Ba Mươi Năm Sôi Động – Doanh Nghiệp Trung Quốc 1978–2008

Lượt đọc: 940 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1978 Trung Quốc, trở lại (6)

❊ ❊ ❊

(6) Lỗ Quán Cầu chào hàng vừa vào cửa đã bị đuổi ra ngoài, vì không có "chỉ tiêu kinh doanh"

Tiêu Sơn tuy nằm ở vùng Giang Nam trù phú, nhưng lại là một vùng bình nguyên nhỏ được bồi đắp bởi cát sông, dân cư đông đúc mà đất đai cằn cỗi. Lỗ Quán Cầu từ nhỏ đã không có hứng thú với việc đồng áng. Ông bôn ba khắp các làng quê, trước học nghề rèn, sau học sửa xe đạp. Năm 25 tuổi, ông chạy vạy khắp nơi vay mượn được 4.000 tệ, dẫn theo 6 người lập nên "Nhà máy máy nông nghiệp Công xã Ninh Vi", tự mình làm giám đốc. Ninh Vi là nơi ông sinh ra, trong gần 50 năm sự nghiệp, vị "cây đại thụ của doanh nghiệp Trung Quốc" lừng danh sau này đã đưa công ty vươn ra tận bên kia đại dương, nhưng bản thân ông thì chưa từng rời xa mảnh đất này.

Lỗ Quán Cầu lập xưởng, có thể nói là khởi nghiệp từ hai bàn tay trắng. Nhà máy không có nơi mua nguyên liệu, ông đạp chiếc xe đạp cũ kỹ mỗi ngày vượt sông vào thành phố Hàng Châu, đi khắp các ngõ ngách thu gom thép vụn. Có những ngày ông cuộn mình ngồi ngoài cửa các nhà máy quốc doanh lớn suốt cả ngày, hễ thấy trong xưởng vứt ra ống thép bỏ đi hay dây sắt cũ, ông lại nhặt về như báu vật. Sản xuất cái gì cũng bữa đực bữa cái. Ban đầu ông làm một ngàn lưỡi cày, chạy đi chào hàng ở công ty máy nông nghiệp, vừa vào cửa đã bị đuổi ra ngoài, vì ông không có "chỉ tiêu kinh doanh". Đó là thời đại kinh tế kế hoạch thắt chặt như thùng sắt, sản xuất cái gì, mua cái gì, bán cái gì đều phải do nhà nước ban hành chỉ tiêu, hàng hóa lưu thông ngoài chỉ tiêu đều bị coi là "phi pháp". Lỗ Quán Cầu tinh ranh đã luồn lách khắp nơi, cuối cùng cũng tìm được một khe hở để tồn tại, đó là cung cấp linh kiện phụ trợ cho nông cụ của các công xã xung quanh, như búa, tấm đập trên máy nghiền thức ăn, càng bánh xe sau trên máy cày, vòi phun dầu trên máy diesel, khách cần gì làm nấy.

Đến năm 1978, quả cầu tuyết dần lăn lớn, nhà máy của Lỗ Quán Cầu đã có tới 400 người, giá trị sản xuất hàng năm đạt hơn 3 triệu tệ. Trước cửa nhà máy treo bốn tấm biển: "Nhà máy máy nông nghiệp Ninh Vi", "Nhà máy vòng bi Ninh Vi", "Nhà máy xích tải Ninh Vi", "Nhà máy đúc thép mẫu chảy Ninh Vi". Đến mùa thu năm đó, ông lại treo thêm tấm biển "Nhà máy khớp vạn năng Ninh Vi". Người nông dân xung quanh e rằng chẳng mấy ai hiểu rõ đúc thép mẫu chảy hay khớp vạn năng rốt cuộc là thứ gì. Trong mắt người đời sau, từ việc cày cấy ruộng đồng đến công nghiệp hóa sơ khai, Lỗ Quán Cầu dường như đã nhọc công xây dựng nền móng doanh nghiệp cho riêng mình.

Điều đáng kinh ngạc hơn cả là Lỗ Quán Cầu, người chỉ có trình độ văn hóa lớp 6 và chưa từng tiếp xúc với bất kỳ kiến thức quản lý doanh nghiệp nào, đã sớm thử nghiệm các phương pháp quản lý nhà máy. Ngay khi thành lập xưởng vào năm 1969, ông đã thực hiện chế độ tiền lương cơ bản, lương công nhân cố định, quyết toán và phát theo tháng. Năm 1971, ông đề xuất chế độ lương theo sản phẩm (thời gian), phân phối thu nhập dựa trên khối lượng lao động của công nhân. Mãi đến bảy, tám năm sau, số ít các nhà máy quốc doanh thức tỉnh mới bắt đầu rụt rè thử nghiệm chế độ phân phối này. "Làm nhà máy không thể có gì làm nấy, đến một thời điểm nhất định phải nhỏ mà chuyên, nhỏ mà tinh." Lỗ Quán Cầu sau này nói, ông bắt đầu suy nghĩ về những vấn đề này từ năm 1978. Nếu đây là sự thật, ông có lẽ là một trong số ít người trong 800 triệu nông dân Trung Quốc lúc bấy giờ bắt đầu tư duy về những điều đó. Năm này, tại một số doanh nghiệp đã bắt đầu âm thầm khôi phục chế độ lương cơ bản cộng tiền thưởng, có nơi còn bắt đầu thử nghiệm chế độ lương theo sản phẩm. Tháng 9, Ngô Kính Liên, Chu Thúc Liên và Uông Hải Ba công bố bài luận dài "Thiết lập và cải thiện chế độ trích thưởng quỹ doanh nghiệp". Họ dùng thứ ngôn ngữ pha trộn giữa kinh tế học và chính trị học để chứng minh đầy vất vả rằng, chế độ đánh giá lợi nhuận và trích thưởng là phù hợp với đặc trưng kinh tế xã hội chủ nghĩa, không phải là "lợi nhuận là trên hết của chủ nghĩa tư bản". Trong kết luận, họ rất tự nhiên đổ lỗi cho Lâm Bưu và "Bè lũ bốn tên" về những quan điểm sai lầm đó: "Chúng trộn lẫn hai việc không liên quan vào nhau, tâm địa hiểm độc muốn biến doanh nghiệp của chúng ta thành những nha môn quan liêu chỉ biết ngồi ăn rồi phá."

Mùa đông năm 1978, mỗi buổi sáng ở Bắc Kinh đều mang lại cảm giác lạnh lẽo. Phóng viên Tân Hoa Xã viết trong bản tin: Mặt trời xám trắng cuối cùng cũng vất vả chui ra khỏi màn sương, chiếu những tia sáng không chút hơi ấm lên mọi ngóc ngách của thành phố khổng lồ này—những tòa nhà chen chúc, những con phố bàn cờ hẹp và dòng người đông đúc đang nhúc nhích.

Nếu nói chuyến thăm Nhật Bản của Đặng Tiểu Bình vào cuối năm mang đậm ý nghĩa "chiêu thương", thì các chủ doanh nghiệp Âu Mỹ cũng rõ ràng đánh hơi được hơi thở cải cách của Trung Quốc. Đặc biệt là nước Mỹ, siêu cường đã khôi phục quan hệ ngoại giao bình thường với Trung Quốc từ năm 1972, công ty nổi tiếng nhất của họ—Coca-Cola đã sớm đặt văn phòng đại diện tạm thời tại khách sạn Bắc Kinh ở đầu phố Vương Phủ Tỉnh. Người phụ trách công việc tại Trung Quốc lúc đó là một người đàn ông Mỹ trung niên tên là Hanh Đạt thuộc bộ phận Coca-Cola khu vực châu Á - Thái Bình Dương, những người từng tiếp xúc đều nhớ ông có mái tóc màu xám sắt. Ngày 17 tháng 12, hai bên Trung - Mỹ công bố "Thông cáo chung về việc thiết lập quan hệ ngoại giao Trung - Mỹ", tuyên bố "Hai bên Trung - Mỹ đã thỏa thuận, bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 1979, thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ". Ngày hôm sau, Hanh Đạt ký một hợp đồng với Tập đoàn Lương thực và Dầu mỏ Trung Quốc, được phép bán lô Coca-Cola đóng chai đầu tiên vào Trung Quốc. Theo thỏa thuận lúc bấy giờ, công ty Coca-Cola được phép cung cấp thiết bị đóng lon và đóng chai cho các thành phố và khu du lịch chính của Trung Quốc thông qua phương thức thương mại bù trừ và các phương thức thanh toán khác, lập xưởng chuyên dụng tại Trung Quốc để đóng lon, đóng chai và tiêu thụ trên thị trường Trung Quốc. Trước khi xưởng đóng lon được thành lập, từ năm 1979, Tập đoàn Lương thực và Dầu mỏ Trung Quốc sẽ áp dụng phương thức ký gửi để bán trước đồ uống Coca-Cola. Hợp đồng được ký tại tòa nhà Bộ Ngoại thương (nằm đối diện chéo với khách sạn Bắc Kinh, chỉ cách một con phố Trường An). Bộ trưởng Ngoại thương Lý Cường đã thêm một dòng trong văn bản phê duyệt: "Chỉ giới hạn bán tại các khách sạn, cửa hàng du lịch dành cho người nước ngoài." Mặc dù thái độ hợp tác rất thận trọng và dè dặt, nhưng trụ sở Coca-Cola rõ ràng rất hài lòng, bởi vì hầu như ai cũng biết, một khi cửa xả nước đã mở, thì sẽ không bao giờ đóng lại được nữa.

Tốc độ của Mỹ và Coca-Cola khiến người ta ghen tị, dường như không có quốc gia tư bản nào không quan tâm đến một Trung Quốc đang mở cửa. Bối cảnh quốc tế lúc đó là Mỹ vừa rút chân khỏi chiến tranh Việt Nam, không còn sức can thiệp vào các công việc khu vực khác; Liên Xô cũng vì bận can thiệp vào Afghanistan mà không rảnh tay, tình thế Chiến tranh Lạnh đang ở giai đoạn trầm lắng. Về kinh tế, các nước phương Tây vừa thoát khỏi suy thoái kinh tế, nguồn vốn nhàn rỗi khá nhiều, cấp thiết cần mở rộng thị trường hải ngoại. Tháng 4, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện phụ trách kinh tế Cốc Mục dẫn đầu phái đoàn Trung Quốc đi thăm các nước châu Âu, nơi nào đặt chân đến, các quan chức và thương nhân đều thể hiện ý nguyện mạnh mẽ muốn phát triển hợp tác kinh tế với Trung Quốc. Trong cuộc hội đàm với Tổng thống Pháp Giscard d'Estaing, Đại sứ Pháp tại Trung Quốc nói với Cốc Mục: "Nghe nói các ông muốn thực hiện 120 dự án lớn, nước Pháp chúng tôi rất muốn có đóng góp, cho chúng tôi 10 dự án được không?" Tại Cộng hòa Liên bang Đức, Thủ hiến bang Baden-Württemberg nói có thể cho Trung Quốc vay 5 tỷ USD, có thể ký kết ngay lập tức; bang North Rhine-Westphalia thì bày tỏ 10 tỷ USD cũng không thành vấn đề. Những thông tin này đều kích thích các nhà lãnh đạo Trung Quốc giữ thái độ tích cực đối với việc du nhập, từ đó hình thành tư tưởng đẩy nhanh mở rộng du nhập từ bên ngoài.①

Ngày 22 tháng 6, trong cuộc trò chuyện với Dư Thu Lý, Cốc Mục và những người khác, Đặng Tiểu Bình chỉ ra rằng việc làm ăn với nước ngoài có thể làm lớn hơn một chút, làm cho nó 50 tỷ, tình thế không thể bỏ lỡ, gan dạ hơn một chút, bước chân cũng có thể lớn hơn một chút. Đừng mãi bàn luận, nhìn chuẩn rồi thì làm, từ mỏ than, kim loại màu, dầu khí, trạm điện, điện tử, công nghiệp quân sự, giao thông vận tải cho đến nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi, đều có thể khởi công sớm nhất có thể.② Một sự thật ít người biết là, dựa theo bài phát biểu này của Đặng Tiểu Bình, Chính phủ Trung ương từng lên kế hoạch cho một kế hoạch thu hút vốn 10 năm khổng lồ, dự định du nhập 60 tỷ USD vốn nước ngoài, mở rộng đáng kể sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, khoa học kỹ thuật và sản phẩm vũ khí, trong đó bao gồm 120 dự án lớn như hầm mỏ, liên hợp thép và thiết bị hóa dầu. Chuyên gia về Trung Quốc tại Đại học Harvard, John King Fairbank, sau này bình luận: "Mục tiêu đó không thực tế, khoảng một năm sau đã phải hạ thấp đáng kể. Nhiều hợp đồng ký kết với nước ngoài buộc phải hủy bỏ hoặc trì hoãn vì Trung Quốc thiếu khả năng thanh toán." Ở đây ẩn chứa một sự thật, đó là trong những năm đầu cải cách mở cửa, Đặng Tiểu Bình từng thử nghiệm phương thức "đầu tư tập trung vốn khổng lồ" để nhanh chóng cứu vãn kinh tế Trung Quốc. Đây vẫn là một phong trào kinh tế quốc gia mạnh mẽ, khác với cách Mao Trạch Đông phát động quần chúng làm kinh tế, lần này Đặng Tiểu Bình đang cố gắng mượn tiền của chủ nghĩa tư bản để xây dựng "tòa cao ốc Trung Quốc". Tuy nhiên, bản kế hoạch lãng mạn này của ông nhanh chóng được chứng minh là không khả thi. Ngay khi phát hiện kế hoạch này không thể thực hiện, Đặng Tiểu Bình đã nhanh chóng thay đổi chiến lược, ông bắt đầu tập trung vào việc cải tạo hàng vạn doanh nghiệp quốc doanh, hy vọng thông qua việc phân quyền cải tạo chúng để kích thích sự tích cực sản xuất. Đồng thời, ông còn tiến hành thí điểm đặc khu ở phía Nam, nơi có vị trí địa lý tương đối xa xôi, thực lực kinh tế quốc doanh không mạnh, dùng hiệu ứng cửa sổ để thu hút vốn và kỹ thuật nước ngoài.

Tâm thế cấp bách này của các nhà lãnh đạo nhanh chóng lan tỏa đến các cấp cán bộ kinh tế. Làn sóng du nhập vốn nước ngoài đầu tiên của Trung Quốc bất ngờ bùng nổ vào nửa cuối năm đó. Bành Mẫn trong cuốn sách "Xây dựng cơ bản của Trung Quốc đương đại" do ông biên soạn đã tiết lộ: Năm 1978, cả năm ký kết được 78 tỷ USD hiệp định du nhập vốn nước ngoài, mà trong đó khoảng một nửa số tiền là những hợp đồng được tranh thủ ký kết trong vỏn vẹn 10 ngày từ 20 tháng 12 đến cuối năm.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ngô Hiểu Ba