Nếu như câu chuyện "đổi lon lấy máy bay" của Mục Kỳ Trung ngay từ đầu đã trở nên nổi tiếng, thì gần như cùng thời điểm đó, các thủ đoạn thao túng vốn của một người khác lại tỏ ra kín tiếng hơn nhiều. Trên thực tế, người đàn ông gốc An Huy có cái tên đầy bí ẩn này, rất có thể là doanh nhân Trung Quốc đầu tiên thực sự nắm vững luật chơi của tư bản hiện đại.
Nhiều năm sau, người ta vẫn không biết nhiều về lai lịch của Dưỡng Dung. Tương truyền ông tên thật là Dưỡng Dũng, là tiến sĩ kinh tế học tốt nghiệp Đại học Tài chính Tây Nam. Phóng viên từng phỏng vấn ông mô tả: "Dưỡng Dung là người có tư tưởng bay bổng, khi ngồi cùng ông ấy, bạn luôn bị dẫn dắt và rất khó giữ nhịp độ của chính mình. So với các doanh nhân khác, ông ấy có vẻ ngông cuồng hơn. Nếu Dưỡng Dung chỉ còn 20 vạn trong tay và ngày mai phải trả sạch nợ, thì hôm nay ông ấy vẫn có thể mời bạn một bữa cơm trị giá 10 vạn với vẻ mặt tỉnh bơ". Dưỡng Dung từng đọc thuộc lòng một danh ngôn của Shakespeare cho người khác nghe: "Sự thăng trầm của thế giới vốn dĩ như những con sóng, nếu con người biết tận dụng thủy triều để tiến lên thì chắc chắn sẽ thành công rực rỡ; nếu không nắm bắt được thời cơ thì cả đời sẽ lận đận, chẳng làm nên trò trống gì". Trong hơn mười năm sau đó, ông quả thực đã làm đúng như vậy. Năm 1989, nhờ sự coi trọng của nhà giáo dục tài chính nổi tiếng kiêm Bí thư Đảng ủy Học viện Tài chính Trung Quốc - Hứa Văn Thông, Dưỡng Dung đến Hồng Kông sáng lập Công ty Tài chính Hoa Bác, với nguồn vốn ban đầu do Hải Nam Hoa Ngân, nơi Hứa Văn Thông làm chủ tịch, cung cấp.
Người ở Hồng Kông nhưng lòng hướng về nội địa, Dưỡng Dung hiểu rõ rằng sự cải cách tư bản của các doanh nghiệp nhà nước sẽ mang lại không gian lợi nhuận khổng lồ. Kim Bôi Ô tô Thẩm Dương là doanh nghiệp nhà nước lớn đầu tiên ở vùng Đông Bắc thử nghiệm cải cách chế độ cổ phần. Năm 1988, công ty này phát hành 100 triệu cổ phiếu ra trong và ngoài nước, nhưng sau một năm vẫn chẳng mấy ai đoái hoài. Công ty từng dán thông báo bán cổ phiếu ngay tại khuôn viên Ủy ban Cải cách Thể chế Nhà nước, nhưng ròng rã cả ngày trời cũng chỉ bán được 27.000 tệ. Đúng lúc này, Dưỡng Dung tìm đến đàm phán. Ngày 22 tháng 7 năm 1991, Dưỡng Dung dùng 12 triệu USD mua lại 40% cổ phần của Kim Bôi Ô tô. Sau đó, ông sắp xếp một cuộc hoán đổi cổ phiếu then chốt để nâng tỷ lệ nắm giữ lên 51%, trở thành cổ đông kiểm soát tuyệt đối của công ty. Để làm việc này, Dưỡng Dung đã đặc biệt thành lập một công ty dự án tại hòn đảo Bermuda trên Thái Bình Dương - Công ty Cổ phần Hoa Thần Trung Quốc, công ty này do Hoa Bác nắm giữ 100% cổ phần. Lúc này, Dưỡng Dung cũng âm thầm hoàn tất việc cải tổ vốn cho Hoa Bác, cấu trúc cổ phần chuyển thành Dưỡng Dung chiếm 70%, một cá nhân khác chiếm 30%, người đại diện theo pháp luật vẫn là Dưỡng Dung. Theo tiết lộ của tờ "Tin tức Kinh tế Thế kỷ 21" năm 2003, có hồ sơ cho thấy Dưỡng Dung là người đứng sau vạch kế hoạch cho Hoa Thần thâu tóm Kim Bôi Thẩm Dương, còn toàn bộ tiền mặt đầu tư đều đến từ Hải Nam Hoa Ngân do Hứa Văn Thông nắm quyền. Tuy nhiên, bản thân Dưỡng Dung khi trả lời phỏng vấn Đài truyền hình Phượng Hoàng năm 2003 lại khẳng định rằng số vốn ông đầu tư vào Kim Bôi, một phần là vay của anh trai Dưỡng Cáo, phần còn lại là từ việc đầu cơ chứng khoán tại Thượng Hải.
Sau khi hoàn tất chuỗi vận dụng vốn đầy khéo léo này, Dưỡng Dung với tư chất thông minh và tầm nhìn rộng mở bắt đầu lên kế hoạch niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán New York. Khi đó, Trung Quốc vẫn chưa thành lập Ủy ban Điều tiết Chứng khoán, mọi hoạt động của Dưỡng Dung đều không có tiền lệ để noi theo. Để công ty niêm yết có một thân phận hợp pháp và hợp lý hơn, Dưỡng Dung dự định thành lập "Quỹ Giáo dục Tài chính Trung Quốc" phi lợi nhuận. Những người khởi xướng gồm bốn đơn vị: Vụ Giáo dục Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, Hoa Thần Holdings, Học viện Tài chính Trung Quốc và Hải Nam Hoa Ngân, với số vốn đăng ký 2,1 triệu USD, trong đó 2 triệu USD do Hoa Thần Holdings chi trả. Cứ như vậy, Dưỡng Dung khoác lên mình chiếc "mũ đỏ" danh giá với sự hậu thuẫn của đông đảo nguồn vốn nhà nước mang tính độc quyền. Chính điều này đã giúp vị kiêu hùng tư bản này hưởng lợi trước nhưng cũng gặp họa về sau. Tháng 10 năm 1992, "Hoa Thần Trung Quốc" niêm yết thành công tại New York, huy động được 72 triệu USD. Đây là trường hợp doanh nghiệp Trung Quốc niêm yết ở nước ngoài đầu tiên. Đối với Sở Giao dịch Chứng khoán New York, đây cũng là cổ phiếu chính thức đầu tiên đến từ một quốc gia xã hội chủ nghĩa. Nó đã gây chấn động thị trường chứng khoán Mỹ thời bấy giờ.
Loạt thao tác vốn của Dưỡng Dung vào khoảng năm 1991 đã thể hiện sự lão luyện: dùng số vốn nhỏ để kiểm soát các doanh nghiệp nhà nước có chất lượng tài sản tốt nhưng đang tạm thời lâm vào khó khăn, thành lập "công ty vỏ bọc" tại thiên đường thuế, rồi niêm yết ở nước ngoài bằng khái niệm "cổ phiếu Trung Quốc" để rút tiền mặt. So với một Mục Kỳ Trung thích phô trương, sự tinh tế, khéo léo và tính quốc tế hóa của Dưỡng Dung còn vượt trội hơn hẳn. Điểm chung của cả hai là họ đều vô tình phát hiện ra cơ hội trong quá trình suy yếu của hệ thống kế hoạch hóa, đều cố gắng dùng thủ đoạn sắc bén để "lấy hạt dẻ trong lửa", vơ vét của cải. Trong một thời gian dài sau đó, đây sẽ trở thành mảnh đất màu mỡ cho sự trỗi dậy và sụp đổ của vô số nhân tài thương mại.
Ngay khi Mục Kỳ Trung, Dưỡng Dung và những người khác bắt đầu làm mưa làm gió, tại vùng Giang Chiết nơi tư tưởng cải cách khá tiến bộ, đã xuất hiện sự kiện sáp nhập vượt quyền sở hữu. Nhà máy thực phẩm trẻ em Hàng Châu Oa Ha Ha do Tông Khánh Hậu sáng lập ba năm trước hiện đã trở thành doanh nghiệp sản xuất dung dịch dinh dưỡng trẻ em lớn nhất cả nước. Là một nhà máy do trường học cấp quận quản lý, Oa Ha Ha luôn phải chật vật trong một xưởng sản xuất nằm ở tòa nhà ba tầng, hoàn toàn không có chỗ để mở rộng. Tháng 11, dưới sự điều phối của chính quyền thành phố Hàng Châu, Tông Khánh Hậu đã sáp nhập Nhà máy Đồ hộp Hàng Châu - doanh nghiệp đồ hộp lớn thứ tư cả nước đang trên bờ vực phá sản. Trên truyền thông Hoa Đông, tin tức này được gọi là "cá nhỏ nuốt cá lớn". Sau khi sáp nhập, Tông Khánh Hậu nhanh chóng nhập dây chuyền sản xuất, tung ra sản phẩm sữa trái cây Oa Ha Ha. Chỉ trong 100 ngày, nhà máy đồ hộp đã khôi phục sản xuất bình thường và chuyển lỗ thành lãi.
Tại Duy Phường, Sơn Đông, một vị thị trưởng trẻ tuổi mới nhậm chức còn tiến xa hơn thế.
Vị thị trưởng năm nay 35 tuổi tên là Trần Quang. Đầu năm, ông từ Bí thư Đoàn Thanh niên thành phố Duy Phường được điều chuyển làm thị trưởng Chư Thành - một thành phố cấp huyện thuộc Duy Phường. Chuyến khảo sát đầu tiên sau khi nhậm chức đã khiến ông bàng hoàng: trong tổng số 150 doanh nghiệp nhà nước hạch toán độc lập của thành phố, có 103 doanh nghiệp lỗ công khai hoặc lỗ ngầm. Nguyên nhân là do "quan hệ sở hữu doanh nghiệp không rõ ràng, quan hệ lợi ích không trực tiếp". Trần Quang tìm thấy một câu trong văn kiện trung ương mới công bố: "Một số doanh nghiệp nhỏ nhà nước có thể cho thuê hoặc bán cho tập thể hoặc cá nhân kinh doanh". Từ đó, ông quyết định bán sạch những doanh nghiệp này.
Doanh nghiệp đầu tiên được chọn làm thí điểm là Nhà máy Động cơ Chư Thành với tổng tài sản 2,7 triệu tệ và 277 công nhân. Phương án cải cách ban đầu chính quyền thành phố đưa ra là nhà nước nắm giữ 51% cổ phần, công nhân mua đứt 49%. Nhưng Trần Quang đề nghị nếu đã cải cách thì công nhân phải mua đứt toàn bộ. Phương án cuối cùng được quyết định là 9 lãnh đạo nhà máy mỗi người bỏ ra 4 vạn tệ, hơn 20 cán bộ cấp trung mỗi người bỏ 2 vạn tệ, công nhân bình thường mỗi người bỏ 6.000 tệ. Cuộc cải cách này kéo dài hơn một năm. Trong buổi lễ thành lập công ty mới, Trần Quang nói: "Mười năm cải cách, cải đi cải lại doanh nghiệp vẫn nằm trong vòng tay của chính phủ. Từ hôm nay trở đi, quan hệ giữa hai nhà chúng ta đã thay đổi: trở thành bạn đăng ký, tôi ghi danh; bạn làm ra tiền, tôi thu thuế; bạn phát tài, tôi vui mừng; bạn làm trái pháp luật, tôi xử lý; bạn phá sản, tôi cảm thông". Trong hơn hai năm sau đó, thông qua bảy hình thức như chế độ cổ phần, chế độ hợp tác cổ phần, chuyển nhượng quyền sở hữu miễn phí, phá sản..., Trần Quang đã bán toàn bộ 272 doanh nghiệp nhà nước hoặc tập thể từ cấp thị trấn trở lên cho cá nhân. Vì vậy, Trần Quang nhận được biệt danh - "Trần Bán Sạch".
Sự táo bạo của "Trần Bán Sạch" đương nhiên dẫn đến sự công kích từ một số người. Phó Thủ tướng Quốc vụ viện Chu Dung Cơ, người phụ trách công tác kinh tế, đã cử đoàn điều tra liên ngành do Phó Chủ nhiệm Ủy ban Cải cách Thể chế Nhà nước Hồng Hổ làm trưởng đoàn đến Chư Thành khảo sát. Kết luận cuối cùng là: Việc khám phá cải cách doanh nghiệp cấp huyện gặp nhiều trở ngại, khó khăn, nhưng thành phố Chư Thành đạt được thành quả trong hoàn cảnh như vậy là rất đáng quý, đã tạo ra kinh nghiệm cho việc "giải phóng các doanh nghiệp nhỏ nhà nước". Sau này, năm 1997, Trần Quang được điều chuyển làm Phó Bí thư Địa ủy, Thường vụ Phó đặc phái viên Hà Trạch, Sơn Đông. Nơi đó lại là một vùng trọng điểm lỗ vốn của các doanh nghiệp nhà nước, tỷ lệ lỗ của các doanh nghiệp công nghiệp từ cấp huyện trở lên lên tới 90%. Trần Quang vẫn giữ phong cách "Tiên đồng ban phát tài lộc", doanh nghiệp nào bán được thì bán sạch, doanh nghiệp nào không ai mua thì "tặng" cho các doanh nghiệp mạnh. Năm 2002, thành phố Hà Trạch đã giảm tỷ lệ lỗ xuống còn 12% bằng cái giá số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm mạnh. Trần Quang vì thế có thêm biệt danh mới là "Đặc phái viên Tam Quang" - "Trần Quang, Trần Bán Sạch, Trần Tặng Sạch".
Trong lịch sử doanh nghiệp, Trần Quang được gọi là "vị quan chức số một" trong cải cách chế độ sở hữu doanh nghiệp nhà nước. Cải cách doanh nghiệp nhà nước bắt đầu từ đầu những năm 80 thế kỷ 20 vẫn chủ yếu tập trung vào việc cải thiện mối quan hệ giữa các cơ quan chính phủ và doanh nghiệp. Từ cải cách phân quyền đến chế độ thầu khoán, chính quyền các địa phương và người điều hành đã thử nghiệm vô số mô hình và phương pháp cải cách, nhưng chưa bao giờ chạm đến thay đổi chế độ sở hữu - thứ cốt tử và nhạy cảm nhất. Quan hệ sở hữu doanh nghiệp vẫn không rõ ràng. Theo lời Trần Quang, đó là "công nhân làm chủ mà không có quyền, giám đốc có quyền mà không thực thi, doanh nghiệp lãi lỗ không chịu trách nhiệm". Mãi đến khoảng năm 1991, sau khi trăm phương ngàn kế đều vô hiệu và chính phủ không còn khả năng gánh vác toàn bộ, các doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ ở địa phương cuối cùng đã bị bỏ rơi, trong khi đó các doanh nghiệp tư nhân cũng đã có đủ năng lực và nhu cầu mua lại. Cách làm của Trần Quang ở Chư Thành không phải là duy nhất ở Trung Quốc lúc bấy giờ, chỉ vì cách "bán sạch" của ông quá chấn động nên mới gây ra nhiều sự chú ý đến vậy.
Một năm sau khi Trần Quang làm cho Chư Thành "đảo lộn thiên hạ", một người Hoa gốc Indonesia tên là Hoàng Hoành Niên đã đến Trung Quốc. Với thân phận là con trai của "tỷ phú thứ hai Indonesia", ông ta đã hớt đi một bát lớn từ nồi lẩu cải cách doanh nghiệp nhà nước.
Khoảng năm 1991, các ngành công nghiệp công nghệ cao trên toàn cầu cũng như Trung Quốc đều đang đứng trước đêm trước của một sự đột biến.
Khi đó, Thung lũng Silicon của Mỹ đang bao trùm một bầu không khí bất an: trên thị trường máy tính xách tay toàn nước Mỹ, sản phẩm của các công ty Nhật Bản chiếm tới 43% thị phần, trong khi máy tính xách tay là bộ phận tăng trưởng nhanh nhất trong ngành phần cứng máy tính. Điều khiến Thung lũng Silicon tuyệt vọng là Nhật Bản đã kiểm soát việc sản xuất DRAM (bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên động) trên toàn thế giới. Tháng 2, Giáo sư Charles Ferguson của Viện Công nghệ Massachusetts đã thực hiện một thí nghiệm khiến người Mỹ rất nản lòng: ông tháo một chiếc máy tính xách tay Compaq ra và thấy rõ ràng bên trong là màn hình, hệ thống quản lý năng lượng và công nghệ thu nhỏ do Nhật Bản sản xuất. Từ sự trống rỗng bên trong các phần cứng này, Ferguson bày tỏ nỗi lo ngại tột độ về sự yếu kém chiến lược của các công ty máy tính Mỹ.
Cũng vào tháng 7 năm đó, Andrew S. Rappaport và S. Halevi đã đăng bài "Công ty máy tính không sản xuất máy tính" trên tờ "Harvard Business Review". Rappaport và Halevi khẳng định ngay từ đầu: "Sự suy giảm năng lực cạnh tranh này là không chắc chắn, nhưng nỗi sợ hãi này là không nên có". Và những dự đoán sau đó của họ nhìn lại sau mười năm gần như chính là sự thật: "Đến năm 2000, những công ty máy tính thành công nhất sẽ không phải là những công ty sản xuất máy tính, mà là những công ty mua máy tính. Những người dẫn đầu này sẽ tận dụng tối đa phần cứng giá rẻ, hiệu suất cao để tạo ra và cung cấp các ứng dụng mới".
Họ chỉ ra một cách sắc bén rằng, việc Mỹ giảm thị phần sản xuất "là tin tốt cho nhiều công ty máy tính hàng đầu - nếu họ quên đi quá khứ và định vị lại chiến lược công nghệ, sản xuất và tiếp thị để đón nhận thực tế mới. Mục tiêu chiến lược của các công ty máy tính Mỹ không nên là sản xuất máy tính, mà là tạo ra giá trị vĩnh cửu trong máy tính".
Quan điểm của Rappaport và Halevi đã ảnh hưởng đến xu hướng của ngành IT Mỹ. Ba điểm đầu tư mới mà họ đề xuất cuối cùng đã tạo ra 3 công ty máy tính thành công nhất nước Mỹ: phát triển phần mềm - Microsoft; tích hợp hệ thống - IBM; tiếp thị - Dell. 1991 chính là năm mang tính bước ngoặt như vậy, những người có tầm nhìn xa đã tái phát hiện ra thế giới.
Cũng trong một năm này, công ty Texas Instruments (TI) của Mỹ đã chủ động tìm đến "vị thần kinh doanh Đài Loan" Vương Vĩnh Khánh của Tập đoàn Nhựa Formosa để đàm phán hợp tác phát triển chất bán dẫn. Khi đó Vương Vĩnh Khánh đang ở đỉnh cao sự nghiệp, ông đã từ chối đề nghị dự án của Texas Instruments, phía đối tác đành phải chuyển sang hợp tác với Acer. Thi Chấn Vinh đã nắm bắt cơ hội này, nhanh chóng thành lập Công ty Chất bán dẫn Đức Kỳ. Năm 1995, dưới sự thuyết phục quyết liệt của con trai cả Vương Văn Dương, Vương Vĩnh Khánh mới miễn cưỡng đồng ý sáng lập Nam Á Khoa Kỹ để sản xuất nguyên liệu thượng nguồn chất bán dẫn là tấm silicon. Sau này Nam Á Khoa Kỹ trở thành trụ cột công nghiệp quan trọng của Tập đoàn Nhựa Formosa. Vương Văn Dương tiếc nuối nói rằng Tập đoàn Nhựa Formosa đã gia nhập ngành chất bán dẫn muộn mất sáu năm. Sáu năm này đã thành tựu nên thế hệ tinh anh thương mại tiếp theo của Đài Loan: Thi Chấn Vinh và Acer, Quách Đài Minh và Foxconn.
Hưởng ứng sự thay đổi ngành công nghiệp toàn cầu, những công ty Trung Quốc đại lục đầu tiên phát triển trên thị trường cũng lần đầu tiên đối mặt với áp lực cạnh tranh toàn cầu hóa.
Trên thị trường máy tính lúc bấy giờ, Lenovo không nghi ngờ gì là ngôi sao chói sáng nhất, trở thành hình mẫu cho các công ty Trung Quốc "vươn ra thế giới". Liễu Truyền Chí sau này tính toán: "Khoảng năm 1990, Lenovo bán máy tính loại 386 vào thị trường nội địa với giá 33.900 tệ, sau khi trừ chiết khấu của nhà nhập khẩu, thuế quan và chi phí tiếp thị, vẫn còn 24% lợi nhuận ròng". Ai cũng tính được sự bạo lợi của ngành này. Liễu Truyền Chí có tầm nhìn xa đã lấy danh nghĩa "vươn ra thế giới" đến Hồng Kông mở công ty thương mại, sau đó đá đối tác AST ra, tung ra dòng máy tính cá nhân Lenovo tự chủ để bán ngược lại thị trường nội địa, tự nhiên là hốt bạc mỏi tay.
Tuy nhiên, đến mùa xuân năm 1991, tình hình đột ngột thay đổi. Các công ty máy tính quốc tế đồng loạt giảm giá, giá chip vi tính toàn cầu thay đổi theo từng ngày. Lenovo với lực lượng nòng cốt là nhập khẩu lắp ráp đương nhiên chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, giá trị hàng tồn kho chip trong kho của công ty đã giảm tới 70%. [Phó Chủ tịch Lenovo Lý Cần hồi tưởng lại rằng, lúc đó giá nguyên liệu thượng nguồn ngành IT và giá thị trường của sản phẩm thay đổi theo từng ngày, trong khi chu kỳ quyết toán tài chính của Lenovo cần 15~30 ngày, hơn nữa dữ liệu còn không chính xác. Điều này có nghĩa là tình hình kinh doanh của tháng này và số lượng tồn kho sản phẩm, vật liệu phải đến tháng sau mới biết được, việc kinh doanh và ra quyết định chỉ có thể dựa vào cảm giác của nhà quản lý. Lý Cần nói: "Chúng tôi đang quản lý công ty một cách mù quáng". Khoảng năm 1998, Lenovo mới đưa hệ thống quản lý ERP vào, tình hình mới có sự thay đổi căn bản.]
Trên các tờ báo trong nước không lâu trước đó, các phóng viên nhận thấy "Liễu Truyền Chí 45 tuổi trông có vẻ rất mệt mỏi". Đến lúc này, ông đã vội vã như con ếch trong nước sôi. Chỉ trong vòng 3 tháng, Lenovo Hồng Kông lỗ hơn 50 triệu tệ. Liễu Truyền Chí bay sang Hồng Kông trực tiếp chỉ đạo, ông quyết định bất chấp mọi ảnh hưởng dư luận, rút dây chuyền lắp ráp từ Hồng Kông về Thâm Quyến, sa thải toàn bộ hơn 100 công nhân của Lenovo Hồng Kông, đồng thời cắt giảm quy mô lớn chi phí hành chính và tiếp thị của công ty. Ngoài ra, ông quay lại kinh doanh đại lý, bán máy in, máy vẽ và máy quét của các thương hiệu đa quốc gia tại thị trường trong nước. Nhờ đa phương tác chiến, cuối cùng đến cuối năm cũng vượt qua khó khăn. Liễu Truyền Chí làm việc lao tâm khổ tứ đã đưa Lenovo ra khỏi vũng lầy, nhưng cơ thể lại bị đánh gục. Một ngày nọ đang cười nói, ông đột nhiên chóng mặt hoa mắt, ngã gục xuống, khi tỉnh dậy đã nằm trong bệnh viện, bác sĩ tuyên bố ông mắc bệnh Meniere nghiêm trọng.
Sự thể hiện của Lenovo trong cơn bão đen tối này có thể coi là thất bại đầu tiên của các công ty kiểu mới Trung Quốc khi tấn công thị trường toàn cầu. Trong gần 10 năm sau đó, Liễu Truyền Chí nhiều lần tuyên bố "thị trường Trung Quốc là thị trường quốc tế lớn nhất", cho đến năm 2005, Lenovo không còn như xưa nữa đã mua lại bộ phận PC của IBM trong tiếng tranh cãi.
Nếu mùa hè đen tối mà Liễu Truyền Chí gặp phải là một cuộc chiến thương mại quốc tế xảy ra ngay trước cửa nhà, thì trên thị trường châu Âu và Mỹ rộng lớn hơn, cuộc chiến nhắm vào hàng hóa Trung Quốc cũng đã bắt đầu. Đúng như tờ "The Economist" đã bình luận từ năm 1979, hàng hóa Trung Quốc giá rẻ mà chất lượng hơi thô sơ sẽ thể hiện năng lực cạnh tranh mạnh mẽ của nó, lời tiên đoán này đã trở thành sự thật vào khoảng năm 1991.
Ngày 21 tháng 1, Cộng đồng châu Âu (tháng 11 năm 1993 chính thức đổi tên thành EU) sau hai năm điều tra đã tuyên bố áp thuế chống bán phá giá tạm thời đối với tivi màu màn hình nhỏ của Trung Quốc. Theo dữ liệu của Cộng đồng châu Âu, năm 1985, châu Âu nhập khẩu 55.000 chiếc tivi màu màn hình nhỏ từ Trung Quốc, đến năm 1988 đã tăng vọt lên 1,25 triệu chiếc, chiếm 16,9% thị phần. Để cạnh tranh với hàng Trung Quốc giá rẻ, các nhà sản xuất châu Âu buộc phải giảm giá 30%. Do đó, Ủy ban Cộng đồng châu Âu xác định tivi màu Trung Quốc bán phá giá, cần áp thuế chống bán phá giá từ 15% - 20%. Tin tức này đối với các doanh nghiệp Trung Quốc vừa mới nếm trải vị ngọt của sản xuất quy mô lớn mà nói, không nghi ngờ gì là một đòn giáng mạnh.
Tại Mỹ, Washington vẫn tranh luận về việc có nên gia hạn quy chế tối huệ quốc cho Trung Quốc hay không. Đến tháng 7 năm đó, thặng dư thương mại của Trung Quốc với Mỹ đã leo thang lên 9 tỷ USD, chỉ đứng sau Nhật Bản, trở thành quốc gia có thặng dư thương mại lớn thứ hai. Tờ "BusinessWeek" tiết lộ, Hải quan Mỹ đã tổ chức 300 đại lý khai báo hải quan và chuyên gia thương mại đang thực hiện một cuộc điều tra quy mô chưa từng có, liên quan đến hơn 20 công ty Trung Quốc đang giao thương với Mỹ. Văn phòng Kiểm tra Mỹ tại New York đang chuẩn bị đưa ra tới 100 cáo buộc đối với các công ty Trung Quốc này, bao gồm gian lận thương mại và rửa tiền. Trung tâm điều tra hải quan cáo buộc Trung Quốc lừa dối chính phủ Mỹ về giá trị hàng hóa vận chuyển, một số công ty Trung Quốc còn báo thiếu dữ liệu bán hàng tại thị trường Mỹ. Các sản phẩm liên quan bao gồm một số loại vải và quần áo may sẵn. Tờ "BusinessWeek" cho rằng: "Có một điều chắc chắn: đó là cơ quan hải quan luôn nhắm nòng súng vào ngành dệt may Trung Quốc, đây là ngành xuất khẩu thu ngoại tệ lớn thứ hai của Trung Quốc". [Theo nghiên cứu của Dương Sĩ Huy, từ năm 1979 đến 1989, số vụ chống bán phá giá từ nước ngoài đối với Trung Quốc là 65 vụ, thấp nhất là 2 vụ vào các năm 1979, 1980, 1981 và 1997, cao nhất là 11 vụ vào năm 1988; từ năm 1990 đến 1998, số vụ chống bán phá giá là 275 vụ, thấp nhất là 19 vụ vào năm 1990 và 1995, cao nhất là 42 vụ vào năm 1994.]
Một sự thật đáng ghi nhận khác là, ngay khi châu Âu và Mỹ liên tiếp phát động chống bán phá giá đối với Trung Quốc - đây là lần đầu tiên châu Âu và Mỹ liên thủ phát động chống bán phá giá quy mô lớn đối với Trung Quốc - các hành vi bán phá giá của các công ty đa quốc gia tại Trung Quốc lại tăng tốc. Lấy ngành vật liệu cảm quang làm ví dụ, hãng Kodak của Mỹ và Fuji của Nhật đã áp dụng chiến lược bán phá giá giá rẻ tại thị trường Trung Quốc. Phim màu Fuji tại thị trường nội địa Nhật có giá từ 600~800 yên/cuộn, tại thị trường châu Âu là 6~8 USD/cuộn, nhưng giá cập cảng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc là 7,15 nhân dân tệ, chỉ bằng 13% giá bán nội địa Nhật. Dưới sự tấn công của chiến lược giá rẻ, các doanh nghiệp vật liệu cảm quang bản địa Trung Quốc ngày càng co cụm. Công ty Thân Quang Thượng Hải trong "bốn doanh nghiệp phim ảnh nhà nước lớn" đã phá sản, Công ty Công Nguyên và Phúc Đạt có tỷ lệ hoạt động dưới 5%, đến giữa thập niên 90 lần lượt bị hãng Kodak kiểm soát liên doanh. Thị phần của doanh nghiệp lớn nhất ngành là Công ty Phim ảnh Nhạc Khải Hà Bắc cũng giảm dần qua từng năm, luôn lẩn quẩn bên bờ vực lãi lỗ. Trong các ngành khác như vật liệu xây dựng mới, sản phẩm tẩy rửa, thực phẩm đồ uống, các doanh nghiệp trong nước đều dần mất thị trường do sự cạnh tranh giá rẻ của các công ty đa quốc gia.
Mặc dù ngày càng nhiều công ty nước ngoài bắt đầu tiến vào Trung Quốc, theo cách nói của tờ "The New York Times": "Các công ty máy tính đặt văn phòng tại Bắc Kinh chẳng khác nào danh mục các công ty máy tính toàn cầu", nhưng Trung Quốc vẫn cảm thấy tốc độ của họ quá chậm. Những quan chức địa phương có tầm nhìn xa đã nhận ra rằng, muốn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khu vực, dựa vào các doanh nghiệp nhà nước trì trệ và cứng nhắc về thể chế là điều không thể, còn dựa vào các doanh nghiệp tư nhân mới lớn thì quy mô quá nhỏ, không thấm vào đâu. Vì vậy, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đầu tư của các công ty đa quốc gia, là con đường nhanh nhất. Tháng 5, thành phố Thiên Tân tuyên bố mở "khu bảo thuế", rất nhiều nơi thành lập "khu phát triển kinh tế", thực hiện chính sách ưu đãi "ba miễn hai giảm một nửa" đối với các doanh nghiệp vốn nước ngoài. Trong tất cả các khu vực, đồng bằng sông Châu Giang vẫn là viên ngọc sáng nhất.
Tờ "BusinessWeek" viết với giọng điệu ngưỡng mộ:
"Thâm Quyến trẻ trung và thịnh vượng gần như có thể sánh ngang với Hồng Kông. Các thương nhân địa phương vội vã đi lại với điện thoại di động và máy nhắn tin trên tay. Dân số Thâm Quyến đã phát triển từ 5 vạn người năm 1980 lên 1,7 triệu người ngày nay. Hàng ngàn hàng vạn người đổ xô đến từ các vùng khác của Trung Quốc để tìm kiếm cơ hội việc làm hậu hĩnh. Giá trị sản xuất công nghiệp của Thâm Quyến đã tăng vọt từ 11 triệu USD lên 3,8 tỷ USD, trong đó 80% là xuất khẩu và vẫn đang tăng trưởng với tốc độ 40% mỗi năm. McDonald's đã mở chi nhánh đầu tiên tại Trung Quốc ở đây, nhiều người ở đây dùng đô la Hồng Kông thay vì nhân dân tệ để mua Big Mac."
Tại Quảng Châu, thủ phủ của tỉnh Quảng Đông, đối diện ga tàu hỏa dựng lên những tấm biển quảng cáo khổng lồ. Trên đó không còn là những câu trích dẫn của Chủ tịch Mao, mà thay vào đó là quảng cáo cho dầu gội Head & Shoulders, quần bò Jeanswest và đồ uống 7-Up. Trên đại lộ tự do của Quảng Châu, xe buýt, taxi và xe máy chen chúc chật cứng. Trong các cửa hàng, người ta có thể tùy ý mua bút Parker, máy nghe nhạc CD Sony và búp bê Barbie. Kể từ năm ngoái, những cô nàng Avon mới vào nghề đã bắt đầu mang theo mỹ phẩm đi gõ cửa từng nhà để tiếp thị sản phẩm—đây là lần đầu tiên hình thức bán hàng trực tiếp xuất hiện tại Trung Quốc kể từ năm 1949.
"Mỗi buổi chiều tối, đài cassette, thuốc lá Marlboro và nhiều mặt hàng khác lại được vận chuyển từ Hồng Kông đến bờ biển Quảng Châu. Chúng có hợp pháp không? Có lẽ là không, nhưng chẳng ai bận tâm đến điều đó. Mỗi tháng, hàng trăm chiếc xe hơi cao cấp được lén lút vận chuyển đến Quảng Châu. Trong đó, những loại được ưa chuộng nhất là: Mercedes-Benz, BMW và Toyota."
Những mô tả của tạp chí "BusinessWeek" cho thấy một Trung Quốc đang khôi phục sự tự tin và sức sống thương mại, một Trung Quốc đầy bận rộn và xáo động. Đúng như lời phóng viên đã viết ở cuối bài báo: "Quảng Đông là một tấm gương, những nơi khác của Trung Quốc cũng sẽ dần thay đổi. Nó buộc phải thay đổi, bởi vì ai cũng muốn có được một cuộc sống chất lượng cao. Mỹ (hay bất cứ ai khác) có thể đẩy nhanh hoặc làm chậm quá trình này, nhưng không thể ngăn cản nó." Chẳng bao lâu sau, vị lão nhân từng nắm giữ kim chỉ nam cho công cuộc cải cách Trung Quốc suốt hơn mười năm qua cũng đã đặt chân đến nơi này, ông sẽ một lần nữa khiến ngọn lửa cải cách bùng cháy dữ dội.