Ba Mươi Năm Sôi Động – Doanh Nghiệp Trung Quốc 1978–2008

Lượt đọc: 940 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1990 Chợt nóng chợt lạnh (3)

❊ ❊ ❊

Chủ doanh nghiệp tư nhân "nương nhờ" tập thể hương trấn

Trong giai đoạn đó, các doanh nghiệp hương trấn thường bị gọi đùa là "nền kinh tế thời tiết", nghĩa là sự tăng trưởng của chúng biến động theo độ nới lỏng hay thắt chặt của chính sách. Một sự thật khác liên quan đến vấn đề này là sự trỗi dậy của các công ty dân doanh đã trở thành một thực trạng không thể phớt lờ. Tại Quảng Đông cùng khu vực Giang Tô, Chiết Giang, các doanh nghiệp hương trấn đã chiếm lĩnh vị thế dẫn đầu thị trường trong nhiều ngành nghề (đặc biệt là ngành linh kiện điện tử). Nhà máy vạn hướng tiết của Lỗ Quán Cầu ở Tiêu Sơn sản xuất loại vạn hướng tiết chiếm tới 50% thị phần toàn quốc; máy lưu trữ dữ liệu của Nhà máy máy tính điện tử Trương Gia Cảng, cuộn lái tia của Nhà máy linh kiện truyền hình Thường Thục, đèn tín hiệu đường sắt của Nhà máy bóng đèn liên hợp Thượng Hải, v.v., đều trở thành những nhà vô địch trong ngành trên phạm vi cả nước. Những doanh nghiệp này xuất phát từ một ngành nghề chuyên môn cao, dần dần phát triển thành những công ty hiện đại quy mô lớn. Cũng từ năm này, khi thống kê tăng trưởng công nghiệp toàn quốc, Tổng cục Thống kê Quốc gia đã đưa các doanh nghiệp công nghiệp do hương trấn điều hành vào danh mục, áp dụng khái niệm "tổng giá trị sản lượng công nghiệp cấp hương trở lên". Các chuyên gia thống kê thừa nhận rằng, công nghiệp hương trấn chiếm khoảng 1/3 nền công nghiệp cả nước, trong khi trước đó, những doanh nghiệp này gần như "không tồn tại" trong các dữ liệu thống kê của nhà nước. Nhiều nhà kinh tế học Âu Mỹ khi nghiên cứu về các công ty Trung Quốc thường bị bối rối bởi những con số kịch tính đầu thập niên 90. Thực tế, sự "tăng vọt" về số lượng và giá trị sản lượng của các doanh nghiệp hương trấn quanh những năm đó chủ yếu là do phương pháp thống kê tạo ra. Năm 1990, tăng trưởng công nghiệp toàn quốc là 6%, việc đưa các doanh nghiệp hương trấn vào thống kê đã đóng góp ít nhất ba điểm phần trăm.

Trong một buổi tọa đàm vào tháng 10, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Trần Diệu Bang thừa nhận: "Tệ nạn trong ngành đã khiến các doanh nghiệp hương trấn chịu tổn thất. Chẳng hạn, một số cơ quan nhân danh chỉnh đốn đã thu phí bừa bãi, phân bổ chỉ tiêu tùy tiện và phạt tiền vô căn cứ đối với doanh nghiệp. Có những đơn vị lấy lý do quản lý ngành, cấp giấy phép sản xuất, đánh giá sản phẩm hay cung ứng vật tư giá bình ổn để rút tỉa, điều chuyển ngang tài sản hoặc thay đổi quan hệ trực thuộc của doanh nghiệp hương trấn."

Lời phát biểu của Trần Diệu Bang mới chỉ nêu ra một phần sự thật. Trong một thời gian dài trước đó, luôn tồn tại một hiện tượng: một số chủ doanh nghiệp tư nhân vì muốn tự bảo vệ và nhận được sự hỗ trợ về chính sách nên đã "nương nhờ" (treo biển) vào các tập thể hương trấn, hằng năm nộp một khoản phí quản lý nhất định, còn việc xử lý tài sản còn lại thì hoàn toàn tự chủ. Họ bị gọi là "doanh nghiệp treo biển kinh doanh", "doanh nghiệp mũ đỏ" hoặc "doanh nghiệp tập thể giả". Nguyên nhân "nương nhờ" chủ yếu có ba: Về chính trị - để tránh bị phân biệt đối xử và các đợt chỉnh đốn định kỳ; về kinh tế - để hưởng một số chính sách ưu đãi dành cho doanh nghiệp tập thể, hợp pháp hóa việc tiếp cận nguyên liệu; về vận hành - trong giai đoạn đầu, doanh nghiệp tư nhân không nhận được sự tin tưởng từ người tiêu dùng và các đơn vị giao dịch kinh tế. Trong một thời gian dài, sự tồn tại của nhóm doanh nghiệp này đã gây ra sự nhầm lẫn cho các cơ quan thống kê và điều tra, khiến người ta không thể tính toán chính xác tình trạng thực tế của doanh nghiệp tư nhân.

Sau năm 1989, cùng với tình hình vĩ mô căng thẳng và sự chỉnh đốn nghiêm khắc của chính phủ đối với doanh nghiệp tư nhân, "làn sóng nương nhờ" này đột ngột nóng lên. Những trường hợp như Vương Đình Giang ở Sơn Đông hay Tưởng Tích Bồi ở Giang Tô, đem hiến tặng tài sản của mình cho tập thể, rốt cuộc chỉ là hiện tượng hy hữu. Phần lớn các chủ doanh nghiệp tư nhân chọn phương án thỏa hiệp là "mũ đỏ". Hàng trăm nghìn chủ doanh nghiệp tư nhân lũ lượt treo biển hoặc quy thuộc về dưới trướng các doanh nghiệp quốc doanh, tập thể. Theo thống kê, tại khu vực Sán Đầu, Quảng Đông, số lượng doanh nghiệp loại này lên tới 15.000 đơn vị, chiếm khoảng 60% số lượng doanh nghiệp tập thể đăng ký. Sau giữa năm 1990, chính phủ và truyền thông đột ngột chú ý đến hiện tượng này và tiến hành điều tra sâu rộng. Phóng viên Mã Lập Quần của tờ "Nhật báo Kinh tế" trong một bài điều tra đã nhận định: "Hiện tượng tập thể giả là hành vi tránh hại tìm lợi của doanh nghiệp tư nhân, không có gì lạ. Tuy nhiên, vì hiện tượng này gây tổn hại đến lợi ích quốc gia nên không thể không khiến chúng ta quan tâm. Sự tồn tại số lượng lớn những doanh nghiệp này, nhìn bề ngoài tưởng như làm lớn mạnh kinh tế tập thể, nhưng thực ra hoàn toàn sai lầm. Những chính sách ưu đãi về thuế và tín dụng mà các doanh nghiệp này được hưởng đã gây thiệt hại cho ngân sách quốc gia. Ở một số nơi, doanh nghiệp tập thể giả chiếm tới 80% số doanh nghiệp tập thể đăng ký. Nếu tiến hành thanh lọc, ngân sách nhà nước chắc chắn sẽ có sự gia tăng đáng kể." Quan điểm của Mã Lập Quần đại diện cho lập trường của một bộ phận lớn các nhà quan sát và quan chức chính phủ thời bấy giờ. Rất nhanh sau đó, dưới sự giám sát của các cơ quan liên quan thuộc Quốc vụ viện, các địa phương bắt đầu công tác thanh lọc "doanh nghiệp mũ đỏ" - tức các doanh nghiệp tập thể giả.

Công tác thanh lọc này kéo dài suốt bốn năm. Trong quá trình thực thi, đã nảy sinh những tình huống phức tạp đan xen. Đối với các cơ quan chính phủ, họ đương nhiên muốn thanh lọc những doanh nghiệp "vỏ công ruột tư" này để không đặt nhầm "giỏ", trao nhầm đối tượng cho các chính sách ưu đãi. Còn đối với một số chủ tư nhân từng treo biển, tâm trạng lại vô cùng phức tạp: một mặt họ vẫn muốn đội "mũ đỏ" để tiếp tục hưởng ưu đãi, mặt khác lại hy vọng thông qua việc minh bạch hóa thân phận để khôi phục lại quyền sở hữu tài sản vốn có, tránh hậu họa về sau. Đặc biệt là những "doanh nghiệp mũ đỏ" đã có quy mô nhất định, việc "tháo mũ" thực ra lại có lợi hơn cho sự phát triển tương lai của họ. Một hiện tượng kín kẽ hơn là trong quá trình thanh lọc, một số "doanh nghiệp tập thể thật" cũng lẳng lặng chen vào, người điều hành dùng đủ mọi cách để "chứng minh" doanh nghiệp mình thuộc dạng "mũ đỏ", rồi thuận lý thành chương sáp nhập nó làm của riêng. Không có số liệu nào cho thấy trong bốn năm thanh lọc, rốt cuộc có bao nhiêu doanh nghiệp "mũ đỏ" thật giả đã hoàn tất việc minh bạch quyền sở hữu. Tuy nhiên, sau năm 1992, số lượng doanh nghiệp tư nhân ở các địa phương tăng vọt; điều này vừa là "hiệu ứng Nam tuần", vừa là kết quả của việc hàng loạt doanh nghiệp tư nhân "tháo mũ".

Cùng với sự xuất hiện của "doanh nghiệp mũ đỏ", một sự kiện doanh nghiệp khác cũng diễn ra, đó là sự phổ biến của một mô hình doanh nghiệp hoàn toàn mới tại vùng Chiết Nam và Đồng bằng sông Châu Giang: doanh nghiệp chế độ hợp tác cổ phần.

Doanh nghiệp chế độ hợp tác cổ phần lại là sáng tạo của người Ôn Châu, những người vốn tinh thông biến hóa và giỏi "đi vòng đèn đỏ". Theo ghi chép, doanh nghiệp chế độ hợp tác cổ phần đầu tiên là Nhà máy giày leo núi Âu Hải ở ngoại ô Ôn Châu. Nó được thành lập vào tháng 5 năm 1985 bởi 26 nông dân góp vốn 72.000 tệ. Những nông dân này vừa là cổ đông, vừa là nhân viên, nên được gọi là "hợp tác cổ phần", một loại "kinh tế tập thể kiểu mới". Tuy nhiên, một khi chế độ hợp tác này phát triển đến quy mô lớn thì không thể chịu nổi sự soi xét, vì không thể bắt tất cả công nhân tuyển dụng sau này đều trở thành cổ đông. Đến năm 1988, những cán bộ Ôn Châu thông minh lại tìm ra một mô hình quyền sở hữu có sức thuyết phục hơn. Tháng 8 năm đó, huyện Thương Nam đã làm thí điểm tại một doanh nghiệp nhỏ tên là Nhà máy bia Kiều Đôn Môn, thiết kế ra "Điều lệ doanh nghiệp hợp tác cổ phần". Điểm tinh tế của điều lệ này nằm ở chỗ, nó quy định "15% tài sản doanh nghiệp là quỹ tích lũy công cộng không thể phân chia thuộc sở hữu tập thể của toàn thể người lao động". "Sự tồn tại độc lập này là một trong những dấu hiệu quan trọng để phân biệt doanh nghiệp hợp tác cổ phần với doanh nghiệp tư nhân hợp tác và là bộ phận cấu thành của kinh tế tập thể". Chính nhờ có một phần tích lũy công cộng, doanh nghiệp hợp tác cổ phần được mặc nhiên xếp vào phạm vi kinh tế tập thể. Thiết kế cổ phần doanh nghiệp kiểu này là độc nhất vô nhị trên thế giới, có thể coi là một sự đổi mới táo bạo của phái cải cách cấp cơ sở khi đối mặt với vùng cấm quyền sở hữu. Nó bị coi là một kiểu "kinh tế không ra lừa không ra ngựa", nhưng lại có thể tự biện hộ về mặt lý luận. Một doanh nghiệp tư nhân muốn "cải tạo" thành doanh nghiệp hợp tác cổ phần cũng rất thuận tiện: chỉ cần tuyên bố 15% tài sản của doanh nghiệp mình là "quỹ tích lũy công cộng của toàn thể người lao động" là xong.

Mô hình doanh nghiệp kiểu mới này của Ôn Châu rất được lòng các lý luận gia phái cải cách. Khi doanh nghiệp tư nhân bị quấy nhiễu bởi một số luồng tư tưởng, chế độ hợp tác cổ phần đã trở thành một mô hình chuyển đổi lý tưởng và là "hầm trú ẩn". Tháng 2 năm 1990, Bộ Nông nghiệp ban hành lệnh số 14, công bố "Quy định tạm thời về doanh nghiệp hợp tác cổ phần nông dân", kèm theo "Điều lệ mẫu doanh nghiệp hợp tác cổ phần nông dân", với bản gốc chính là điều lệ của Nhà máy bia Kiều Đôn Môn. Dưới sự dẫn dắt của Bộ Nông nghiệp, các địa phương ven biển thi nhau quảng bá chế độ hợp tác cổ phần, nhiều doanh nghiệp tập thể cũng nhân cơ hội này tiến hành cải tạo quyền sở hữu. Do tình hình mỗi nơi mỗi khác, cái "đuôi công hữu" 15% đó cũng có nơi dày nơi mỏng, có nơi chỉ 10%, có nơi lên tới 50%. Dù sao đi nữa, sự thử nghiệm mô hình này đã cắt giảm bớt sự thanh trừng không hồi kết đối với doanh nghiệp tư nhân của một số người, đồng thời giúp doanh nghiệp hoàn thành một phần việc minh bạch quyền sở hữu tài sản.

Đây chính là một sự thật diễn ra quanh năm 1990: chính phủ vì mục đích chỉnh đốn vĩ mô và bảo vệ kinh tế tập thể đã phát động cuộc thanh lọc "doanh nghiệp tập thể giả", gián tiếp thúc đẩy sự ra đời của một mô hình doanh nghiệp hợp tác cổ phần mới, cuối cùng vô tình biến thành phong trào minh bạch quyền sở hữu doanh nghiệp quy mô lớn đầu tiên kể từ khi Trung Quốc cải cách mở cửa. Nhiều công ty tư nhân ở vùng Giang Chiết và Đồng bằng sông Châu Giang đã phát triển dưới danh nghĩa hợp tác cổ phần trong một thời gian dài. Sau khi chính sách dần nới lỏng, họ lại dùng đủ mọi thủ đoạn để cắt bỏ cái "đuôi" chỉ tồn tại trên danh nghĩa đó, khôi phục lại tính chất quyền sở hữu vốn có của mình.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ngô Hiểu Ba