Hoàng Hồng Niên, con trai của một cựu đại gia Indonesia, rất am hiểu chính trị Trung Quốc. Trong một bài diễn thuyết, ông nửa đùa nửa thật nói: "Tôi lớn lên trong thời kỳ Trung Quốc biến động những năm 60. Nếu khi đó tôi vẫn ở lại đại lục, thì bây giờ cùng lắm chỉ có thể làm phó chủ nhiệm công xã nhân dân mà thôi. Thế nhưng tôi đã đi, và 25 năm sau, "nhân tài" lưu lạc này lại mang về cho Trung Quốc hàng tỷ khoản đầu tư, mở ra con đường cải tạo kết hợp các doanh nghiệp quốc doanh cũ, nỗ lực phấn đấu vì một cuộc cách mạng công nghiệp mang đặc sắc Trung Quốc nhằm giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất."
Những lời lẽ như vậy rất lọt tai người nghe. Ông hoàn toàn không giống một thương nhân nước ngoài, mà giống như một đứa con xa xứ trở về báo đáp quê mẹ.
Trong tâm trí của nhiều lãnh đạo doanh nghiệp quốc doanh từng tiếp xúc với Hoàng Hồng Niên, ông tuyệt đối là một "nhân vật" tầm cỡ, biểu hiện quan trọng nhất chính là: "Ông ấy có thể thường xuyên trò chuyện với các lãnh đạo trung ương". Ông có không ít những tấm ảnh chụp chung, trong đó một số lãnh đạo trung ương bế con gái ông và chụp ảnh gia đình đầy vui vẻ. Cứ đến cuối năm, tổng giám đốc các công ty Trung Sách trên khắp cả nước lại tới Bắc Kinh báo cáo công việc. Ông nhất định bao trọn một tòa nhà tại Điếu Ngư Đài - nơi các lãnh đạo trung ương tiếp đón khách quý nước ngoài. Các vị tổng giám đốc khi vào đều phải kiểm tra đăng ký, thời gian báo cáo của mỗi người không quá 15 phút. Bầu không khí vừa thoải mái lại vừa trang nghiêm, khiến người đến đều phải kính nể và ghi nhớ suốt đời.
Về mặt vận hành thương mại, Hoàng Hồng Niên đã tận dụng triệt để những kẽ hở trong luật pháp hiện hành của Trung Quốc. Luật liên doanh Trung - nước ngoài khi đó cho phép vốn nước ngoài được góp theo từng đợt, nên các thương vụ thu mua của Trung Sách thường chỉ cần trả trước 15% - 20% vốn đầu tư là đã có thể kiểm soát được doanh nghiệp quốc doanh. Sau khi đưa những doanh nghiệp đợt đầu niêm yết ở nước ngoài, ông lại dùng số tiền thu được để tiếp tục thu mua theo kiểu cuốn chiếu. Hơn nữa, luật Trung Quốc quy định bên liên doanh nước ngoài không được chuyển nhượng cổ phần liên doanh, nhưng Trung Sách lại đi chuyển nhượng cổ phần của các công ty控股 (holding) ở nước ngoài đang nắm giữ số cổ phần đó. Đồng thời, Trung Sách còn thu lợi nhuận khổng lồ nhờ các chính sách ưu đãi thuế dành cho doanh nghiệp liên doanh và hệ thống tỷ giá kép của Trung Quốc. Khi ông thu mua Hồng Bảo Thạch để cải tổ thành Trung Sách, công ty này vẫn đang lỗ 14,76 triệu đô la Hong Kong, nhưng chỉ một năm sau, lợi nhuận ròng của công ty đã vọt lên tới 312 triệu đô la Hong Kong, trở thành một "cổ phiếu kỳ tích" trên thị trường chứng khoán Hong Kong.
Bản thân Hoàng Hồng Niên chưa từng có kinh nghiệm thực nghiệp, cũng chẳng hề hứng thú với việc này. Ông thu mua hàng trăm doanh nghiệp nhưng chưa từng phái một người nào xuống quản lý, tất cả đều dựa vào các xưởng trưởng cũ tiếp tục vận hành, trụ sở chính chỉ có hai ba nhân viên tài chính đi kiểm toán lưu động quanh năm. Thời gian đầu sau khi thu mua, do thể chế được giải phóng nên lực lượng sản xuất tự nhiên được kích hoạt, xuất hiện sự tăng trưởng hiệu quả theo kiểu phản hồi. Tuy nhiên, khi bầu không khí kinh tế đại lục ngày càng thị trường hóa, ưu thế thể chế dần biến mất, những vấn đề cũ của doanh nghiệp quốc doanh như mô hình công nghiệp lạc hậu, thiết bị cũ kỹ, phát triển sản phẩm mới kém hiệu quả, cơ cấu nhân tài bất hợp lý... lần lượt lộ ra. Hoàng Hồng Niên thu mua thì thừa, nhưng hợp nhất thì thiếu năng lực; tiến vào thì nhanh, rút lui thì do dự, dẫn đến cuối cùng rơi vào vũng lầy quản lý cụ thể. Các doanh nghiệp dưới trướng Trung Sách, ngoại trừ hai nhóm ngành cao su và bia được hợp nhất bán lại thu lợi nhuận khá, số còn lại đều trở thành gánh nặng khó từ bỏ. Những di chứng từ gói giải pháp ở Tuyền Châu nhiều vô kể, còn "Kế hoạch 101" ở Đại Liên với quy mô lớn đến mức kinh ngạc thì lại bỏ dở giữa chừng. Lúc này, những tiếng nói chỉ trích hiện tượng Trung Sách bắt đầu xuất hiện. Có người cáo buộc "tay không bắt giặc" của Hoàng Hồng Niên là "đầu cơ thương mại không kỹ thuật cũng chẳng có kinh nghiệm quản lý", "việc mua bán doanh nghiệp khiến hiện tượng tài sản quốc doanh thất thoát trở nên nghiêm trọng".
Đến năm 1997, Đông Nam Á bùng nổ khủng hoảng tài chính, Hoàng Hồng Niên tổn thất nặng nề. Ông bèn bán dần phần lớn cổ phần, thu về khoảng 700 triệu đô la Hong Kong, hoàn toàn cắt đứt quan hệ với Trung Sách. Theo truyền thông Hong Kong đưa tin, thông qua hàng loạt hành động thu mua và bán cổ phiếu, Hoàng Hồng Niên đã thu lợi nhuận hơn 2,6 tỷ đô la Hong Kong. Năm 1999, Trung Sách - lúc này đã không còn liên quan tới Hoàng Hồng Niên - cùng các công ty hợp tác khác tại Trung Quốc đã lỗ tổng cộng 332 triệu đô la Hong Kong.
Sau khi kết thúc "trò chơi Trung Sách", Hoàng Hồng Niên tuyên bố chuyển hướng công ty sang lĩnh vực tư vấn công nghệ và thương mại điện tử, công ty cũng đổi tên thành "China Internet Global Alliance Limited". Ông từng cố gắng nắm quyền kiểm soát công ty Internet đầu tiên của Trung Quốc là Doanh Hải Uy, nhưng cuối cùng cũng chẳng đi đến đâu. Tháng 11 năm 2000, Hoàng ký hợp đồng với Tập đoàn Hưng Phát Trung Quốc trực thuộc Quốc vụ viện để thành lập một công ty tên là Công ty TNHH Chiến lược Trung Hưng. Trung Sách hy vọng thông qua cách thức "Trung - Trung - Ngoại" để tham gia vào các lĩnh vực nhạy cảm chưa mở cửa như viễn thông, tài chính. Vốn đăng ký của Chiến lược Trung Hưng là 100 triệu USD, trong đó Trung Sách chiếm 45% cổ phần. Kế hoạch này khi công bố đã gây chấn động không nhỏ, nhưng sau đó cũng không có thêm tin tức gì.
Hoàng Hồng Niên là thương nhân quốc tế đầu tiên mang khái niệm "vận hành vốn" tới Trung Quốc. Khi đó, cả Trung Quốc và ông đều chưa chuẩn bị sẵn sàng, vì vậy ông chỉ kiếm được những khoản tiền đầy tranh cãi, chứ không thể cắm được "rễ" ngành nghề xuống mảnh đất từng lưu giữ ký ức xanh tươi của mình.