Trong thời kỳ đầu cải cách mở cửa của Trung Quốc, có không ít quan chức địa phương đi đầu xu thế, quyết tâm cải cách và tiến thủ không sợ hãi. Trong vấn đề chế độ trách nhiệm khoán sản phẩm đến hộ gia đình ở nông thôn, có Vạn Lý ở An Huy và Triệu Tử Dương ở Tứ Xuyên, khi đó trong dân gian có câu ca dao: "Muốn ăn cơm, tìm Vạn Lý", "Muốn ăn lương thực, tìm Tử Dương". Còn về đối ngoại mở cửa, thì có Nhậm Trọng Di ở Quảng Đông và Hạng Nam ở Phúc Kiến.
Nhậm Trọng Di và Hạng Nam đều được giao trọng trách địa phương khi đã ngoài lục tuần. Nhiệm kỳ của họ trước sau đều không quá năm năm, nhưng lại để lại dấu ấn sâu đậm nhất trên hai vùng đất Quảng Đông và Phúc Kiến.
Năm 66 tuổi, Nhậm Trọng Di được điều từ Liêu Ninh đến Quảng Đông nhậm chức Bí thư thứ nhất. Chẳng bao lâu sau, ông bị người ta đặt cho biệt danh: "Nhậm ngươi muốn làm gì thì làm" (chơi chữ từ tên ông là Nhậm Trọng Di). Theo ghi chép, cụm từ "kinh tế tư doanh" chính là do Nhậm Trọng Di lần đầu tiên công khai đề xuất. Sau khi đến Quảng Đông, ông phát hiện các hộ kinh doanh cá thể tại địa phương đã khá nhiều, có nơi thuê mướn tới hàng trăm nhân công. Ông liền yêu cầu giới khoa học xã hội Quảng Đông bắt tay nghiên cứu "việc này có tính là bóc lột hay không". Khi đó, một nghiên cứu sinh tên là Trịnh Viêm Triều đã gửi luận văn "Kinh tế tư doanh trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội" của mình cho Nhậm Trọng Di. Nhậm rất phấn khởi, cho rằng luận văn đã cung cấp căn cứ quan trọng cho việc ra quyết định. Ông phê duyệt rằng: Kinh tế cá thể phát triển mạnh mẽ là xu thế không thể ngăn cản, chỉ có thể nâng đỡ không thể áp chế, phải chính danh cho nó, cứ gọi là "kinh tế tư doanh", để nó phát triển lớn mạnh.
Nhậm Trọng Di xây dựng đặc khu Thâm Quyến và khu công nghiệp Xà Khẩu, trao cho Viên Canh và những người khác quyền hạn chính phủ rất lớn, mặc cho nó tự do phát triển. Thậm chí, ông còn ủng hộ Viên Canh và những người khác mạnh dạn khám phá cải cách chính trị trong đặc khu, thúc đẩy bầu cử trực tiếp cán bộ lãnh đạo, dư luận giám sát người đứng đầu, v.v. Đặc khu Thâm Quyến thậm chí từng mô phỏng thể chế "tam quyền phân lập" của phương Tây, không thiết lập Đại hội đại biểu nhân dân và Chính hiệp, mà thay thế bằng "Ủy ban lập pháp" và "Ủy ban tư vấn chính vụ". Có quan chức phê bình rằng: "Đặc khu ngoài quốc kỳ màu đỏ ra, đã không còn mùi vị chủ nghĩa xã hội nữa rồi". Một quan chức của tỉnh nọ sau khi tham quan Thâm Quyến xong về nhà nằm trên giường khóc lớn, nói: "Cực khổ mấy chục năm, chỉ sau một đêm trở về trước giải phóng".
Đầu năm 1981, kinh tế vĩ mô điều chỉnh. Trung ương triệu tập hội nghị công tác, thông báo người đứng đầu các tỉnh thành toàn quốc phải có mặt đầy đủ. Đề tài trung tâm của hội nghị là thảo luận về việc điều chỉnh kinh tế quốc dân. Trong thời gian hội nghị, có người phát tán một lá thư do 4 thanh niên viết gửi lãnh đạo Trung ương về việc điều chỉnh kinh tế. Trong thư đưa ra phương châm 12 chữ: "Hoãn cải cách, ức nhu cầu, trọng điều chỉnh, xả phát triển". Lời lẽ đanh thép, từng câu từng chữ đều nhắm thẳng về phía đặc khu. Nhậm Trọng Di vốn tính tình cương trực, đối mặt với thách thức này đương nhiên không thể trốn tránh. Ông phát biểu tại hội nghị: "Xuất phát điểm của lá thư là tốt, nhưng kê đơn thuốc không đúng. Nếu làm theo phương châm 12 chữ, đặc biệt là muốn 'hoãn cải cách', 'xả phát triển', thì Quảng Đông làm sao có thể đi trước một bước được?". Những lời này của Nhậm Trọng Di không khớp với chủ đề hội nghị, thậm chí có chỗ còn đi ngược lại. Mọi người đều đổ dồn ánh mắt về phía Đặng Tiểu Bình. Đặng liên tục hút thuốc, nhưng từ đầu đến cuối không bày tỏ thái độ gì đối với phát biểu của Nhậm Trọng Di. Sau khi Nhậm Trọng Di trở về Quảng Đông, chỉ làm một chút "văn chương" trong việc điều chỉnh, đặc khu và các chính sách mở cửa liên quan đều không có biến động lớn. Trong không khí thắt chặt ngột ngạt hơn vào năm 1982, Phòng nghiên cứu Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc còn biên soạn một tài liệu "Nguồn gốc tô giới Trung Quốc cũ", đính kèm bút phê của một lãnh đạo Trung ương lúc bấy giờ: "Tài liệu này gửi đến các tỉnh thành toàn quốc. Đối với đặc khu kinh tế, phải cảnh giác với vấn đề loại này". Nhậm Trọng Di khi đó như đi trên băng mỏng. Sau này ông thừa nhận: "Nếu không có Đặng công ủng hộ, tôi sớm đã không vượt qua được cửa ải này".
Trải nghiệm của Hạng Nam tương tự như Nhậm. Ông xuất thân từ gia đình cách mạng. Cha là Hạng Dữ Niên, đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc sớm nhất ở miền Tây Phúc Kiến, mẹ từng ngồi tù, chú bị sát hại, nguyên lão Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Trọng Huân ca ngợi là "cả nhà trung liệt". Thời trẻ, ông theo Hồ Diệu Bang làm việc tại Đoàn Thanh niên Trung ương, năm 1958 bị chụp mũ "phản cách mạng", mãi đến 21 năm sau, vào tháng 5 năm 1979, Trung ương Đảng mới phê chuẩn hủy bỏ "Nghị quyết về sai lầm của Hạng Nam" và quyết định xử phạt ban đầu. Năm 1981, được Hồ Diệu Bang tiến cử, ông xuống phía Nam chủ trì công việc Phúc Kiến. Nghe nói khi ông đi tàu hỏa đến nhậm chức, chỉ mang theo một thư ký, khiến cán bộ Phúc Kiến ra đón không biết phải làm sao.
Năm 1984, ông còn tích cực cổ vũ giám đốc doanh nghiệp quốc doanh thực hiện phân quyền, một tay lên kế hoạch cho "Bức thư ngỏ cởi trói" của các giám đốc nhà máy ở Phúc Kiến. Ông làm quan gần dân, đi điều tra ở vùng núi nghèo khó, hơn mười ngày bôn ba liên tục đến mức "trông như người ăn mày". Không lâu sau khi nhậm chức năm 1981, tờ "Phúc Kiến Nhật báo" công bố hai vụ án tội phạm kinh tế, ông đích thân soạn thảo một bài xã luận, từ đầu đến cuối chỉ có 140 chữ: "Tại sao một số vụ án lại không thể xử lý dứt điểm trong thời gian dài? Hôm nay báo này lại công bố hai vụ án quan trọng. Kẻ xấu bị vạch trần xử lý, điều này rất tốt. Một số vấn đề quần chúng nhìn rất rõ, cán bộ cũng bàn tán nhiều, tính chất vấn đề đã rất rõ ràng, nhưng lại không thể xử lý được, hơn nữa còn không thể xử lý trong thời gian dài. Tại sao? Một là bản thân mình có tật; hai là bè phái tác quái; ba là yếu kém vô năng. Vấn đề của đơn vị các người không thể xử lý trong thời gian dài, là thuộc loại nào, không ngại nghĩ xem". Bài viết này vừa xuất hiện, ngay cả tờ "Christian Science Monitor" cũng chú ý tới, gọi Phúc Kiến đã xuất hiện một "quan chức thanh tân".
Phong cách của Nhậm và Hạng đóng vai trò quyết định đối với sự phục hồi và mở cửa của kinh tế Hoa Nam, vì vậy hậu thế có công luận rằng: "Hai người Nhậm, Hạng bằng sức lực của mình thúc đẩy sự phát triển của Quảng Đông và Phúc Kiến". Nhưng điều đáng tiếc là kết cục của cả hai đều không mấy tốt đẹp.
Nhậm Trọng Di làm việc ở Quảng Đông 5 năm, năm nào cũng sóng gió, ông nhiều lần viết bản kiểm điểm gửi Trung ương, dưới sự che chở của Hồ Diệu Bang và những người khác mới miễn cưỡng vượt qua. Năm 1985, ông lui về tuyến hai. Ngày hôm đó, ông nói với người bạn cũ, từng là thư ký của Mao Trạch Đông và Phó trưởng ban thường trực Ban Tổ chức Trung ương là Lý Nhuệ: "Cuối cùng tôi cũng đã hạ cánh an toàn". Hạng Nam lại không thể "hạ cánh an toàn". Năm 1986, vụ "thuốc giả" bùng phát tại khu vực Tấn Giang, Phúc Kiến - nơi ông dốc sức nâng đỡ. Do bị ảnh hưởng, ông bị Trung ương bãi chức, trở thành quan chức địa phương đầu tiên bị miễn nhiệm vì sự kiện kinh tế sau khi cải cách mở cửa. Hạng Nam đến cùng vẫn không chịu nhận sai về quyết định kỷ luật này. Phó chủ nhiệm Ủy ban Cố vấn Trung ương lúc bấy giờ là Bạc Nhất Ba nhắc nhở ông: "Tuổi ông chưa lớn, ký tên vào đi, vẫn còn có thể sắp xếp công việc mà". Nhưng cho đến khi chết, ông cũng không ký vào quyết định kỷ luật. Hồ Diệu Bang những năm cuối đời khi nói về Hạng Nam đã nói: "Tôi không bảo vệ tốt cho Hạng Nam, đây là một việc khiến tôi thường xuyên cảm thấy bất an".
Hạng Nam những năm cuối đời ít nói, lặng lẽ sống qua ngày, không hề biện giải cho nỗi oan ức của cuộc đời mình. Còn Nhậm Trọng Di thì tiếp tục phong cách sắc bén của mình. Năm 2004, ở tuổi 91, ông nhận trả lời phỏng vấn của tờ "Nam Phong Song", trong bài "Đặng Tiểu Bình và cải cách mở cửa của Quảng Đông", ông thẳng thắn: "Đặng Tiểu Bình trong 18 năm huy hoàng nhất cuộc đời mình, đã tạo ra một xã hội tương đối giàu có, một xã hội tương đối mở cửa, một xã hội tràn đầy sức sống ở Trung Quốc, nhưng cũng để lại cho chúng ta một xã hội chưa giải quyết được vấn đề chênh lệch giàu nghèo, một xã hội chưa giải quyết triệt để vấn đề tham nhũng lan tràn".
Tháng 11 năm 1997, Hạng Nam qua đời. Có người viết tiểu sử cho ông, nhan đề là "Kính sợ nhân dân".
Tháng 11 năm 2005, Nhậm Trọng Di qua đời. "Nhậm - Hạng" từng được nhắc tên cùng nhau, nay đã hoàn toàn héo tàn.