bàn tay ra, lòng bàn tay ngửa lên đặt trên ga trải giường, cô nhìn thấy trên đó đầy những vết chai sạn thô ráp do lao động chân tay tích tụ bao năm tháng. Cô xúc động đưa tay ra chạm vào chúng: “Tôi nghĩ đây là điều đáng tự hào. Tôi thực sự muốn nghe xem ông đã làm những gì.”
Ông lắc đầu: “Có lẽ đợi sau này khi cô có thời gian và sự kiên nhẫn thì kể sau nhé. Đa phần chỉ là chuyện của mấy lão già thôi; nếu cô cho họ chút cơ hội, mấy lão già sẽ trở nên đáng ghét lắm đấy.”
Christine ngồi xuống chiếc ghế bên giường: “Tôi rất kiên nhẫn, tôi cũng không tin là chuyện này đáng ghét.”
Ông cười khanh khách: “Ở Montreal có vài người không đồng ý với cách nói này đâu.”
“Tôi thường mơ về Montreal. Tôi chưa bao giờ tới đó.”
“Đó là một nơi hỗn loạn – ở một vài khía cạnh thì rất giống New Orleans.”
Cô tò mò hỏi: “Chỉ vì thế mà năm nào ông cũng đến đây sao? Chỉ vì chúng rất giống nhau?”
Lão già thấp bé suy nghĩ, đôi vai gầy guộc của ông chìm sâu vào đống gối: “Tôi chưa bao giờ nghĩ đến điều này, cô ạ – tôi chẳng nghĩ gì cả. Tôi nghĩ tôi đến đây vì tôi thích những thứ kiểu cũ, bây giờ không còn nơi nào có những thứ này nữa. Khách sạn này cũng vậy. Ở nhiều nơi, nó đã bị xóa sạch một vài thứ – cô hiểu ý tôi mà. Nhưng chủ yếu là nó có một cảm giác thân thiết, tôi cho rằng đây là điều tốt nhất. Tôi không thích khách sạn chuỗi. Chúng đều giống nhau – hào nhoáng mà rỗng tuếch, cô vừa ở vào đã như đang sống trong một cái nhà máy vậy.”
Christine do dự một chút, rồi nhận ra dù sao thì chuyện xảy ra hôm nay cũng đã tiết lộ bí mật ban đầu rồi, nên nói với ông: “Tôi muốn báo cho ông một tin mà ông không thích. Tôi sợ rằng chẳng bao lâu nữa St. Gregory sẽ trở thành một khách sạn chuỗi.”
“Nếu là như vậy thì tôi thực sự thấy đáng tiếc,” Albert Wells nói. “Nhưng tôi biết các cô ở đây kinh tế đang gặp khó khăn.”
“Sao ông biết?”
Lão già suy ngẫm: “Hai lần trước tôi tới đây, tôi đã thấy tình hình không ổn rồi. Bây giờ là vấn đề gì – ngân hàng thắt chặt tín dụng, thế chấp đến hạn, đại loại vậy, đúng không?”
Christine nghĩ, người thợ mỏ đã nghỉ hưu này thực sự có nhiều khía cạnh khiến người ta bất ngờ, bao gồm cả bản năng trực giác về sự thật. Cô mỉm cười trả lời: “Có lẽ tôi đã nói quá nhiều rồi. Nhưng chắc chắn ông đã nghe thấy, Curtis O'Keefe sáng nay đã tới rồi.”
“Ồ, không! – Đừng là ông ta.” Trên gương mặt Albert Wells lộ rõ vẻ quan tâm thực sự. “Nếu người đó nhúng tay vào khách sạn này, thì ông ta sẽ biến nó thành giống hệt tất cả những khách sạn khác của ông ta. Giống như tôi nói đấy, nó sẽ biến thành một cái nhà máy. Khách sạn này cần một vài cải cách, nhưng không phải kiểu của ông ta.”
Christine tò mò hỏi: “Cải cách kiểu gì, ông Wells?”
“Một ông chủ khách sạn giỏi sẽ nói hay hơn tôi, mặc dù tôi có vài chủ kiến. Tôi chỉ biết một điều, cô ạ – thường là vậy, con người ta hay chạy theo thời thượng. Hiện tại họ sùng bái sự hào nhoáng rỗng tuếch, muốn bôi lên mọi thứ bằng chrome, muốn cái nào cũng như cái nào. Nhưng rồi sẽ có ngày họ thấy chán, lại lưu luyến những thứ cũ kỹ – cái gọi là đồ cũ chính là bầu không khí thực sự hiếu khách, có chút đặc sắc; thứ này, họ tìm ở năm mươi thành phố khác thì đúng là không thấy, tương lai ở năm mươi thành phố khác nữa cũng không tìm thấy đâu. Vấn đề duy nhất là, đến khi họ hiểu ra thì hầu hết những nơi tốt đẹp – có lẽ bao gồm cả nơi này – đều tiêu tùng hết rồi.” Ông dừng lại một chút, rồi hỏi tiếp: “Khi nào họ đưa ra quyết định?”
“Tôi thực sự không biết,” Christine nói. Tình cảm sâu sắc của lão già thấp bé này khiến cô kinh ngạc. “Chỉ là tôi nghĩ ông O'Keefe sẽ không ở đây lâu đâu.”
Albert Wells gật đầu: “Theo những gì tôi nghe được, ông ta ở đâu cũng không lâu. Việc gì ông ta đã quyết định thì sẽ thực hiện rất nhanh. Chà, tôi vẫn nói đó sẽ là điều đáng tiếc, nếu trở thành sự thật thì tôi sẽ không muốn đến nữa.”
“Chúng tôi sẽ nhớ ông, ông Wells. Ít nhất là tôi – nếu sau khi thay đổi tôi còn có thể ở lại.”
“Cô sẽ ở lại thôi, cô muốn đi đâu thì có thể đi đó, cô ạ. Tuy nhiên, thanh niên nếu có đầu óc thì không muốn làm việc trong khách sạn đâu.”
Cô mỉm cười không trả lời, họ tiếp tục nói chuyện khác cho đến khi nghe thấy tiếng gõ cửa ngắn, liên hồi, y tá quay lại mới dừng. Y tá nghiêm nghị nói: “Cảm ơn cô, cô Francis.” Sau đó, bà cố ý nhìn đồng hồ: “Đến giờ rồi, bệnh nhân của tôi phải uống thuốc và nghỉ ngơi thôi.”
"Tôi phải đi rồi," Christine nói. "Nếu ông không phiền, ngày mai tôi sẽ lại đến thăm ông, ông Wells."
"Nếu cô có thể đến, tôi sẽ rất vui mừng."
Khi cô rời đi, ông ta nháy mắt với cô.
Trên bàn làm việc của cô để lại một mảnh giấy, bảo cô gọi điện cho Sam Jakubik. Cô gọi điện, đích thân trưởng phòng tín dụng bắt máy.
"Tôi nghĩ chắc cô muốn biết chuyện này," ông ta nói. "Tôi đã gọi cho ngân hàng ở Montreal. Có vẻ như bạn của cô không có vấn đề gì."
"Đó là tin tốt, Sam. Họ nói sao?"
"Ừm, chuyện hơi kỳ lạ. Họ không chịu tiết lộ tình trạng tiền gửi - ngân hàng thường là vậy. Họ chỉ bảo cứ mang séc đi đổi tiền. Tôi nói cho họ biết số tiền, họ có vẻ chẳng mảy may bận tâm, nên tôi đoán anh ta có đủ tiền gửi."
"Tôi thật sự rất vui," Christine nói.
"Tôi cũng rất vui, nhưng tôi vẫn phải để mắt đến hóa đơn phòng của vị khách này, đừng để số tiền vượt quá mức cho phép."
"Anh đúng là một con chó canh nhà tuyệt vời, Sam." Cô bật cười. "Cảm ơn anh đã gọi điện."