Ba Mươi Năm Sôi Động – Doanh Nghiệp Trung Quốc 1978–2008

Lượt đọc: 940 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1986 Sức mạnh của sự trắng tay (2)

❊ ❊ ❊

Tại những vùng nông thôn đó, không có nền tảng công nghiệp hóa, không có nguyên liệu thô, không có kỹ thuật, không có công nhân lành nghề, thậm chí đến cả kênh phân phối cũng chẳng có. Vậy những người nông dân "trắng tay" này làm thế nào để chiếm lĩnh thị trường và đánh bại các doanh nghiệp quốc doanh được trang bị tận răng (ít nhất là có thiết bị, có công nhân và còn được chính sách nhà nước hỗ trợ)? Câu trả lời duy nhất có thể là: mọi yếu tố sản xuất của họ đều được "vay mượn" từ doanh nghiệp quốc doanh. Rất nhiều thiết bị của họ là đồ cũ mà các xí nghiệp quốc doanh thải loại; kỹ thuật của họ là do các kỹ sư ở thành phố lén lút về nông thôn truyền dạy vào cuối tuần; công nhân của họ không ít người đã từng được đào tạo bài bản tại các nhà máy quốc doanh; còn thị trường của họ thường là những mảng mà doanh nghiệp quốc doanh coi thường không thèm làm.

Đây chính là trạng thái "khởi nguyên". Thứ duy nhất mà các doanh nghiệp hương trấn có thể dựa vào chính là việc những người nông dân khởi nghiệp này yêu quý doanh nghiệp của mình hơn là các giám đốc nhà máy ở thành phố; họ coi đây là "sự nghiệp" của chính mình. Đến năm 1986, cục diện này đã phát triển vô cùng rõ nét. So với sự trỗi dậy mạnh mẽ của những người như Lỗ Quán Cầu, sự cạnh tranh yếu ớt trên thị trường của doanh nghiệp quốc doanh đã dần trở thành một sự thật khó lòng đảo ngược. Trên các mặt báo năm đó, từ xuất hiện thường xuyên nhất chính là "liên doanh". Những kẻ "chân lấm tay bùn" từ ngoài thành phố ùa vào đô thị, họ mua lại các máy móc thiết bị nhàn rỗi trong các nhà máy quốc doanh với giá cực rẻ. Những cỗ máy này được chuyển vào các phân xưởng xây dựng tạm bợ, chưa kịp trát vữa, ngày đêm ầm ầm hoạt động. Trái lại, những nhà máy quốc doanh được nhà nước hỗ trợ vay vốn thì đang ồ ạt mua sắm thiết bị nước ngoài hiện đại.

Ngày càng nhiều kỹ sư chấp nhận sự thuê mướn riêng tư của các giám đốc nông dân, cứ đến cuối tuần lại lái chiếc ô tô đỗ trước cửa nhà, cuộn bản vẽ rồi về nông thôn làm việc. Cách thức phổ biến hơn cả là các doanh nghiệp hương trấn đạt được thỏa thuận liên doanh với doanh nghiệp quốc doanh, nhờ đó dùng một số vốn nhỏ để có được sự hỗ trợ kỹ thuật từ phía đối tác, cũng như sử dụng các thương hiệu nổi tiếng đã được gây dựng suốt nhiều năm. Ở vùng Giang Chiết từng lưu truyền một câu chuyện về "kỹ sư chủ nhật". Năm 1986, tại huyện Tiêu Sơn, tỉnh Chiết Giang, một nông dân tên là Từ Truyền Hóa đã mở một nhà máy hóa chất sản xuất xà phòng lỏng. Ông mời một chuyên gia kỹ thuật từ nhà máy quốc doanh lớn ở Hàng Châu về. Vị chuyên gia này thường yêu cầu cha con ông Từ lánh đi vào công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất, rồi tự mình lấy từ trong túi ra một gói bột trắng đổ vào mẻ xà phòng lỏng chưa đông đặc, hoàn tất quy trình sản xuất trong mấy cái vại lớn. Sau vài năm trả phí dịch vụ kỹ thuật, Từ Truyền Hóa quyết định bỏ ra 2.000 tệ để mua lại công thức bí ẩn đó. Sau khi nhận tiền, người kỹ thuật viên nói với ông rằng: gói bột trắng đó thực chất chỉ là muối. Tập đoàn Truyền Hóa về sau đã trở thành một trong những doanh nghiệp sản xuất chất trợ nhuộm lớn nhất Trung Quốc.

Báo "Tham khảo Kinh tế" ngày 28 tháng 3 đưa tin, một nhà máy xe đạp ở huyện Ngọc Lâm, Quảng Tây đã liên doanh với Nhà máy xe đạp số 3 Thượng Hải để sản xuất loại xe đạp "Phượng Hoàng" nổi tiếng nhất cả nước lúc bấy giờ. Ngoài nhà máy ở Ngọc Lâm, thương hiệu "Phượng Hoàng" còn được bán đồng thời cho các doanh nghiệp hương trấn quanh vùng Thiệu Hưng, Chiết Giang. Một bản tin vào tháng 4 cho biết, hàng trăm doanh nghiệp hương trấn ở vùng Vô Tích, Giang Tô đã tìm thấy sức sống mới thông qua hình thức liên doanh; doanh nghiệp quốc doanh giúp họ đào tạo công nhân kỹ thuật, căn chỉnh thiết bị, nghiên cứu phát triển sản phẩm, hỗ trợ xoay xở ngoại tệ và cung cấp hậu thuẫn về thương hiệu.

Tại Hà Bắc, Sơn Đông và nhiều nơi khác đã xuất hiện các "liên hợp thể kinh tế". Các doanh nghiệp quốc doanh chuyển nhượng một số nghiệp vụ của mình cho doanh nghiệp hương trấn dưới hình thức thầu khoán hoặc liên doanh, từ đó tạo nên mô hình liên minh. Hành vi vốn bị cấm trong những năm trước đó đột nhiên được khuyến khích. Nó được coi là một chiến lược "đôi bên cùng có lợi". Thông qua liên doanh, doanh nghiệp quốc doanh có thể cắt giảm chi phí, thậm chí thu lợi trực tiếp từ việc cho thuê thương hiệu. Còn với doanh nghiệp hương trấn, họ có được tấm vé gia nhập thị trường, cùng sự hỗ trợ về nhân tài, thương hiệu và kỹ thuật. Quan trọng hơn cả, phương thức liên doanh còn giúp lách được nhiều quy định chính sách của nhà nước; các nhà máy liên doanh có thể nhận được vật tư chiến lược của quốc gia, thâm nhập vào những ngành nghề vốn bị cấm, thậm chí danh chính ngôn thuận hoạt động dưới danh nghĩa doanh nghiệp quốc doanh.

Về sau, sự thật chứng minh rằng sự hỗ trợ và liên doanh này là một trong những nguyên nhân quan trọng giúp doanh nghiệp hương trấn vùng ven biển phát triển vũ bão. Hiệu quả mà các doanh nghiệp quốc doanh thu được từ liên doanh cuối cùng chỉ là tạm thời, trong khi các doanh nghiệp dân doanh linh hoạt đã hút cạn "máu" từ cơ thể khổng lồ nhưng bộ máy trì trệ của "con voi lớn" này. Vài năm sau, doanh nghiệp hương trấn liên doanh phát triển nhanh chóng, còn các doanh nghiệp quốc doanh bị rút ruột tài nguyên thì càng trở nên kiệt quệ. Thế là, hiện tượng "con ăn thịt cha" bắt đầu xuất hiện.

Công ty Supor - sau này trở thành doanh nghiệp đầu ngành về đồ dùng nhà bếp - là một ví dụ điển hình. Nhà máy nồi áp suất Song Hỷ Thẩm Dương sản xuất chiếc nồi áp suất đầu tiên của Trung Quốc vào năm 1964 và luôn là nhà máy chuyên nghiệp lớn nhất cả nước. Khoảng năm 1986, một giám đốc nhà máy nông cơ tên là Tô Tăng Phúc ở huyện Ngọc Hoàn, Chiết Giang đã lên phía Bắc tìm đến nhà máy Song Hỷ, dùng hết các mối quan hệ và lời lẽ thuyết phục để trở thành một trong những doanh nghiệp liên doanh của Song Hỷ. Tô Tăng Phúc nhớ lại: "Lúc đó rất khó khăn, nhưng chính nhà máy Song Hỷ đã cho chúng tôi cơ hội. Làm linh kiện kiếm được chút tiền, vài năm sau chúng tôi bắt đầu sản xuất nồi áp suất." Chiếc nồi áp suất ông sản xuất được bán dưới cái tên thương hiệu Song Hỷ, chẳng mấy chốc doanh số đã vượt xa nhà máy ở Thẩm Dương. Đến năm 1993, mỗi năm nhà máy mẹ phải thu về 5 triệu tệ phí sử dụng thương hiệu từ tay Tô Tăng Phúc, con số này còn vượt quá lợi nhuận sản xuất kinh doanh của chính họ. Kết quả "con lớn hơn mẹ" khiến hai bên dần trở mặt thành thù. Tô Tăng Phúc quyết định rũ bỏ Song Hỷ để tự tạo thương hiệu "Supor". Đến năm 1999, hãng này đã chiếm phần lớn thị phần của Song Hỷ, thị phần vượt quá 45%. Tô Tăng Phúc cười nói: "Cái gã chạy cờ như tôi không ngờ lại có ngày trở thành vai chính."

Sự thăng trầm giữa Supor và Song Hỷ là quỹ đạo số phận chung của rất nhiều công ty liên doanh. Từ cung ứng linh kiện, đến ủy thác sản xuất toàn bộ, rồi đến thuê thương hiệu, cuối cùng bị vứt bỏ như "bã thuốc" đã qua sử dụng, các doanh nghiệp quốc doanh trong liên doanh từ thế chủ động chuyển sang bị động, từng bước lùi lại, dần dần thất thế, cuối cùng nhường lại toàn bộ thị trường. Xét về chiến lược kinh doanh, hành động này chẳng khác nào "uống thuốc độc giải khát".

Trong các cuộc giao tranh với doanh nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp hương trấn gần như trăm trận trăm thắng. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là sự trưởng thành của họ thuận buồm xuôi gió. Trái lại, vì không nhận được bất kỳ sự hỗ trợ chính sách nào từ nhà nước, họ phải trải qua vô vàn gian khổ.

Phí Hiếu Thông đi khảo sát Ôn Châu. Với tư cách chính trị lúc bấy giờ là Phó Chủ tịch Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân toàn quốc, ông đương nhiên được các cán bộ địa phương tháp tùng, những gì ông nhìn thấy chỉ là những hiện tượng bề nổi đang khởi sắc. Thực ra, cùng lúc ông đi dạo ở Ôn Châu, một trò chơi tài chính ngầm có tên là "Đài Hội" đang diễn ra cuồng nhiệt trên mảnh đất đã được đồng tiền kích hoạt này.

"Đài Hội" là cách gọi của vùng nam Chiết Giang đối với các hoạt động huy động vốn dân gian. Đầu những năm 80, doanh nghiệp tư nhân ở Ôn Châu đã rất phát triển, nhu cầu về tài chính trở nên cấp bách. Tháng 9 năm 1984, Phương Bồi Lâm - một nhân viên phòng văn thư tại một bệnh viện quốc doanh - đã mở "Tiền trang Phương Hưng" tại trấn Tiền Khố, Thương Nam, đây là ngân hàng tư nhân đầu tiên của nước Trung Hoa mới. Theo hồi ức sau này của Phương Bồi Lâm, để tìm cơ sở chính sách, ông đã lật tìm khắp các văn kiện trung ương và phát hiện một câu trong văn kiện số 1 năm 1984 của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc: "Khuyến khích nông dân góp vốn kinh doanh các loại sự nghiệp, đặc biệt là các sự nghiệp mở cửa..." Phương đương nhiên cho rằng: "Nếu góp vốn là hợp pháp, thì lãi suất có tính chất tương tự như cổ tức, cá nhân cũng có thể nhận được." Tiền trang của ông khai trương vào ngày 29 tháng 9, Phương Bồi Lâm dán một bảng lãi suất huy động và cho vay linh hoạt, ưu đãi hơn ngân hàng lên cửa: tiền gửi dài hạn lãi suất tháng 1,2%, thanh toán sau ba tháng; tiền gửi tạm thời lãi suất tháng 1%, rút bất cứ lúc nào; tiền cho vay lãi suất tháng 2%, tùy tình hình. Tiền trang vừa mở được ngày thứ hai, Ngân hàng Nông nghiệp địa phương đã đến niêm phong. Phương Bồi Lâm đành phải tháo biển hiệu xuống. Sau này ông tự giễu: "Tiền trang tư nhân đầu tiên của nước Trung Hoa mới thực ra chỉ nhìn thấy ánh mặt trời đúng một ngày."

Tiền trang bị niêm phong, từ đó tài chính dân gian Ôn Châu buộc phải chuyển vào hoạt động ngầm. Theo chính sách tài chính lúc bấy giờ, các ngân hàng trong nước không được phép cho doanh nghiệp tư nhân vay vốn dưới bất kỳ hình thức nào. Các chủ doanh nghiệp tư nhân không thể tiếp cận nguồn vốn hợp pháp, lại không được mở tiền trang dân gian, sự thiếu hụt vốn trở thành một vấn đề cực kỳ nhức nhối. Trong hoàn cảnh đó, hoạt động của tiền trang Phương Bồi Lâm thực tế chưa bao giờ dừng lại. Nó nhận được sự ngầm đồng ý của chính quyền trấn sở tại, có thể mạnh dạn thực hiện dịch vụ tài chính trong phạm vi khu vực, nhưng mặt khác lại luôn không được ngân hàng cấp trên công nhận, về mặt pháp luật thì vẫn ở trạng thái bất hợp pháp. Để có được thân phận chính thức, Phương Bồi Lâm sau đó còn nhiều lần gửi yêu cầu lên chính quyền cấp trên. Năm 1986, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc chi nhánh Ôn Châu đã thử nghiệm viết một bản báo cáo gửi tổng hành dinh. Ngày 7 tháng 11, nhận được điện báo phản hồi do Thống đốc Lưu Hồng Nho ký: Đối với tiền trang tư nhân, xin hãy thực hiện theo quy định quản lý ngân hàng của Cao Quần Diệu, không được cấp "Giấy phép kinh doanh nghiệp vụ tài chính".

Trạng thái nhập nhằng này là một hiện tượng rất đặc thù của cải cách Trung Quốc. Sự trỗi dậy của các lực lượng dân gian khiến thể chế cũ ngày càng không thể thích ứng, thế nhưng sự thay đổi về chính sách lại chậm chạp không đến. Vì vậy, việc đi ngược và vượt qua luật pháp hiện hành đã trở thành hành vi mạo hiểm mà những người cải cách buộc phải làm. Tương tự như tiền trang của Phương Bồi Lâm, một hoạt động giao dịch tín dụng được gọi là "Đài Hội" hoặc "Bài Hội" đã lặng lẽ diễn ra khắp các vùng nông thôn Ôn Châu. Ban đầu nó xuất hiện giữa vài người, mỗi người góp một khoản tiền tạo thành một "hội" tương trợ, người dùng tiền trả cho những người khác mức lãi suất cao hơn ngân hàng. Số liệu cho thấy, khoảng năm 1984 ở Ôn Châu, nguồn vốn dân gian lưu thông theo cách này đã vượt quá 300 triệu tệ, trở thành động lực vốn quan trọng nhất cho sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân địa phương. Lúc đó, hầu như tất cả các chủ doanh nghiệp đều từng vay hoặc cho vay vốn từ "Đài Hội". Trần Gia Xu - chủ nhà máy huy hiệu Kim Hương từng nổi tiếng vì sản xuất huy hiệu quân đội cho Thủy quân lục chiến Mỹ - nhớ lại: "Lúc đó nhà máy phát triển hoàn toàn dựa vào kênh ngầm, nhiều nhất một lần có thể vay được 10 triệu tệ."

Do thiếu sự bảo hộ và quy phạm của pháp luật, sự vận hành của "Đài Hội" hoàn toàn dựa vào uy tín cá nhân giữa những người thân quen. Vào thời điểm bình thường, nó không có rủi ro quá lớn, nhưng khi kinh tế tăng trưởng nhanh và cung cầu vốn mất cân bằng, nó sẽ gây ra những sự cố bất ngờ. Năm 1986, kinh tế trong nước nóng lên, nhu cầu vốn tăng vọt, hiệu ứng tín dụng thông thường không thể thỏa mãn nhu cầu vay mượn ngày càng lớn. Ngay lập tức có người nghĩ đến việc huy động vốn lãi suất cao. Từ thử nghiệm cẩn trọng đến mở rộng táo bạo, chẳng bao lâu sau, một trò chơi tiền bạc mới gần như điên rồ đã khai màn.

Quy tắc của Đài Hội Ôn Châu lúc bấy giờ như sau: một hội viên vào hội đóng 11.600 tệ, từ tháng thứ hai, chủ hội trả cho hội viên 9.000 tệ mỗi tháng, liên tục trong 12 tháng, tổng cộng là 108.000 tệ; từ tháng thứ 13, hội viên phải nộp lại cho chủ hội 3.000 tệ, liên tục trong 88 tháng, tổng cộng là 264.000 tệ, chủ hội vẫn trả 9.000 tệ mỗi tháng. Cứ thế xoay vòng lãi mẹ đẻ lãi con, một kỳ hội kéo dài 100 tháng. Người sáng mắt nhìn vào là hiểu ngay, rủi ro lớn nhất nằm ở năm đầu tiên, chủ hội phải biến 11.600 tệ thành 108.000 tệ. Có người tính toán rằng, để một hội viên 11.600 tệ duy trì được, đến tháng thứ sáu phải phát triển thêm 22 hội viên, đến tháng thứ 12 phải phát triển 691 hội viên, đến tháng thứ 18 phải phát triển 20.883 hội viên.

Sự đầu tư hấp dẫn và lợi nhuận cao ngất ngưởng khiến các chủ hội trở thành "thần tài" trong mắt người dân. Một "trò chơi không tưởng" dưới sự thúc đẩy tập thể của tâm lý cầu may, cuồng nhiệt và a dua đã bùng cháy dữ dội. Một phụ nữ tên Diệp Tam Phượng ở Thương Nam mỗi tháng thu nhập ròng 1,2 triệu tệ. Tại Nhạc Thanh, có tổng cộng 1.346 hội lớn nhỏ, hội lớn nhất phát triển được 12.122 người. Từ năm 1985 đến đầu năm 1987, tại 9 huyện 2 khu của Ôn Châu có 300.000 người cuốn vào vòng xoáy này, số tiền hội lên tới con số khổng lồ 1,2 tỷ tệ. Tỷ lệ lợi nhuận về cơ bản không thể thực hiện được đương nhiên khiến Đài Hội phải coi việc phát triển hội viên mới theo cấp số nhân là phương thức duy nhất để duy trì. Lúc đó, cách phát triển hội viên điên rồ nhất là cái gọi là "hội ngắn": vào hội đóng 1,2 vạn tệ, tháng thứ hai trả lại cho hội viên 9.000 tệ, tháng thứ ba trả tiếp 9.000 tệ, gốc lãi thanh toán xong. Chủ hội dù phải lỗ 6.000 tệ nhưng có thể nhờ đó mà dụ dỗ thêm nhiều người vào hội. Vào thời kỳ cực thịnh của Đài Hội, hầu như toàn bộ cán bộ địa phương đều cuốn vào đó. Một số nơi còn xuất hiện "quan hội", hội này chuyên dành cho cán bộ, vào hội không cần đóng tiền mà là nhận tiền trước, ba tháng sau mới trả lại một khoản nhỏ. Hội này chia làm ba loại 10 vạn, 5 vạn và 1 vạn tệ, tùy theo cấp bậc cán bộ.

Trò chơi điên rồ này diễn ra hơn một năm trong tình trạng chính phủ hoàn toàn mất kiểm soát. Đến mùa xuân hè năm 1986, chuỗi vốn xuất hiện dấu hiệu đứt gãy, tin tức chủ hội bỏ trốn liên tiếp nổ ra ở khắp nơi. Ngay lập tức, tình hình xoay chuyển cực nhanh, sự hưng phấn tột độ chuyển ngay thành nỗi sợ hãi tột cùng, hệ thống Đài Hội sụp đổ trong chớp mắt. Suốt cả mùa thu, vùng Ôn Châu rơi vào hỗn loạn chưa từng có, hàng vạn người đòi nợ như điên dại lao đến nhà chủ hội. Hàng chục người đòi nợ ở Thương Nam cầm theo thuốc nổ đến nhà chủ hội, ép phải giao tiền ra nếu không sẽ cùng chết. Hai chủ hội ở Bình Dương bị người đòi nợ bắt được, treo lên cột, dùng tăm tre đâm vào ngón tay, dùng kìm sắt nung nóng đốt thịt ngực, tra tấn ba ngày ba đêm dẫn đến tử vong. Hàng trăm trường tiểu học buộc phải đóng cửa vì học sinh thường xuyên bị người đòi nợ bắt làm con tin trên đường đi học. Chỉ trong vòng ba tháng ngắn ngủi, toàn thành phố Ôn Châu có 63 người tự sát, 200 người bỏ trốn, gần 1.000 người bị giam giữ trái phép, hơn 8 vạn hộ gia đình phá sản. Lúc này chính phủ mới bừng tỉnh, họ bắt đầu bắt giữ và truy nã những chủ hội nổi tiếng, dùng cách "giết gà dọa khỉ" để xoa dịu phẫn nộ trong dân. Lý Khải Phong, Trịnh Nhạc Phân và những người khác cuối cùng bị kết án tử hình vì tội đầu cơ trục lợi.

Sóng gió Đài Hội đã để lại một mảnh ghép vô cùng máu me và dữ dằn trong lịch sử cải cách hiện đại của Trung Quốc. Nó cho thấy, khi một nhu cầu công cộng không thể được đáp ứng bằng con đường hợp pháp, thì ngay cả những nhóm người lý trí nhất cũng có thể thực hiện những hành vi tập thể điên rồ nhất. Sự thật mười mấy năm sau đó là, thử nghiệm của người Ôn Châu về tài chính dân gian chưa bao giờ dừng lại. Ngay ngày 1 tháng 11 năm 1986, một người tên Dương Gia Hưng đã huy động 318.000 tệ, sáng lập "Hợp tác xã tín dụng chế độ cổ phần hợp tác" đầu tiên của cả nước - Hợp tác xã tín dụng thành phố Lộc Thành (Lộc Thành là một cách gọi khác của khu vực nội thành Ôn Châu). Sáu ngày sau, một chủ nhà máy nội thất tên Tô Phương Trung đã sáng lập hợp tác xã tín dụng thành phố do tư nhân nắm giữ cổ phần, ông lấy thương hiệu nội thất của mình để đặt tên cho đứa con tinh thần này - Hợp tác xã tín dụng Đông Phong. Do thiếu sự hỗ trợ văn bản pháp luật, số phận của các tổ chức tài chính dân gian này như những sản phẩm vụng trộm, ngày ngày nguy như trứng để đầu đẳng, lúc nào cũng đối mặt với nguy cơ bị cấm đoán và trừng phạt.

Năm 1986, dù Đài Hội Ôn Châu gây chấn động một thời, nhưng phạm vi ảnh hưởng của nó không vượt quá khu vực nam Chiết Giang. Về sau, do sự nhập nhằng và dao động của chính sách quản lý tài chính, tại Bắc Kinh, Nam Kinh và những nơi khác sẽ còn bùng nổ những cơn sóng gió huy động vốn đáng kinh ngạc hơn nữa. Đầu năm 2000, Quốc vụ viện lại một lần nữa chỉnh đốn và thanh lọc trật tự tài chính, các hợp tác xã tín dụng dân gian và quỹ hợp tác nông thôn ở nam Chiết Giang và Quảng Đông lần lượt bị chỉnh đốn, hoặc bị cấm, hoặc bị cưỡng chế sáp nhập vào Hợp tác xã tín dụng nông thôn quốc doanh. Quảng Đông có hơn 2.000 tổ chức tài chính dân gian bị đóng cửa, sáp nhập. Tháng 2 năm đó, Tô Phương Trung bị cảnh sát truy nã bắt giữ với tội danh nghi ngờ huy động vốn công chúng trái phép và lừa đảo.

Trên số tạp chí "Time" đầu tiên của năm 1986, Đặng Tiểu Bình lại trở thành nhân vật trên trang bìa. Sau năm 1978, ông lần thứ hai được bình chọn là "Nhân vật của năm". Tháng 10 năm trước, "Time" đã cử một đoàn phỏng vấn đến Trung Quốc trong năm ngày, trong đó có cuộc phỏng vấn kéo dài hơn một giờ với chính Đặng Tiểu Bình. Với tiêu đề "Cuộc cách mạng lần thứ hai của Trung Quốc", tạp chí đã quét qua toàn diện sự phát triển của Trung Quốc với dung lượng khổng lồ gần nửa cuốn tạp chí.

Cây bút cao cấp của tuần báo, George Church, viết: "Những người nước ngoài quay lại Trung Quốc chỉ sau vài năm không thể tin được rằng họ đang ghé thăm cùng một quốc gia. Những thị trường thực phẩm tự do phong phú, những ngôi nhà sạch sẽ mọc lên như nấm sau mưa ở nông thôn và nền công nghiệp nông thôn đầy sức sống, tất cả những điều này đều là những thứ mà họ và cả những người chủ nhà của họ chưa từng thấy." Trong bài báo này, Đặng Tiểu Bình được khẳng định là "một người thực dụng triệt để, vốn không quá chú trọng danh xưng. Câu nói nổi tiếng nhất của ông là một ví dụ bình dị: Không quan trọng mèo trắng hay mèo đen, bắt được chuột là mèo tốt." Tạp chí thừa nhận Trung Quốc đã giải quyết được vấn đề lương thực, nông dân đã được giải phóng thông qua chế độ thầu khoán. Thông qua việc thành lập đặc khu và các chính sách ưu đãi, ngày càng nhiều công ty nước ngoài đang không ngừng tiến vào Trung Quốc, cải cách đô thị và cải cách doanh nghiệp quốc doanh đã được đưa vào chương trình nghị sự.

Tháng 11, Chủ tịch Sở giao dịch chứng khoán New York John Phelan thăm Trung Quốc, ông tặng Đặng Tiểu Bình một chiếc huy hiệu tinh xảo - huy hiệu của Sở giao dịch chứng khoán New York. Để đáp lễ, món quà Đặng Tiểu Bình chọn là cổ phiếu đầu tiên được phát hành công khai của nước Trung Hoa mới - một cổ phiếu Thượng Hải Phi Nhạc mang số hiệu 05743 mệnh giá 50 tệ. Đặng Tiểu Bình nói với ông rằng vốn của cổ phiếu này là 1,65 triệu tệ, phát hành 33.000 cổ phiếu, ông là cổ đông nước ngoài duy nhất. Phelan vui vẻ nói: "Tôi rất vinh dự trở thành cổ đông Mỹ đầu tiên của một doanh nghiệp xã hội chủ nghĩa." Cổ phiếu Phi Nhạc này về sau luôn được lưu giữ trong phòng trưng bày của Sở giao dịch chứng khoán New York. Một năm trước đó, thị trường giao dịch cổ phiếu đầu tiên của Trung Quốc, tức Phòng nghiệp vụ chứng khoán Tĩnh An Thượng Hải, đã chính thức khai trương vào ngày 31 tháng 12 năm 1985, lúc đó cho phép giao dịch giao ngay. Thực tế, sớm hơn nữa, một số doanh nghiệp ở Thâm Quyến, Bắc Kinh và Thượng Hải đã thử nghiệm bán cổ phiếu cho công chúng. Âm thanh Hạnh Phúc ở Quảng Đông, Bách hóa Thiên Kiều ở Bắc Kinh và Âm thanh Phi Nhạc ở Thượng Hải lần lượt phát hành cổ phiếu của riêng mình. Đây tất nhiên chỉ là những bước đi thử nghiệm, sự sôi động thực sự của thị trường vốn còn phải đợi thêm vài năm nữa.

Năm 1986, có rất nhiều sự kiện đáng ghi nhớ: Tượng Nữ thần Tự do Mỹ tròn 100 tuổi, người Đức phát minh ra ô tô tròn 100 tuổi, khắp nơi trên thế giới đều tổ chức kỷ niệm dưới nhiều hình thức khác nhau.

Ngày 28 tháng 1, tàu vũ trụ "Challenger" của Mỹ phóng lên không trung. Đây là lần đầu tiên nhân loại truyền hình trực tiếp hiện trường tàu vũ trụ phóng lên. Hàng trăm triệu người vô cùng kinh ngạc chứng kiến vụ nổ bất ngờ của "Challenger". Tổng thống Mỹ trong bài phát biểu sau đó đã kiên định nói: "Trong quá trình mạo hiểm mở rộng lĩnh vực hoạt động của nhân loại, những sự kiện đau thương như thế này là điều khó tránh khỏi, nhưng tương lai không thuộc về kẻ nhát gan, tương lai thuộc về những người mạnh mẽ." Ba tháng sau, nhà máy điện hạt nhân của Liên Xô xảy ra sự cố rò rỉ.

Trong lịch sử thương mại, còn một sự kiện trọng đại bắt buộc phải được ghi lại. Đối mặt với các công ty Nhật Bản hung hăng, ngoài việc tìm đối sách trong ngành công nghiệp công nghệ cao, Mỹ còn phát động cuộc phản công sắc bén về chính sách tiền tệ. Họ liên kết với Bộ trưởng Tài chính bảy nước phương Tây, cưỡng ép yêu cầu đồng Yên tăng giá. Hành động này bắt đầu từ năm 1985, lần đầu tiên tuyên bố đồng USD mất giá 25% so với đồng Yên. Trong vài tháng đầu năm 1986 lại khiến đồng Yên tăng giá 40%. Đến năm 1988, mức tăng giá đạt 86%, cuối cùng hình thành bong bóng "Siêu Yên". Những người Nhật Bản tự mãn không hiểu chuyện, vì đồng tiền tăng giá mà vui mừng khôn xiết. Trong vài năm tới, chính phủ và các công ty Nhật Bản mua lượng lớn trái phiếu và bất động sản Mỹ, thâu tóm các công ty Mỹ. Từ năm đó đến năm 1992, người Nhật đã mua hơn một nửa số trái phiếu chính phủ Mỹ, còn mua cả bất động sản trị giá 72 tỷ USD tại Mỹ. Đúng lúc họ đang hùng hổ khoe khoang muốn "mua toàn bộ nước Mỹ", bong bóng ngày càng lớn dần, khủng hoảng như một bóng ma lặng lẽ kéo đến.

Huyền thoại quản trị học Peter Drucker đã công bố tác phẩm "Nền kinh tế thế giới đã thay đổi", trong đó ông dự báo: cấu trúc nội tại của nền kinh tế đã xảy ra sự chuyển dịch căn bản. Sự chuyển dịch này mang đến những khó khăn to lớn, thậm chí là khó lòng vượt qua cho các nước đang phát triển trong việc đuổi kịp các nước phát triển. Ông chỉ ra rằng, thứ nhất, tri thức và vốn đang dần thay thế lao động chân tay, một ưu thế chủ chốt mà các nước đang phát triển từng dựa vào – đó là nguồn nhân lực dồi dào và giá rẻ – sẽ dần mất đi. Thứ hai, sản xuất công nghiệp từ chỗ về cơ bản thuộc về thâm dụng lao động đã chuyển sang thâm dụng tri thức ngay từ đầu; ví dụ như trong lĩnh vực sản xuất chip bán dẫn và dược phẩm, chi phí nhân công chỉ chiếm lần lượt là 12% và dưới 10%. Thứ ba, các ngành công nghiệp dựa trên thông tin và tri thức đang thay thế các ngành công nghiệp dựa trên vật chất để trở thành trung tâm tăng trưởng của kinh tế hiện đại, điều này đòi hỏi công dân của một quốc gia phải có trình độ tri thức phổ quát ở mức cao.

Những luận điểm này của Drucker vào năm 1986 tại Trung Quốc hầu như chưa có ai nghe tới, hoặc nói cách khác, dù có đọc lớn bên tai cũng chẳng gây ra bất kỳ sự chú ý nào. Các doanh nghiệp Trung Quốc vẫn còn cách rất xa những lời của vị đại sư quản trị này.

Năm 1986, Trung Quốc lần đầu tiên tuyên bố cho phép tư nhân sở hữu ô tô (điều thú vị là, cũng trong năm này, Liên Xô tuyên bố taxi có thể do tư nhân kinh doanh, hai quốc gia xã hội chủ nghĩa này bắt đầu cuộc thử nghiệm thị trường hóa gần như cùng lúc, mặc dù sau đó họ đã chọn hai mô hình khác nhau). Thế nhưng vào thời điểm đó, xe tư nhân rất ít khi được dùng để tiêu dùng, người mua đa phần dùng vào việc vận tải hoặc chạy taxi. Tháng 11, chiếc xe tư nhân đầu tiên tại Thượng Hải mang mã số "Z" 0001 ra đời, sau đó, xe tư nhân bắt đầu xuất hiện tại các thành phố ven biển như Thâm Quyến, Quảng Châu và các thành phố có nhà máy sản xuất ô tô như Trường Xuân, Trùng Khánh.

Mọi người bắt đầu dồn nhiều tâm trí hơn vào việc làm sao để kiếm tiền, một vài ngành nghề mới lạ đã xuất hiện. Thư từ là phương thức giao tiếp quan trọng nhất của người dân lúc bấy giờ, thế nhưng trong năm đó, rất nhiều người khi nhận được thư thì con tem dán bên trên đã không cánh mà bay. Tại các thành phố như Trùng Khánh, Thượng Hải, việc đầu cơ và thổi giá tem thư đang trở thành một nghề kinh doanh mới nổi. Bên ngoài bưu điện của nhiều thành phố đã hình thành nên một chợ giao dịch tem thư, một con tem "Khỉ" phát hành năm 1980 với mệnh giá 8 xu có thể được hét giá lên tới 25 tệ, chỉ trong sáu năm giá trị tăng hơn 300 lần. Những kẻ đầu cơ tem thư này chẳng bao lâu sau sẽ trở thành lực lượng nòng cốt cho một loại giấy tờ có giá khác – cổ phiếu.

Đáng chú ý là, một vài nhân vật sau này làm mưa làm gió cũng bắt đầu sự nghiệp kinh doanh của họ vào năm đó. Dương Nguyên Khánh tốt nghiệp Đại học Giao thông Thượng Hải, anh không chờ trường phân công đơn vị mà lao ngay vào Trung Quan Thôn. Nơi đó đã xuất hiện hơn 100 công ty mở, "Nhân dân Nhật báo" mô tả đó là "Phố điện tử" và "Thung lũng Silicon của Trung Quốc". Dương Nguyên Khánh gia nhập "đội quân" của Liễu Truyền Chí, người đang tất bật bán máy tính tiếng Trung do Nghê Quang Nam phát minh. Vinh Trí Kiện gia nhập CITIC Pacific, lúc này CITIC đã trở thành một tập đoàn lớn cấp bộ, được đặc quyền tự phê duyệt các dự án nhập khẩu, đây là một đặc quyền tối thượng vào thời điểm đó. Tại Urumqi, một thí sinh trượt đại học tên là Đường Vạn Tân đã dùng số vốn ít ỏi 400 tệ để mở cửa hàng in màu "Bạn bè".

Mặc dù việc trở thành "vạn hộ" (người có mười ngàn tệ) và "hạ hải" (bỏ biên chế đi buôn) đã trở thành một chuyện đáng tự hào, những nhà thơ vốn luôn ở trạng thái ngầm như Bắc Đảo, Thư Đình, Cố Thành... đã bước ra tiền đài. Thơ của họ được tập hợp lại và xuất bản, tập thơ do giáo sư Tạ Miện của Đại học Bắc Kinh biên soạn đã gây sốt khắp các trường đại học trên cả nước. Triết học Nietzsche và trào lưu hiện sinh tràn vào khuôn viên đại học, "Chúa đã chết", "Hoàng hôn của những thần tượng", một Nietzsche đầy thần kinh đã hùa theo sự phản kháng của con người đối với mọi tư tưởng cứng nhắc, mọi thứ cứng rắn đều bắt đầu tan biến vào hư không. Giới trẻ không còn khao khát những "doanh nghiệp quốc doanh an toàn mà ngột ngạt", các công ty vốn nước ngoài và các công ty tư nhân mới nổi trở thành lựa chọn mới của họ. Tại Trung Quan Thôn, ngày càng nhiều sinh viên đại học xuất hiện, trang phục điển hình của họ lúc bấy giờ là: một bộ vest trăm tệ, một túi đựng hóa đơn, bên hông đeo một chiếc máy nhắn tin (BP). Vương Chí Đông, người sau này sáng lập trang tin tức lớn nhất Trung Quốc là Sina, lúc đó vẫn đang học tại khoa Vô tuyến điện Đại học Bắc Kinh, anh chưa kịp tốt nghiệp đã chạy đến Trung Quan Thôn làm thuê. Nhiều năm sau, anh hồi tưởng lại: "Ban ngày chúng tôi đi rao bán phần mềm lậu và máy tính cũ trên phố, tối đến lại chui vào tầng hầm lạnh lẽo để nghe ngâm thơ".

Mùa xuân năm ấy, Thôi Kiện, nghệ sĩ thổi kèn trumpet chuyên nghiệp của Dàn nhạc Giao hưởng Bắc Kinh, đã sáng tác nên tác phẩm để đời của mình mang tên "Tay trắng" (Nhất vô sở hữu). Ngày 9 tháng 5, tại "Đêm hội trăm ca sĩ vì hòa bình quốc tế" tổ chức ở Bắc Kinh, khi anh mặc một chiếc áo dài trông khá giống thời Đại Thanh, sau lưng đeo một cây đàn guitar cũ kỹ, ống quần cao thấp khác biệt nhảy lên sân khấu Nhà thi đấu Công nhân Bắc Kinh, khán giả bên dưới vẫn chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra. Tiếng nhạc vang lên, Thôi Kiện cất tiếng hát: "Tôi từng hỏi không ngớt, khi nào em đi cùng tôi, nhưng em luôn cười tôi chẳng có gì trong tay. Tôi muốn trao em sự theo đuổi của mình, cả sự tự do của mình, nhưng em luôn cười tôi chẳng có gì trong tay. Mặt đất dưới chân đang bước, dòng nước bên cạnh đang trôi, nhưng em luôn cười tôi chẳng có gì trong tay. Tại sao em cứ cười mãi không thôi, tại sao tôi cứ mãi theo đuổi, chẳng lẽ trước mặt em tôi mãi mãi là kẻ tay trắng..."

Đây là một âm thanh đánh thẳng vào tâm hồn, nó khàn đặc mà cao vút, phẫn nộ mà ấm áp. Trong đêm Bắc Kinh tháng 5, từng nốt nhạc của nó lao tới từ xa, xuyên thẳng qua da thịt của tất cả những người trẻ tuổi, hòa quyện vào huyết quản, rồi bùng nổ một cách vô cùng ấm áp.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ngô Hiểu Ba