Ba Mươi Năm Sôi Động – Doanh Nghiệp Trung Quốc 1978–2008

Lượt đọc: 940 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1988 Sự thức tỉnh của tư bản (2)

❊ ❊ ❊

Nhìn từ bề ngoài, bi kịch của Vạn Bảo là do mất cân đối giữa sản xuất và tiêu thụ gây ra. Từ tháng 6, lạm phát trên toàn quốc gia tăng, Quảng Đông cũng như mọi nơi khác trong nước xuất hiện làn sóng đổ xô đi mua hàng. Những đoàn xe chờ tủ lạnh trước cổng nhà máy Vạn Bảo nối đuôi nhau từ xưởng sản xuất kéo dài ra tận con đường lớn cách xa cổng nhà máy. Các cơ quan cấp trên tìm đến Đặng Thiệu Thâm, ra lệnh cho ông phải nhanh chóng tung ra ba mươi nghìn chiếc tủ lạnh vào thị trường Quảng Châu để bình ổn giá cả hàng gia dụng đang tăng lên từng ngày. Đặng Thiệu Thâm một mặt ra lệnh cho phân xưởng chia ba ca sản xuất, làm việc ngày đêm, mặt khác cấp tốc điều động tủ lạnh từ những nơi khác về để giải quyết cơn khát hàng của Quảng Châu. Không ngờ rằng, đến đầu năm 1989, do việc "công phá giá cả" thất bại, nhà nước thực hiện điều tiết vĩ mô, hàng hóa gia dụng lập tức rơi vào tình trạng ế ẩm. Đặng Thiệu Thâm báo cáo khẩn cấp lên cấp trên, cho biết kho bãi đã quá tải, vốn lưu động bị ứ đọng nghiêm trọng, Vạn Bảo cần dừng sản xuất để chỉnh đốn, kiểm tu thiết bị và tiêu thụ hàng tồn kho. Thế nhưng, cấp trên lại gay gắt chỉ trích ông "ảnh hưởng đến quyết sách của lãnh đạo", yêu cầu Vạn Bảo tiếp tục sản xuất "để phòng hờ". Cứ như vậy, hàng trăm triệu nhân dân tệ vốn bị ứ đọng, chuỗi tiền mặt nhanh chóng đứt gãy.

Khi cấp trên cũng nhận thấy tình hình có chút bất ổn, họ lại khẳng định đây là do Đặng Thiệu Thâm tiêu thụ kém cỏi gây ra. Dưới quyết sách của bí thư Đảng ủy, doanh nghiệp thay đổi phương thức bán hàng ban đầu, từ chỗ do công ty bán hàng thống nhất kinh doanh, chuyển thành các nhà máy sản xuất tủ lạnh trong tập đoàn "phân cấp bán hàng", kết quả là hệ thống bán hàng và giá bán buôn bán lẻ trở nên hỗn loạn. Các nhà phân phối ở khắp nơi thừa cơ tranh nhau gom hàng nhưng không chịu thanh toán, Vạn Bảo trong thời gian ngắn đã phát sinh gần 800 triệu nhân dân tệ nợ xấu. Mùa thu năm 1989, Đặng Thiệu Thâm lòng đầy thất vọng đã lặng lẽ rời đi, sang tận Canada bế quan không trở về. Cứ thế, người khổng lồ điện gia dụng đầu tiên xuất hiện sau khi Trung Quốc cải cách mở cửa - Vạn Bảo Điện Khí - suy sụp không gượng dậy nổi.

Sự sụp đổ của Vạn Bảo nhìn qua là do quản lý kém, nhưng những mâu thuẫn nội tại bên trong không gì là không liên quan đến thể chế. Năng lượng sáng tạo mà chế độ khoán có thể khơi dậy đã nhanh chóng tiêu tan sau khi doanh nghiệp trỗi dậy. Khi Đặng Thiệu Thâm muốn tiếp tục có những hành động trên con đường làm rõ quyền sở hữu tài sản, ông đã chọn một phương thức vô cùng mạo hiểm: vượt qua những người sở hữu tài sản hiện tại, lấy danh nghĩa thí điểm cải cách để mưu cầu sự ủng hộ từ các cơ quan hành chính cao hơn. Ông vừa mới bước bước đầu tiên đã lập tức vấp phải sự bắn tỉa chí mạng. Trong lịch sử doanh nghiệp Trung Quốc, số phận của Đặng không phải là trường hợp cá biệt.

Việc Đặng Thiệu Thâm lặng lẽ rời đi vào năm đó đã bị định tính là "bỏ trốn". Một vị thị trưởng thành phố Quảng Châu từng đề xuất thông báo cho Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế (Interpol) truy nã Đặng Thiệu Thâm, nhưng vì phải tốn 200 nghìn USD nên cuối cùng đành bỏ dở. Phóng viên Tân Hoa Xã Cố Vạn Minh từng viết bài dài để đưa tin về vụ án này. Từ những tài liệu ông tiết lộ, các cáo buộc nhắm vào Đặng Thiệu Thâm đều mang tính suy đoán, ví dụ như: Vạn Bảo liên tiếp nhập ba dây chuyền sản xuất tủ lạnh, tốn kém 60 triệu nhân dân tệ, nhân viên trong xưởng nghi ngờ nói: "Theo thông lệ nước ngoài, bên mua ít nhất phải có 5% - 10% tiền hoa hồng, tại sao Đặng Thiệu Thâm không lấy về cho công ty?". Ngoài ra, còn có tin đồn Đặng có mối quan hệ không bình thường với một ông chủ Viên người Singapore, có quan hệ nam nữ bất chính, vân vân.

Tuy nhiên, đầy kịch tính là vị "nghi phạm bỏ trốn" mang tiếng xấu này năm năm sau lại đường hoàng trở về nước. Ông đổi tên thành Đặng Mễ Cao, khởi nghiệp lần nữa ở vùng Quảng Đông. Ban đầu ông mở một nhà máy điều hòa tại huyện Tùng Hóa, ba năm sau, do bị lừa một khoản vay 30 triệu nhân dân tệ, Đặng Mễ Cao tán gia bại sản. Sau khi nhà máy thanh lý, người đã bước sang tuổi 60 như ông được mời đến công ty điều hòa Nhạc Hoa ở Huệ Châu đảm nhiệm chức tổng giám đốc. Hai năm sau, do "không thể hòa hợp" với hội đồng quản trị, ông lại chuyển sang công ty điện gia dụng Uy Lực, phụ trách sản xuất và tiêu thụ dự án điều hòa. Năm 2002, Đặng Mễ Cao khi đang tại chức ở công ty Uy Lực đã nhận trả lời phỏng vấn của phóng viên, nhắc đến chuyện Vạn Bảo năm xưa, Đặng với khuôn mặt đầy nếp nhăn nói: "Lúc đó nói tôi bỏ trốn mang theo hàng chục triệu tiền vốn, sau này kết quả kiểm toán ra rồi, tôi trong sạch". Khi ông nói câu này, công ty Vạn Bảo Điện Khí từng một thời coi thường thiên hạ đã sa sút thành một nhà máy hạng hai không đáng nhắc tới.

Việc Đặng Thiệu Thâm "bỏ trốn" từng gây ra một phen xôn xao trong giới doanh nghiệp Hoa Nam, rất nhiều người đều khẳng định ông bị bại lộ nên cuốn tiền chạy trốn, hầu như không ai suy nghĩ về sự kiện này từ góc độ thể chế. Mười năm sau, những doanh nhân cùng thế hệ với ông như Lý Kinh Vĩ của Kiện Lực Bảo và Phan Ninh của Khoa Long, đều không ngoại lệ mà rơi vào cái bẫy số phận tương tự.

Ở miền Nam thời bấy giờ, so với một Đặng Thiệu Thâm thân bại danh liệt, xui xẻo tột cùng, thì Vương Thạch ở Thâm Quyến may mắn hơn nhiều.

Vạn Khoa của Vương Thạch sau khi thành lập vào năm 1984 đã liên tục nảy sinh ma sát với công ty mẹ - Tổng công ty Phát triển Đặc khu Thâm Quyến. Năm 1985, công ty mẹ muốn rút 8 triệu USD từ tài khoản của Vạn Khoa, Vương Thạch quyết sống chết không nghe. Kể từ đó, hai bên liên tục đấu đá ngầm về quyền kiểm soát Vạn Khoa. Khoảng năm 1986, chính quyền Thâm Quyến muốn thúc đẩy thí điểm chế độ cổ phần tại các công ty quốc doanh. Khi đó, tình hình các doanh nghiệp quốc doanh vẫn còn khá ổn, nhiều người cho rằng làm chế độ cổ phần, thiết lập hội đồng quản trị là rước thêm một "mẹ chồng" về nhà. Vì thế không có doanh nghiệp nào hưởng ứng. Chỉ có Vương Thạch xung phong. Ông nhận thức được rằng: "Vạn Khoa đang đứng trước ngã ba đường, cải cách cổ phần là một cơ hội để Vạn Khoa có thể tự chủ kinh doanh". Trong khi đó, Phát triển Đặc khu Thâm Quyến (Thâm Đặc Phát) lại kiên quyết từ chối. Chủ tịch hội đồng quản trị đương nhiệm nói với Vương Thạch: "Cậu có là Tôn Ngộ Không cũng không thoát khỏi lòng bàn tay Như Lai Phật tổ của tôi đâu". Vương Thạch cảm thán với người khác rằng: "Vạn Khoa không phải là Tôn Ngộ Không, nhưng lại cảm thấy có một bàn tay vô hình đang xòe ra bên dưới, bất cứ lúc nào cũng có thể nắm chặt lại".

Cuộc đấu sức bắt đầu từ đó. Thông qua sự giới thiệu của bạn bè, Vương Thạch làm quen với các thư ký của lãnh đạo chính quyền Thâm Quyến. Bí thư Thành ủy kiêm Thị trưởng Lý Hạo không định kỳ hẹn gặp Vương Thạch. Theo lời Vương Thạch: "Sự sắp xếp này hoàn toàn tránh né công ty chủ quản cấp trên và các cơ quan chính phủ liên quan, thuộc về kênh bí mật của Bí thư Thành ủy, có chút mùi vị của hoạt động ngầm". Đến năm 1988, thí điểm chế độ cổ phần của Vạn Khoa được đưa vào chương trình nghị sự. Khi Thâm Đặc Phát biết tin chính quyền thành phố chuẩn bị ban hành văn bản đồng ý phương án cải cách cổ phần của Vạn Khoa, họ đã cử một nhóm kiến nghị đến Văn phòng Chính phủ thành phố, yêu cầu mạnh mẽ rút lại văn bản cải cách cổ phần với lý do "chính phủ can thiệp vượt quyền vào quản lý bình thường nội bộ doanh nghiệp". Văn phòng chính phủ đành tạm dừng việc đồng ý văn bản cải cách cổ phần của Vạn Khoa.

Vương Thạch bướng bỉnh đành đánh cược một phen, trực tiếp đi kiện với Lý Hạo. Ông ghi lại cảnh tượng lúc đó: Văn phòng Bí thư Thành ủy rất nhỏ, Lý Hạo ngồi sau bàn làm việc, tay cầm bút lông, vừa nghe báo cáo vừa luyện thư pháp. Sau khi nghe Vương Thạch trút hết nỗi khổ, ông đặt bút xuống, từng chữ một nói: "Cải cách là việc vô cùng không dễ dàng, các cậu người trẻ tuổi đừng nóng nảy, phải bình tĩnh, khó khăn càng lớn thì càng phải chú ý phương pháp và chiến lược".

Dưới sự ủng hộ ngầm của Lý Hạo, phương án cải cách cổ phần của Vạn Khoa sau khi bị gác lại một tháng cuối cùng đã được thông qua. Tháng 12, Vạn Khoa phát hành 28 triệu cổ phiếu, mỗi cổ phiếu một nhân dân tệ, khi đó tài sản ròng của Vạn Khoa chỉ có 13,24 triệu nhân dân tệ. Vương Thạch đích thân dẫn đội ra đường chào mời mua cổ phiếu, có vài lần còn chạy vào chợ rau đặt cạnh những bó cải thảo để rao bán. Ông còn nhờ Cục Công thương giúp đỡ, thông qua Hiệp hội Cá thể mời các hộ kinh doanh cá thể đến họp. Vương Thạch tại buổi họp liên tục tuyên truyền ý nghĩa của việc phát hành cổ phiếu và giá trị đầu tư của cổ phiếu, người ở dưới nghe không kiên nhẫn nổi, liền đứng dậy lớn tiếng nói: "Không cần nói nhiều thế nữa, phải phân bổ bao nhiêu thì chúng tôi quyên góp bấy nhiêu thôi". [Theo bài phỏng vấn của Chu Hoa - tác giả cuốn "Người tên Vương Thạch", lúc đó chỉ có hai doanh nghiệp chủ động yêu cầu mua cổ phiếu Vạn Khoa, một là Tập đoàn Trung Sáng, hai là công ty Huawei vừa mới thành lập không lâu. Nhậm Chính Phi mua một lúc 300 nghìn cổ phiếu, còn bỏ tiền mời nhân viên tiếp thị của Vạn Khoa đi ăn một bữa tối.]

Hơn một năm sau, thị trường chứng khoán Thâm Quyến khai trương, Vạn Khoa chính thức niêm yết với mã số 0002. Nhà văn thương mại Vương An trong cuốn sách "Cổ gia, mời ông ngồi ghế trên" đã cảm thán rằng: "Người ăn cua đầu tiên, hoặc là chết, hoặc là miễn phí".

Sự thật là, Vạn Bảo xui xẻo đã "chết", Vạn Khoa may mắn đã được "miễn phí".

Cuộc kháng cự của Vương Thạch với Thâm Đặc Phát còn kéo dài 12 năm, mãi đến ngày 10 tháng 8 năm 2000, dưới sự vận hành của các nhà đầu cơ, Thâm Đặc Phát đồng ý chuyển nhượng cổ phần Vạn Khoa đang nắm giữ cho Tổng công ty Hoa Nhuận Trung Quốc, cuộc "đấu tranh giữa mẹ và con" này mới coi như hạ màn. Vào 8 giờ sáng ngày hôm sau, Vương Thạch viết một bài đăng trên mạng: "Ở năm thứ mười sáu, Vạn Khoa cuối cùng cũng hoàn toàn thoát khỏi Thâm Đặc Phát. Vốn dĩ đầy bụng những lời phàn nàn, nhưng vào ngày hôm qua khi thoát ly, tất cả bỗng chốc tan biến không còn dấu vết. Nhớ lại những sóng gió, đối diện với tòa nhà Thâm Đặc Phát, thầm niệm: Tạm biệt, chủ cũ".

Từ năm 1984 đến khoảng năm 1988, trên khắp cả nước, những doanh nghiệp phát hành cổ phiếu và trái phiếu như Vạn Khoa không phải là ít. Báo "Tham khảo Kinh tế" đưa tin: "Cả nước đã có 6000 doanh nghiệp thực hiện chế độ cổ phần", ý định ban đầu của họ không liên quan quá nhiều đến thị trường vốn sau này, chủ yếu là để giải quyết bài toán thiếu hụt vốn của doanh nghiệp.

Về việc cổ phiếu nào là "cổ phiếu đầu tiên của Tân Trung Quốc", vẫn luôn tồn tại tranh cãi. Trong đó những đơn vị tham gia cạnh tranh có: Cổ phiếu do Công ty Tín thác Triển lãm Công nghiệp Thành Đô phát hành tháng 12 năm 1980; Chứng chỉ cổ phần do Công ty Đầu tư Liên hợp Bảo An Thâm Quyến phát hành năm 1983; Cổ phiếu kỳ hạn ba năm do Công ty Cổ phần Bách hóa Thiên Kiều Bắc Kinh phát hành tháng 9 năm 1984; Cổ phiếu do Công ty Âm thanh Phi Nhạc Thượng Hải phát hành tháng 11 năm 1984. Vì Đặng Tiểu Bình từng tặng một cổ phiếu Phi Nhạc cho Chủ tịch Sàn giao dịch Chứng khoán New York John Phelan, nên mức độ công nhận của nó là cao nhất. Cổ phiếu Phi Nhạc thực hiện nguyên tắc "bảo toàn vốn lãi, tự nguyện đăng ký, tự do rút vốn", cổ phiếu chia thành cổ phiếu tập thể và cổ phiếu cá nhân, tỷ suất cổ tức tương ứng với lãi suất tiền gửi tiết kiệm định kỳ một năm và tiết kiệm một năm của doanh nghiệp, vẫn còn một khoảng cách với cổ phiếu theo nghĩa thực sự.

Thời đó, doanh nghiệp quốc doanh lớn có thể nhận được ưu tiên khi vay vốn ngân hàng, doanh nghiệp tập thể khó khăn hơn một chút, còn doanh nghiệp hương trấn thì không có khả năng. Vì vậy, những đơn vị đầu tiên được cấp phép phát hành trái phiếu đều là những doanh nghiệp quốc doanh kinh doanh khó khăn, không có cách nào vay vốn ngân hàng, cùng với những doanh nghiệp tập thể và hương trấn có quan hệ khá gần gũi với chính quyền và tình hình phát triển tốt. Số tiền phát hành trái phiếu này đều không lớn, Thượng Hải có 1548 doanh nghiệp vừa và nhỏ phát hành trái phiếu, tổng số tiền chỉ có 240 triệu nhân dân tệ, đơn vị phát hành công khai ra xã hội chỉ có hai công ty là Phi Nhạc và Diên Trung, số tiền cũng chỉ có 5 triệu nhân dân tệ. Hai doanh nghiệp này tại Thượng Hải đều là những công ty nhỏ không tên tuổi, công ty trước là một nhà máy nhỏ có vốn 500 nghìn nhân dân tệ chuyên sản xuất âm thanh cấp thấp, công ty sau lại càng không đáng kể. Trong những năm đó, áp lực việc làm ở Thượng Hải rất lớn, nhiều khu phố đã tổ chức cho thanh niên đợi việc trở về, phụ nữ gia đình và người khuyết tật lập ra các cửa hàng thực phẩm nhỏ, cửa hàng sửa chữa điện và tiệm cắt tóc phục vụ cộng đồng. Công ty Cổ phần Thực nghiệp Diên Trung chính là một cơ quan quản lý do chính quyền quận Tĩnh An thành lập để quản lý những "tổ sản xuất ngõ hẻm" này, vốn đăng ký của nó cũng chỉ có 500 nghìn nhân dân tệ. Không ai ngờ rằng, chính vì đi trước vài năm, sau này chúng lại nổi tiếng đến vậy, giống như cột mốc của các công ty Thượng Hải.

Đối với người dân bình thường, cổ phiếu, trái phiếu hoàn toàn là món đồ mới lạ, người dám thử sức không có mấy ai. Năm 1986, Ngân hàng Công thương Thượng Hải mở quầy giao dịch cổ phiếu đầu tiên trên cả nước, ngày đầu tiên bán được 1700 cổ phiếu Diên Trung và Phi Nhạc, sau đó giao dịch mỗi ngày duy trì ở mức khoảng 30 cổ phiếu, gần như là "thị trường chết". Năm 1988, Phát triển Thâm Quyến và Vạn Khoa lần lượt niêm yết giao dịch tại Thâm Quyến, cũng là ngày ngày không ai đoái hoài, giống như hai con cá nhiệt đới lười biếng. Phóng viên Francine Brevetti của tờ "San Francisco Examiner" (Mỹ) nói: "Thị trường chứng khoán Thượng Hải vốn được thổi phồng rất ghê gớm thực chất là một danh từ sai lệch không xác thực. Khoảng 140 doanh nghiệp địa phương đã phát hành cổ phiếu, tuy nhiên chỉ có hai doanh nghiệp được Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc phê duyệt niêm yết bán ra".

Rõ ràng, nếu không có một thị trường vốn được chuẩn hóa, những doanh nghiệp phát hành cổ phiếu và trái phiếu đó chẳng qua chỉ là vay được một khoản tiền từ một nhóm người xa lạ mà thôi.

Tháng 8 năm 1988, luật sư đối tác 36 tuổi của Công ty Luật Mudge Rose ở Phố Wall là Cao Tây Khánh và nhà giao dịch của Sàn giao dịch Chứng khoán New York là Vương Ba Minh hẹn nhau từ New York trở về Bắc Kinh. Không ai mời họ về, lòng nhiệt huyết đối với công cuộc xây dựng đất nước là động lực duy nhất. Mục tiêu về nước của họ là: trù bị thành lập sàn giao dịch chứng khoán của Trung Quốc. Hai người hẹn nhau, sau khi về nước làm năm năm, nếu không thành công, một người đi sửa xe đạp, một người đi bán bánh bao.

Họ nhanh chóng tìm được những người đồng chí hướng trong nước. Vào mùa hè năm đó, nhóm thanh niên ngoài 30 tuổi, tràn đầy năng lượng này thường tụ tập tại nhà của Lý Thanh Nguyên - nữ trưởng phòng thuộc Vụ Vĩ mô, Ủy ban Cải cách Thể chế Nhà nước. Nhà họ Lý nằm ở ngõ Linh Cảnh, phía tây thành phố Bắc Kinh, trong sân có một cây hồng, mọi người thường tranh cãi dưới gốc cây về các chi tiết xây dựng sàn giao dịch chứng khoán. Lá cây hồng rất xum xuê, đến giữa hè sẽ nở ra những đóa hoa nhỏ, sau đó kết thành những quả xanh như những vì sao. Cao Tây Khánh đùa rằng, sau này sàn giao dịch dựng lên rồi, cái cây này cũng sẽ nổi tiếng như cái cây ở Mỹ. Cái cây ở Mỹ đó nằm tại Manhattan, năm 1792, 24 nhà môi giới chứng khoán New York tụ tập dưới một gốc cây ngô đồng quyết định thành lập một thị trường chứng khoán mới. Đến nay, trước tòa nhà Sàn giao dịch New York vẫn còn dựng một tấm biển đồng: "Trung tâm thị trường mua bán chứng khoán này, năm 1792 được xây dựng cho các thương nhân hằng ngày tụ tập dưới gốc cây ngô đồng gần đó".

Nhóm của Cao Tây Khánh viết ra một bản "Ý tưởng về việc sáng lập và quản lý thị trường chứng khoán Trung Quốc", đây là văn bản mang tính xây dựng đầu tiên trình bày một cách hệ thống về thị trường chứng khoán Trung Quốc. Ngày 9 tháng 11, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện Diêu Y Lâm cùng với Ủy viên thường vụ Ủy ban Cố vấn Trung ương kiêm Thư ký trưởng Nhóm lãnh đạo Tài chính Trung ương Trương Kính Phu cùng nghe nhóm thanh niên này báo cáo tại Trung Nam Hải. Trương tiết lộ rằng, cải cách Trung Quốc năm nay đã đến một nút thắt, xuất hiện lạm phát, kinh tế quá nóng và phong trào đổ xô mua hàng, nông nghiệp, công nghiệp và thương mại đều đối mặt với hàng loạt khó khăn. Trung ương quyết định dành ba năm để quản lý và chỉnh đốn, cải cách thế nào có thể quy nạp thành bốn phương diện, hai cái là về điều tiết vĩ mô, một cái là chế độ doanh nghiệp, rốt cuộc nên nhìn nhận chế độ cổ phần thế nào, cũng như có nên phổ biến chế độ cổ phần hay không, còn một cái nữa là việc thiết lập thị trường vốn.

Tại buổi báo cáo này, lãnh đạo Trung ương quan tâm đầu tiên không phải là làm sao để xây dựng thị trường vốn, mà là có nên xây dựng hay không. Câu hỏi mà Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nhà nước Lữ Đông đặt ra là: "Doanh nghiệp dựa trên sở hữu công và doanh nghiệp dựa trên sở hữu tư, cổ phiếu niêm yết có gì khác biệt?". Những lãnh đạo khác lại quan tâm: "Sau khi sở hữu công niêm yết, tính chất sở hữu của nó có thay đổi không?". Thời đó, "họ Tư" hay "họ Xã" là câu hỏi đúng sai đầu tiên mà mọi cải cách kinh tế phải trả lời. Để trả lời, hay nói cách khác là "né tránh" vấn đề này, nhóm Cao Tây Khánh đã nghĩ ra một danh từ mới là "chế độ cổ phần tập thể". [Thời đó, còn xuất hiện một phương án cải cách doanh nghiệp quốc doanh cấp tiến, người soạn thảo là Cung Trứ Minh - người từng giữ chức kỹ sư trưởng Trung tâm Dự báo thuộc Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, lúc đó là Chủ nhiệm Văn phòng Cải cách Thể chế Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc. Trong báo cáo mang tên "Cương yếu tổng hợp cải cách Trung Quốc", ông cho rằng, cải cách doanh nghiệp muốn tiến về phía trước, bắt buộc phải làm rõ quyền sở hữu tài sản, phải có người gánh vác thua lỗ của doanh nghiệp chứ không phải hoàn toàn do nhà nước và xã hội gánh vác. Phương án Cung Trứ Minh thiết kế là chuyển đổi các doanh nghiệp quốc doanh và phần lớn doanh nghiệp tập thể hiện có thành công ty hữu hạn, theo nguyên tắc "người lao động sở hữu cổ phần", phát cổ phiếu miễn phí cho tất cả nhân viên trong doanh nghiệp, từ đó cải tạo phần lớn doanh nghiệp quốc doanh thành doanh nghiệp sở hữu tập thể theo chế độ cổ phần, nhà nước chỉ đóng vai trò là "trọng tài" và "người bảo vệ trật tự", không còn là chủ sở hữu và người kinh doanh chính nữa.]

Buổi báo cáo này là cuộc họp chính thức đầu tiên về việc trù bị thành lập sàn giao dịch chứng khoán của Trung Quốc. Trong thời gian đó, kết luận mà tầng lớp quyết sách Trung ương và các chuyên gia đưa ra là: Trung Quốc làm sàn giao dịch chứng khoán, "một là điều kiện chưa chín muồi, hai là bắt buộc phải làm".

Ngay khi Cao Tây Khánh và Vương Ba Minh ở Bắc Kinh đang bận rộn với việc trù bị thị trường vốn, thì tại Thượng Hải, những người khác đã xắn tay áo bắt đầu làm việc.

Giữa năm, Thượng Hải lần lượt thành lập ba công ty chứng khoán, lần lượt là Thân Ngân của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc chi nhánh Thượng Hải (sau này chuyển cho Ngân hàng Công thương chi nhánh Thượng Hải), Hải Thông của Ngân hàng Giao thông và Vạn Quốc theo chế độ cổ phần. Hai đơn vị trước chịu sự quản lý của thể chế khá nhiều, còn Vạn Quốc theo chế độ cổ phần thì tự nhiên lộ ra ưu thế của nó. Tổng giám đốc của nó tên là Quản Kim Sinh, sau này ông có danh hiệu là "Bố già chứng khoán".

Quản Kim Sinh sinh ra trong một gia đình nghèo khó ở một ngôi làng nhỏ tại Giang Tây, năm 1983 nhận bằng thạc sĩ quản lý thương mại và luật tại Đại học Brussels, Bỉ. Sau khi tốt nghiệp về nước, trong thời gian dài ông không có việc gì làm, bị phái đến một "Lớp nghiên cứu chấn hưng Thượng Hải" tại Trường Đảng Thượng Hải để "tu nghiệp". Đến khi Vạn Quốc Chứng khoán thành lập, Quản Kim Sinh 41 tuổi cuối cùng cũng được khai quật, nhậm chức tổng giám đốc của công ty chứng khoán có số vốn cổ phần 35 triệu nhân dân tệ này.

Vạn Quốc thành lập, mục tiêu đầu tiên Quản Kim Sinh nhắm vào là trái phiếu kho bạc. Trung Quốc bắt đầu phát hành trái phiếu quốc gia từ năm 1981, theo thông lệ quốc tế gọi là trái phiếu kho bạc. Trong một thời gian khá dài, do thiếu tính lưu thông nên nó rất không được hoan nghênh. Nhiều chính quyền địa phương lấy tính Đảng làm khẩu hiệu, yêu cầu tất cả đảng viên và công chức bắt buộc phải mua, có chính quyền và doanh nghiệp còn cưỡng chế trừ thẳng vào lương để phát hành. Về sau, một cách tự nhiên đã xuất hiện giao dịch ngầm trái phiếu kho bạc, một số người thu mua trái phiếu với giá thấp bằng năm, sáu phần mười, còn có doanh nghiệp dùng trái phiếu để biến tướng giảm giá nhằm tiêu thụ sản phẩm ứ đọng. Do giá thu mua ở các nơi khác nhau, nên đã hình thành một "chợ đen" có lợi nhuận. Những hành vi này tuy thuộc về phạm pháp nhưng lại ngày càng lan rộng, trở thành xu thế không thể ngăn cản. Đến tháng 3 năm 1988, Bộ Tài chính buộc phải đưa ra "Phương án thực thi thí điểm mở cửa thị trường chuyển nhượng trái phiếu kho bạc", cho phép trái phiếu kho bạc niêm yết lưu thông giao dịch. Tháng 4, Thượng Hải, Thâm Quyến, Vũ Hán và bảy thành phố khác đi đầu thí điểm mở cửa, tháng 6 lại mở cửa thêm 54 thành phố.

Quản Kim Sinh là nhà môi giới tổ chức đầu tiên đánh hơi thấy cơ hội kinh doanh từ việc lưu thông trái phiếu kho bạc. Lúc đó, ngân hàng toàn quốc chưa kết nối mạng, nên giá trái phiếu kho bạc ở các nơi chênh lệch rất lớn. Vạn Quốc chỉ có hơn mười người, Quản Kim Sinh dẫn quân đi hết, chạy khắp 250 thành phố lớn nhỏ và làng quê hẻo lánh trên cả nước, đi đâu cũng thu mua trái phiếu kho bạc. Có một lần, ông đích thân đến Phúc Châu để thu mua, vừa ra tay đã gom vào 2 triệu nhân dân tệ trái phiếu kho bạc. Những tờ trái phiếu thu được từ vô số nhà đầu tư nhỏ lẻ này đều là mệnh giá 5 tệ, 10 tệ, nhét đầy mấy bao tải lớn. Ông thuê một chiếc xe hơi chở thẳng về Thượng Hải, hai chiếc túi du lịch lớn đựng không hết, ông mỗi tay xách một cái ngồi máy bay về. Tại cửa an ninh sân bay, ông nói khó nói khăn thế nào cũng không để nhân viên an ninh mở túi kiểm tra. Đến Thượng Hải, đáy túi đã rách toạc, ông vừa kéo vừa ôm mới thoát ra được khỏi sân bay. Đến năm 1989, doanh thu của Vạn Quốc đạt ba trăm triệu nhân dân tệ, trở thành công ty chứng khoán lớn nhất trong nước lúc bấy giờ, trong đó phần lớn nghiệp vụ đến từ việc đầu cơ chênh lệch giá trái phiếu kho bạc.

Nếu nói Quản Kim Sinh xuất thân thạc sĩ kép là một cao thủ thương trường, thì một nhân viên quản lý kho họ Dương trong thành phố Thượng Hải kia cũng có thể coi là một "thiên tài".

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ngô Hiểu Ba