(Bảy) Trước năm 1978, Trung Quốc là một nền kinh tế đóng cửa tự thủ.
Tháng 8 năm 1978, Bộ Cơ khí thứ nhất – cơ quan quản lý ngành công nghiệp ô tô – đã gửi điện mời tới các doanh nghiệp danh tiếng như General Motors, Ford của Mỹ; Toyota, Nissan của Nhật Bản; Renault, Citroën của Pháp; Mercedes-Benz, Volkswagen của Đức, hy vọng họ có thể đến khảo sát thị trường Trung Quốc. Rất nhanh sau đó, phản hồi đã được gửi về: Công ty Toyota bận rộn từ chối khéo vì đang đàm phán dự án 300.000 xe ô tô với Đài Loan; công ty Mercedes-Benz kiêu ngạo thì tuyên bố không thể chuyển giao công nghệ; ngoài ra, các công ty khác đều bày tỏ sự quan tâm.
Đơn vị đầu tiên đến là công ty General Motors của Mỹ. Ngày 21 tháng 10, General Motors cử một đoàn đại biểu lớn do Thomas Murphy dẫn đầu đến đàm phán về các dự án xe du lịch và xe tải hạng nặng. Lý Lam Thanh, người sau này đảm nhiệm chức Phó Thủ tướng, đã tiếp đón họ. Trong cuộc đàm phán này, Murphy lần đầu tiên đưa ra khái niệm "liên doanh" (joint venture). Ông nói: "Tại sao các ông chỉ đàm phán với chúng tôi về nhập khẩu công nghệ mà không bàn về kinh doanh liên doanh (joint venture)?"
Sau này, Lý Lam Thanh hồi tưởng lại với phóng viên Đài Truyền hình Trung ương, mặc dù nhân viên phía Trung Quốc biết một chút tiếng Anh, hiểu "joint" là "cùng nhau hoặc cùng gánh vác", "venture" là "rủi ro", ghép lại có vẻ là "cùng gánh vác rủi ro", nhưng thực chất họ không hiểu rõ ý nghĩa chính xác của nó. Vì vậy, Murphy đã để một vị quản lý dưới quyền giải thích chi tiết cho phía Trung Quốc về ý nghĩa của "joint venture": tức là hai bên cùng đầu tư, "hợp tác kinh doanh" doanh nghiệp. Vị quản lý này còn giới thiệu về lợi ích của doanh nghiệp liên doanh, cách thức vận hành, cũng như kinh nghiệm của họ khi thiết lập doanh nghiệp liên doanh tại Nam Tư.
Sau khi vị quản lý này giới thiệu xong, Murphy nói thêm: "Nói một cách đơn giản, liên doanh chính là gom ví tiền của chúng ta lại với nhau, cùng nhau mở một doanh nghiệp, lời cùng hưởng, lỗ cùng chịu, đây là một phương thức hợp tác đôi bên cùng có lợi. Nếu nói một cách bình dân hơn, liên doanh giống như 'kết hôn', cùng xây dựng một 'gia đình' chung vậy."
Sau khi nghe những lời giới thiệu này, Lý Lam Thanh cảm thấy mới mẻ và thú vị. Sau buổi họp, ông lập tức soạn thảo nội dung đàm phán thành bản báo cáo ngắn, trình lên Quốc vụ viện và Bộ Chính trị Trung ương. Đặng Tiểu Bình phê duyệt: "Liên doanh cũng có thể bàn."①
Có được sự phê duyệt của Đặng công, tiến độ đàm phán giữa Bộ Cơ khí thứ nhất (sau đây gọi là "Bộ Cơ khí") và General Motors lập tức được đẩy nhanh. Tháng 3 năm sau, Bộ Cơ khí cử đoàn sang Mỹ đàm phán về việc liên doanh. Nhưng bất ngờ thay, Hội đồng quản trị của General Motors cuối cùng lại bác bỏ đề nghị liên doanh của Chủ tịch Murphy, bước chân của General Motors vào Trung Quốc dừng lại đột ngột. Công ty ô tô lớn nhất thế giới này phải đợi gần 20 năm sau, vào năm 1997, mới đặt được cọc móng đầu tiên tại Thượng Hải. Trong khi đó, Volkswagen của Đức đã kiếm được bộn tiền tại Trung Quốc, doanh số hàng năm của Volkswagen đạt tới 500.000 chiếc.
Gần như cùng lúc Hội đồng quản trị General Motors nói "không" với Trung Quốc, một nhóm chuyên gia ô tô Đức đã khảo sát Thượng Hải, họ bắt đầu đàm phán với các nhà lãnh đạo Thượng Hải về dự án liên doanh Volkswagen. Cuộc đàm phán này kéo dài suốt mười năm. Điểm kiên trì duy nhất của phía Trung Quốc trong đàm phán là: Volkswagen bắt buộc phải nội địa hóa. Lúc bấy giờ, trong đoàn người theo công ty Volkswagen đến Trung Quốc có một phóng viên tờ tạp chí "Der Spiegel" của Đức. Sau khi quan sát các xưởng sản xuất lạc hậu như xưởng thủ công ở Trung Quốc, anh ta mỉa mai nói: "Volkswagen sẽ sản xuất trên một hòn đảo cô độc, và ở đây gần như không có bất kỳ nhà cung cấp linh kiện nào. Những chiếc ròng rọc, ghế dài, búa cao su trong xưởng của Trung Quốc đều là phương thức sản xuất từ thời ông nội tôi." Lúc đó, gần như mỗi người Đức đến hiện trường khảo sát đều không tin rằng ngành sản xuất ô tô Thượng Hải có thể thay đổi cục diện lạc hậu như vậy trong thời gian ngắn. Họ phát hiện ra, ở Trung Quốc không tìm nổi một doanh nghiệp sản xuất linh kiện nào có thể cung ứng cho xe Santana, thậm chí không có một dây chuyền sản xuất nào không cần cải tạo. Những thứ có thể tận dụng chỉ có lốp xe, radio, còi, ăng-ten ngoài xe và bảng hiệu nhỏ, mà ngay cả khi cộng tất cả những thứ vụn vặt đó lại cũng chỉ chiếm 2,7% tổng lượng linh kiện.
Mặc dù có những lời than phiền và lo ngại, nhưng sự nhiệt tình của Trung Quốc trong việc tiếp nhận thế giới và thế giới tiến vào Trung Quốc lại ngày càng nóng lên.
Năm đó, mọi thứ dường như đã thuận nước đẩy thuyền: Đội ngũ lãnh đạo lấy Đặng Tiểu Bình làm hạt nhân đã giành được quyền lãnh đạo quản lý đất nước; tại Đại hội Khoa học sau đó đã xác định chủ đề chính là xây dựng hiện đại hóa; trong cuộc "Thảo luận về tiêu chuẩn chân lý" vào tháng 5, một phong trào giải phóng tư tưởng đã được khởi động, tư tưởng cải cách giành được quyền chủ đạo; chuyến thăm Nhật Bản và hàng loạt cuộc đàm phán về vốn nước ngoài đã khiến cánh cửa quốc gia nặng nề dần dần mở ra; tháng 11, Thành ủy Bắc Kinh tuyên bố "Sự kiện Thiên An Môn" năm 1976 là một hành động cách mạng, các nhà cách mạng và quần chúng bị bức hại trong thời kỳ "Cách mạng Văn hóa" nhận được lời hứa sẽ sớm được minh oan. Cứ như vậy, sự thay đổi diễn ra mỗi ngày, tương lai của Trung Quốc dường như ngày càng rõ ràng. Vào ngày 18 đến 22 tháng 12 cuối năm, một trong những hội nghị quan trọng nhất trong lịch sử đương đại Trung Quốc – Hội nghị Trung ương 3 khóa XI Đảng Cộng sản Trung Quốc đã được tổ chức.
Chủ đề duy nhất của hội nghị này là "chuyển trọng tâm công tác của toàn Đảng sang xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa". Liên quan đến điều này, Hội nghị quyết định ngừng sử dụng các khẩu hiệu "lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh" và "tiếp tục cách mạng dưới chuyên chính vô sản", tái lập đường lối tổ chức của Đảng, phản đối tuyên truyền cá nhân, xem xét và giải quyết hàng loạt vụ án oan sai trong lịch sử cùng những vấn đề đúng sai về công lao của một số nhà lãnh đạo quan trọng. Đây chắc chắn là một hội nghị mang tính biểu tượng sâu sắc, nó có nghĩa là kể từ đây, "đời sống chính trị" không còn là phương thức sinh tồn chủ yếu của người dân Trung Quốc nữa. Trung Quốc đã quay trở lại sân khấu lớn của hòa bình và cạnh tranh thế giới, quốc gia phương Đông từng trải qua trăm năm biến động này sẽ tiến tới tương lai xa hơn bằng cách phát triển kinh tế. Do đó, mặc dù hai năm trước, "Bè lũ bốn tên" thực thi đường lối cực tả đã bị đánh đổ, nhưng phải đến ngày này hai năm sau, Trung Quốc mới thực sự bước vào kỷ nguyên "Cải cách mở cửa".①
Hai ngày sau khi hội nghị kết thúc, một công trình mang tính biểu tượng đã khởi công tại Thượng Hải. Ngày 24 tháng 12, Công ty Bảo Cương – đơn vị sau này trở thành trụ cột của ngành thép Trung Quốc – đã đặt viên đá nền móng đầu tiên trên một bãi biển ở vùng ngoại ô phía Bắc Thượng Hải. Quốc vụ viện phê duyệt báo cáo của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Ủy ban Xây dựng và các bộ ngành khác, quyết định nhập khẩu thiết bị trọn bộ từ Nhật Bản, xây dựng một nhà máy thép quy mô lớn tại Bảo Sơn, Thượng Hải với sản lượng hàng năm 6,5 triệu tấn gang và 6,7 triệu tấn thép, tổng vốn đầu tư 21,4 tỷ nhân dân tệ, trong đó có 4,8 tỷ USD ngoại hối, vốn đầu tư trong nước là 7 tỷ nhân dân tệ. Truyền thông định vị Bảo Cương là "căn cứ thép quy mô lớn kiểu mới, hiện đại hóa đầu tiên của nước ta", rõ ràng nó đại diện cho biện pháp lớn nhất của Chính phủ Trung Quốc trong năm đó về phát triển kinh tế và thu hút vốn nước ngoài, kỳ vọng của cả nước đối với dự án này có thể thấy rõ.
Năm 1978 thực sự là một quá khứ xa xôi và mơ hồ. Năm đó, Mỹ ban hành "Luật Cải cách Phá sản", trước đó, ngay cả nền kinh tế lớn nhất thế giới này cũng chưa hình thành sự giải thích pháp luật có hệ thống về phá sản doanh nghiệp (Trung Quốc sẽ có doanh nghiệp phá sản đầu tiên sau 5 năm nữa). Năm đó, công ty Microsoft vĩ đại mới chỉ tròn hai tuổi, Bill Gates quyết định tự trả lương cho mình, ông lấy hết can đảm nói với đối tác: "Lương năm nay của tôi tuyệt đối không được quá thấp, nó phải là 16.000 USD". Năm đó, vị chủ tịch huyền thoại của Ford là Iacocca bị Henry Ford sa thải vì ghen tị, ở tuổi 54, ông chuyển sang nhận lời mời của công ty Chrysler đang trên bờ vực phá sản, sáu năm sau ông đã tạo ra kỳ tích biến lỗ thành lãi, nâng lợi nhuận hàng năm của công ty lên con số gây sốc 2,4 tỷ USD, ông trở thành người hùng nước Mỹ, và cũng là một trong những thần tượng đầu tiên mà các doanh nhân Trung Quốc ngưỡng mộ. Năm đó tại Chicago, Mỹ, hệ thống thông tin liên lạc di động đầu tiên trên thế giới lặng lẽ ra đời, nhiều người không lạc quan về công nghệ mới này, không ai ngờ rằng đây chính là khởi đầu của kỷ nguyên thông tin toàn cầu hóa.
"Nếu năm 1978, chúng ta hiểu rõ khoảng cách giữa Trung Quốc và thế giới lại xa đến mức đó, tôi không biết chúng ta còn đủ dũng khí để đuổi theo hay không." Sau này từng có người thận trọng kiểm chứng như vậy.
Quả thực, bạn sẽ phát hiện ra, ngay từ đầu, Trung Quốc và thế giới dường như sống trong hai không gian thời gian hoàn toàn không liên quan, họ có cấu trúc kinh tế, phương thức tư duy, hệ thống ngôn ngữ và mạch phát triển hoàn toàn khác biệt, muốn tìm ra điểm chung giữa hai bên thật là khó khăn. Nhưng dần dần, bạn sẽ phát hiện ra chúng bắt đầu xuất hiện sự tiếp cận kỳ diệu, rồi lại tiếp cận, nhiều năm sau, chúng cuối cùng đã thực sự hòa làm một, khó lòng phân biệt.
Tối ngày 26 tháng 12 năm 1978, đêm Giáng sinh của phương Tây – Trung Quốc phải mất khoảng 15 năm sau mới bắt đầu có người coi ngày này là lễ hội. Đợt học giả lưu học đầu tiên gồm 50 người sang Mỹ đã rời Bắc Kinh bằng máy bay trong màn đêm, người trẻ nhất 32 tuổi, lớn nhất 49 tuổi, thời hạn học tập là hai năm. Phó Thủ tướng Quốc vụ viện Phương Nghị đặc biệt tiếp kiến họ trước khi lên đường, Chủ tịch Hiệp hội Khoa học Quốc gia Chu Bồi Nguyên và Thứ trưởng Bộ Giáo dục Lý Kỳ đích thân đến sân bay tiễn họ lên máy bay.
Đây là một sự khởi đầu. Theo tờ "The Observer" của Anh tiết lộ, Trung Quốc đã yêu cầu trong năm tới gửi 500 lưu học sinh sang Canada, Anh, Pháp, Đức và Nhật Bản mỗi nước, còn Mỹ thì hy vọng tiếp nhận 5.000 người. "The Observer" nói: "Những người trẻ tuổi này không chỉ tiếp xúc đầy đủ với tiếng Anh, mà còn tiếp xúc với mọi thứ trong thể chế dân chủ, từ món cá chiên cho đến những bình luận chính trị có từ ngữ thô tục. Họ sẽ sớm nhận ra rằng Hugo và Dickens đã chết từ lâu, và viễn cảnh nước Anh thê thảm mà họ luôn bị nhồi sọ có lẽ cần phải vẽ lại. Mà tất cả những điều này, đối với họ, và đối với một Trung Quốc vừa mở cửa quốc gia, có ý nghĩa gì?"
Rõ ràng, đây là một sự khởi đầu thực sự.
"Liên kết"
"Cục diện Trung Quốc trước năm 1978 có lẽ là tình trạng tồi tệ nhất." Giáo sư tài chính Trần Chí Vũ của Đại học Yale, Mỹ đã bình luận như vậy, theo một nghĩa nào đó, đây là sự đồng thuận của giới kinh tế học.
Trung Quốc trước năm 1978 là mô hình tăng trưởng kinh tế kế hoạch vô cùng thuần túy. Khoảng năm 1952, Trung Quốc tiến hành một cuộc thanh lọc triệt để đối với tư bản tư nhân, tất cả doanh nghiệp tư nhân trong giai đoạn này đều được thu hồi làm quốc hữu. Sau đó cho đến năm 1978, tất cả doanh nghiệp trên lãnh thổ Trung Quốc đều là doanh nghiệp quốc doanh hoặc sở hữu tập thể. Mọi sản xuất và phân phối vật tư đều do nhà nước điều tiết. Các cuộc họp kế hoạch hàng năm thời đó phải họp mất mấy tháng. Chu Chi Hâm, người từng giữ chức Cục trưởng Cục Kinh tế Tổng hợp thuộc Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, hồi tưởng: "Lúc đó làm kế hoạch có thể nói giống như đại hội la mã, rất dữ dội. Ví dụ như một mỏ than, tôi khai thác bao nhiêu than, cần bao nhiêu gỗ chống hầm lò phải báo cáo lên. Gỗ chống hầm lò tính sao? Tôi lại phải đến bộ lâm nghiệp xem họ có bao nhiêu gỗ, thu hoạch được bao nhiêu có thể phân bổ cho ngành than, sau đó lại chạy đến bộ đường sắt để vận chuyển, cứ làm kế hoạch như thế đấy." Rõ ràng, đây là một hệ sinh thái kế hoạch rất chặt chẽ, nó vận hành trong một hệ thống tập trung cao độ, đóng cửa toàn diện. Doanh nghiệp cả nước giống như từng phân xưởng, Thủ tướng Quốc vụ viện tương đương với giám đốc nhà máy, Ủy ban Kế hoạch thì là một phòng điều độ, kế hoạch gọi món, tài chính cấp vốn, ngân hàng đếm tiền, trông có vẻ vô cùng trật tự. Thế nhưng, sự bài xích và coi thường hiệu quả của nền kinh tế kế hoạch này đã là điều không cần phải tranh luận nữa.
Bố cục công nghiệp của cả nước lấy công nghiệp nặng làm ưu tiên tuyệt đối. Trong giai đoạn 1953~1979, hệ số dẫn đầu của tăng trưởng công nghiệp nặng so với công nghiệp nhẹ đạt 1,47, thậm chí có giai đoạn lên tới 6,00. Vì mục tiêu chính trị và nhu cầu chiến lược sinh tồn quốc gia, công nghiệp quân sự được đặt vào vị trí ưu tiên hàng đầu, thép, dầu mỏ và các ngành công nghiệp nặng khác được phối hợp theo đó. Do đó, sản phẩm của công nghiệp nặng không chảy vào vòng tuần hoàn tái sản xuất mở rộng của nền kinh tế quốc dân như các thể chế kinh tế bình thường, điều này trực tiếp dẫn đến sự thiếu hụt nghiêm trọng công nghiệp nhẹ và các nhu yếu phẩm sinh hoạt quốc dân. Người dân mua lương thực, nhu yếu phẩm đều cần dựa vào các loại phiếu cung ứng hạn chế.
Ngoài ra, bố cục doanh nghiệp cả nước cũng rất bất hợp lý. Để tránh bị động trong chiến tranh, các doanh nghiệp công nghiệp không được đặt ở các vùng ven biển có ưu thế địa lý kinh tế, mà áp dụng chiến lược đặt ở nội địa, tức là hậu phương lớn. Do các doanh nghiệp công nghiệp quan trọng đều được đặt ở vùng núi có chi phí vận chuyển cao, không tính đến tính hợp lý kinh tế mà phân tán ở các khu vực rộng lớn, dẫn đến mất đi ưu thế quy mô, khiến hiệu quả kinh tế cực kỳ thấp kém.
Về hệ thống tài chính, Trung Quốc trước năm 1978 chỉ có một ngân hàng duy nhất, không có công ty bảo hiểm và bất kỳ doanh nghiệp tài chính nào khác. Tổng số tiền gửi của doanh nghiệp quốc doanh và tiền gửi tài chính là 108,99 tỷ nhân dân tệ, chiếm 83,8% tổng số tiền gửi ngân hàng. Nhà nước là chủ thể tiết kiệm, cũng là chủ thể đầu tư, do đó không cần trung gian tài chính. Đầu tư tài sản cố định quốc doanh chủ yếu đến từ cấp vốn tài chính, vốn vay ngân hàng chủ yếu dùng làm vốn lưu động.
Trước năm 1978, Trung Quốc là một nền kinh tế đóng cửa tự thủ, về cơ bản "cách biệt" với hệ thống kinh tế thế giới. Đoàn tàu kinh tế tập trung cao độ sau khi vận hành hơn 20 năm, cuối cùng vào cuối thập niên 70 đã rơi vào vũng lầy chưa từng có. Từ năm 1958 đến 1978, trong 20 năm, thu nhập bình quân đầu người của cư dân thành thị Trung Quốc tăng chưa đầy 4 nhân dân tệ, nông dân thì chưa đầy 2,6 nhân dân tệ, vật tư toàn xã hội thiếu hụt toàn diện, sức sống doanh nghiệp hoàn toàn không tồn tại.
(Còn tiếp)