Ba Mươi Năm Sôi Động – Doanh Nghiệp Trung Quốc 1978–2008

Lượt đọc: 940 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1985 Cuộc cuồng hoan không giới hạn (1)

❊ ❊ ❊

“Đi theo cảm giác, nắm chặt tay giấc mơ, bước chân càng lúc càng nhẹ, càng lúc càng hân hoan.” — Tô Nhu: “Đi theo cảm giác”

Từ tháng 6 năm 1984, đảo Hải Nam – nơi cô độc giữa biển khơi, trăm năm tĩnh mịch – bỗng chốc trở thành mảnh đất nóng rực rẫy sự xao động. Những thương nhân nhạy bén nhất trên khắp Trung Quốc đều kẹp chặt ví tiền đổ xô về đó. Một cuộc cuồng hoan tiền bạc trăm năm có một đang được trình diễn, vở kịch lớn này dự kiến kéo dài nửa năm, cuối cùng khép màn trong bi kịch.

Hải Nam lúc bấy giờ vẫn thuộc quyền quản lý của tỉnh Quảng Đông. Tháng 1 năm 1984, sau chuyến tuần du phương Nam của Đặng Tiểu Bình, Trung ương quyết định mở cửa 14 thành phố ven biển. Hải Nam, với vị trí kề cận Hồng Kông và Thâm Quyến, đương nhiên trở thành khu vực trọng điểm của công cuộc mở cửa. Bí thư Đảng ủy, Chủ nhiệm công sở khu hành chính Hải Nam khi ấy là Lôi Vũ đã “phấn khích đến mức đêm không chợp mắt”. Sau này ông hồi tưởng lại rằng, lúc đó ông đã tính một bài toán chi tiết: “Hải Nam muốn phát triển thì phải có tích lũy nguyên thủy, dựa vào đâu? Dựa vào Trung ương ư? Rất quan trọng, nhưng không đủ. Dựa vào viện trợ nước ngoài ư? Không thể nào. Có một cách nhanh nhất là tự mình ‘thảo thuyền tá tiễn’ (mượn tên trên thuyền cỏ).”

“Kế mượn tên” của Lôi Vũ chính là chuyển hóa các chính sách đặc thù mà Trung ương ban tặng thành tiền thật bạc thật. Ngay từ tháng 4 năm 1983, Quốc vụ viện Đảng Cộng sản Trung Quốc từng phê chuẩn một văn kiện mang tên “Biên bản thảo luận về vấn đề đẩy nhanh phát triển và xây dựng đảo Hải Nam”, trong đó chỉ rõ: “Khu hành chính Hải Nam có thể căn cứ vào nhu cầu để phê chuẩn nhập khẩu tư liệu sản xuất công nông nghiệp phục vụ xây dựng; có thể sử dụng ngoại hối để lại của địa phương để nhập khẩu một số mặt hàng tiêu dùng đang khan hiếm trên thị trường Hải Nam (bao gồm cả những mặt hàng nằm trong danh mục quốc gia kiểm soát xuất nhập khẩu).” Tuy nhiên, “Biên bản” này cũng quy định rõ ràng rằng “các loại vật tư, hàng hóa xuất nhập khẩu kể trên chỉ được giới hạn sử dụng và tiêu thụ trong phạm vi khu hành chính Hải Nam, không được phép chuyển bán ra ngoài khu hành chính.” “Kế mượn tên” của Lôi Vũ đã nhẹ nhàng “bỏ qua” đoạn văn bản phía sau này. Thực tế, ở Thâm Quyến thời bấy giờ, những công ty kiếm tiền bằng cách nhập khẩu hàng hóa do quốc gia kiểm soát nhiều không kể xiết.

Để tận dụng chính sách nhanh và nhiều nhất có thể nhằm hoàn thành tích lũy nguyên thủy, Lôi Vũ cùng các thuộc hạ rất tự nhiên nghĩ đến ô tô. So với việc nhập khẩu đồ gia dụng nhỏ hay thiết bị văn phòng, đây rõ ràng là mặt hàng trọng lượng nặng có lợi nhuận cao nhất và cũng là mặt hàng được thị trường nội địa hoan nghênh nhất. Tính toán của Lôi Vũ lúc đó là: “Nhập khẩu 13.000 chiếc bán lại cho nội địa, kiếm hai trăm triệu là được.”

Điều nằm ngoài dự đoán của ông là khi cánh cửa vừa mở, tình thế nhanh chóng trở nên không thể kiểm soát. Hải Nam năm 1984 là một vùng đất hẻo lánh, quan nghèo dân khổ. Tổng thu ngân sách toàn đảo lúc đó chỉ vỏn vẹn 286,5 triệu nhân dân tệ. Theo lời Lôi Vũ: “Đến tiền trả lương còn không đủ. Các công xã lúc đó chuyển thành hương và trấn phải treo biển hiệu, có công xã đến tiền làm biển hiệu cũng không có, tiền mua giấy tuyên truyền viết khẩu hiệu đi nghĩa vụ quân sự cũng không có, đó là sự thật.” Vậy mà giờ đây, chỉ cần có được một tờ công văn phê chuẩn, bán lại một chiếc ô tô là có thể kiếm được cả vạn tệ. Đối với người Hải Nam, đây chẳng khác nào đào được một giếng dầu ngay trước cửa nhà. “Lôi Vũ từng mô tả vùng nông thôn Hoa Nam khoảng năm 1982: ‘Lúc đó Hải Nam hoàn toàn không có ý thức hàng hóa. Người Hải Nam mang trứng, trái cây ra đầu đường cuối ngõ, dưới gốc cây đa để bán, họ toàn trốn ở chỗ khuất, không dám thu tiền. Đợi bạn lấy đồ rồi đặt tiền dưới chiếc giỏ của họ, người đi rồi họ mới dám nhặt lên. Họ cảm thấy lấy tiền của người ta thì ngại, nhưng không có tiền thì không xong.’ Không ai ngờ được rằng, chỉ vài năm sau, đồng tiền cuồn cuộn đổ về, sự chất phác mất sạch.” Trong phút chốc, toàn đảo rơi vào cơn điên cuồng, người người tranh nhau chạy công văn, nhà nhà buôn bán ô tô. Đến cả Lôi Vũ sau này cũng đành bất lực thừa nhận: “Đến cả nhà trẻ cũng đến xin công văn, vì công văn có thể biến thành tiền. Chạy sang tỉnh khác bán công văn, nơi đó không có công văn, đảo Hải Nam lại có công văn, họ chỉ cần chuyển tay là đưa công văn cho người khác, thế chẳng phải là kiếm được tiền sao?”

Mùa hè năm đó, hầu như ai trên đảo Hải Nam cũng bàn chuyện ô tô. Đi đến bất cứ quán trà, nhà hàng, khách sạn, cửa hiệu, cơ quan, nhà máy, trường học, tòa soạn báo nào, cho đến cả nhà trẻ, mẫu giáo, từ ngữ khiến người ta nghe đến ù tai chính là “ô tô”. Sau này có một bài phóng sự văn học mô tả một chi tiết: “Sáng hôm đó, một bà cô quét dọn pha trà trong cơ quan, vừa đếm ngón tay vừa tính toán với ông bác thu thư từ báo chí ở cổng: Nhập khẩu một chiếc xe van 12 chỗ của Nhật chỉ mất bốn năm ngàn đô la; nhập một chiếc Toyota Crown siêu sang của Nhật chỉ tốn 5.700 đô la. Tính theo tỷ giá đô la và nhân dân tệ là 1:2,8, sau khi đóng thuế vẫn còn lãi 100%, thậm chí 200% một cách kinh ngạc. Hai người tính toán càng lúc càng hân hoan, vì họ vừa mới xin được một tờ công văn nhập khẩu ô tô.”

Trong nửa đầu năm 1984, Hải Nam chỉ nhập khẩu 2.000 chiếc ô tô. Đến tháng 7, chính quyền khu hành chính đột ngột phê chuẩn nhập khẩu 13.000 chiếc, cao gấp 36 lần mức trung bình hàng tháng của nửa đầu năm. Thị trường ngoại hối đen trở nên công khai, giá cả tăng vọt điên cuồng, tỷ giá đô la và nhân dân tệ từ 1:4,4, thậm chí lên tới 1:6. Người người mang theo những bao lớn bao nhỏ tiền nhân dân tệ đổ xô đến vùng đồng bằng sông Châu Giang để đổi lấy đô la Hồng Kông. Một số người ở Thâm Quyến, Bắc Kinh cũng ngửi thấy mùi mỏ vàng từ chính sách của Hải Nam. Thời điểm đó, các nơi khác muốn nhập khẩu đồ gia dụng, ô tô, xe máy và linh kiện đều phải trực tiếp do Quốc vụ viện phê duyệt, nhưng đảo Hải Nam lại sở hữu đặc quyền tự nhập khẩu. Ai cũng nhìn ra không gian lợi nhuận trong đó, thế là “đến Hải Nam buôn ô tô” trở thành cơ hội kinh doanh hấp dẫn nhất lúc bấy giờ.

Một cơn cuồng phong ô tô chưa từng có trong lịch sử chính thức khởi động trên hòn đảo nghèo nàn này. Trong số 94 đơn vị trực thuộc khu hành chính, có 88 đơn vị như bị ma ám mà cuốn vào cơn lốc ô tô. Dưới ảnh hưởng của các cơ quan đảng chính, mọi ngành nghề trên toàn đảo đều mạnh miệng bạo gan lao vào buôn bán ô tô. Chỉ trong nửa năm, toàn đảo xuất hiện 872 công ty, tất cả đều hướng thẳng về phía ô tô.

Đó là một mùa hè nóng bức khó chịu, ô tô như thủy triều đổ vào đảo Hải Nam, tất cả đậu kín mít trong ngoài thành phố Hải Khẩu, tầng tầng lớp lớp, trải dài vô tận, dưới ánh mặt trời rực rỡ sắc màu, lấp lánh tỏa sáng, tạo nên một cảnh tượng vô cùng ngoạn mục. Cục Công thương tích cực làm thủ tục “phạt tiền rồi cho qua” cho người mua từ khắp cả nước, chỉ cần nộp phạt bốn năm ngàn tệ, đóng một con dấu công là chiếc xe đó có thể đường hoàng chất lên tàu rời đảo. Giữa lúc đó, các hành vi tham ô, hối lộ, nhận hối lộ, lách luật ngoại hối, mọi hoạt động phi pháp đều diễn ra công khai dưới ánh mặt trời. Sau khi thanh tra, chỉ trong nửa năm ngắn ngủi, Hải Nam đã ký duyệt công văn cho phép nhập khẩu tổng cộng 89.000 chiếc ô tô, đặt hàng nước ngoài hơn 70.000 chiếc, đã mở thư tín dụng hơn 50.000 chiếc. Tổng số ngoại hối sử dụng để nhập khẩu lên tới 300 triệu đô la.

Tháng 9, việc Hải Nam nhập khẩu ô tô ồ ạt đã thu hút sự chú ý của Trung ương. Quốc vụ viện phái người đến điều tra, tài liệu mà chính quyền khu hành chính Hải Nam báo cáo lên khác xa với tình hình thực tế: “Thứ nhất, tất cả ô tô Hải Nam nhập khẩu đều bán trong nội đảo (trên hóa đơn tất cả ô tô đều đóng dấu ‘chỉ giới hạn sử dụng trong đảo’ và ‘không được phép ra khỏi đảo’, đây là sự thật). Thứ hai, số xe hiện đã cập cảng chưa đầy 15.000 chiếc (đây cũng là sự thật, nhưng tài liệu báo cáo không nhắc đến hàng chục ngàn chiếc xe đã xuất hàng và đang rẽ sóng tiến về Hải Nam). Thứ ba, Hải Nam quản lý vật tư nhập khẩu rất nghiêm ngặt, tuyệt đối không cho phép ra khỏi đảo, kẻ nào vi phạm sẽ bị xử lý.” Ngay khi chính quyền khu hành chính đang báo cáo tài liệu này, hàng ngàn hàng vạn chiếc ô tô Nhật Bản đang liên tục được dỡ xuống tại cảng thành phố Hải Khẩu. Từ ngày 25 tháng 9 đến ngày 10 tháng 10, Hải Nam ít nhất lại phê chuẩn nhập khẩu hơn 8.900 chiếc ô tô nữa. Ngày 25 tháng 11, Lôi Vũ trong một bức điện gửi Văn phòng Đặc khu Quốc vụ viện vẫn khẳng định: “Đến thời điểm hiện tại, toàn bộ ô tô Hải Nam nhập khẩu đều được tiêu thụ trong nội đảo.”

Ô tô không phải kim cương, nhập khẩu hàng ngàn hàng vạn chiếc rồi đưa ra khỏi đảo mà lại khiến thiên hạ nhìn như không thấy gì, điều này quá mức ngang ngược. Đến cuối năm, Văn phòng Đặc khu Quốc vụ viện đã không còn tin vào các báo cáo của Hải Nam nữa. Tháng 12, Lôi Vũ bị triệu tập đến Quảng Châu, chính quyền tỉnh ra lệnh dứt khoát yêu cầu ông dừng việc nhập khẩu ô tô. Đến đây, cơn cuồng phong mới đột ngột dừng lại. Đầu năm 1985, một đoàn thanh tra hùng hậu gồm 102 người từ Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương, Quân ủy Trung ương, Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Tổng cục Kiểm toán Nhà nước, Tổng cục Hải quan, Văn phòng Đặc khu Quốc vụ viện, cùng Tỉnh ủy và Chính quyền tỉnh đã tiến駐 Hải Nam. Ngày 31 tháng 7 năm 1985, Tân Hoa Xã phát đi thông báo “Xử lý nghiêm minh vụ việc vi phạm pháp luật và kỷ luật nghiêm trọng về nhập khẩu và buôn bán ô tô trái phép tại đảo Hải Nam”, trong đó nêu rõ:

“Một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng ủy khu Hải Nam và Chính quyền khu Hải Nam trong khoảng thời gian hơn một năm từ ngày 1 tháng 1 năm 1984 đến ngày 5 tháng 3 năm 1985, đã áp dụng những cách làm sai lầm như đầu cơ ngoại hối và vay nợ bừa bãi, liên tiếp phê chuẩn nhập khẩu hơn 89.000 chiếc ô tô, đã cập cảng 79.000 chiếc, còn có một lượng lớn vật tư như tivi, máy ghi hình, xe máy, đồng thời tiến hành buôn bán trái phép. Đây là một sự kiện trọng đại kể từ khi Trung Quốc thực hiện mở cửa đối ngoại. Đảng ủy khu hành chính Hải Nam và một số người phụ trách đã đi ngược lại phương châm phát triển Hải Nam của Trung ương, xuất phát từ lợi ích cục bộ, lợi dụng kẽ hở chính sách, lạm dụng quyền tự chủ mà Trung ương ban tặng. Hành vi vi phạm pháp luật và kỷ luật nghiêm trọng này đã gây chấn động kế hoạch quốc gia, can thiệp vào trật tự thị trường, phá hoại quy định quản lý ngoại hối và chính sách tín dụng, làm hư hỏng phong cách đảng và phong trào xã hội, không chỉ gây tổn thất lớn cho quốc gia mà còn làm tăng thêm khó khăn cho công cuộc xây dựng mở cửa, trì hoãn tiến trình phát triển và xây dựng đảo Hải Nam.”

Số liệu điều tra công bố không lâu sau đó cho thấy, trong một năm, Hải Nam đã đầu cơ ngoại hối trái phép với giá cao từ 21 tỉnh thành trên cả nước và 15 đơn vị thuộc Trung ương với số tiền 570 triệu đô la. Các công ty đã sử dụng khoản vay nhập khẩu lũy kế 4,21 tỷ tệ, nhiều hơn tổng giá trị sản lượng công nông nghiệp của Hải Nam năm 1984 là 1 tỷ tệ. Ngoài ô tô, còn nhập khẩu 2,86 triệu chiếc tivi, 252.000 chiếc máy ghi hình.

Lôi Vũ bị cách chức, sau đó chuyển sang làm Phó bí thư một huyện nông nghiệp ở Quảng Đông. Ủy viên thường vụ Đảng ủy khu, Trưởng ban Tổ chức Lâm Đào Sâm một năm sau đó bị kết án tù chung thân vì tội “đầu cơ trục lợi”. Phải mất rất nhiều năm sau, người ta vẫn có thể nhìn thấy trên các con đường từ Bắc chí Nam những chiếc xe lậu cao cấp mang biển số “Việt” (Quảng Đông), chúng đều là di vật của vụ án Hải Nam năm ấy.

Trong lịch sử cải cách và lịch sử doanh nghiệp Trung Quốc, “Sự kiện buôn bán ô tô Hải Nam” mang tính “ngụ ngôn” rất mạnh mẽ. Một khu vực vì muốn phát triển kinh tế mà khiến nhiều thiếu sót của thể chế dần không theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế, đặc điểm tiệm tiến của cải cách Trung Quốc ngày càng rõ rệt, bắt đầu bước vào vùng xám kéo dài.

Theo số liệu mà Hà Bác Truyền tiết lộ trong cuốn “Trung Quốc trên sườn núi”, năm 1985, số lượng ô tô Trung Quốc nhập khẩu bằng tổng số ô tô nhập khẩu từ năm 1950 đến 1979. Sau sự kiện Hải Nam, hiện tượng lợi dụng kẽ hở chính sách để buôn lậu ô tô nhập khẩu vẫn chưa bao giờ thực sự bị cấm, dư âm của nó kéo dài đến tận vụ án buôn lậu Lại Xương Tinh ở Viễn Hoa, Hạ Môn năm 2000. Từ năm 1983 đến 1987, chính quyền các địa phương đã sử dụng ngoại hối để nhập khẩu lượng lớn ô tô, số tiền lên tới 16 tỷ đô la, tương đương với giá trị tài sản cố định ròng của hai công ty ô tô Chrysler Hoa Kỳ lúc bấy giờ.

Việc nhập khẩu buôn bán các mặt hàng khác cũng không hề dừng lại. Từ tháng 1 đến tháng 9 năm 1988, lượng máy ghi hình nhập khẩu qua hải quan là khoảng 20.000 chiếc, nhưng lượng thực tế chảy vào trong nước là trên 330.000 chiếc. Phóng viên Tân Hoa Xã đến điều tra tại hai trung tâm thương mại quốc doanh lớn nhất Bắc Kinh, phần lớn máy ghi hình bày bán đều là hàng lậu tuồn từ Quảng Đông sang, có cái đã là hàng cũ đời thứ hai, thậm chí đời thứ ba. Lấy giấy ảnh màu làm ví dụ, nửa đầu năm 1989, năm đặc khu đã nhập khẩu 40 triệu đô la, chiếm 1/3 lượng tiêu thụ cả nước, trong đó hơn 80% chảy vào nội địa qua các kênh xám. Năm 1988, theo thống kê hải quan, giá trị hàng tiêu dùng nhập khẩu toàn quốc là 1,3 tỷ đô la, bình luận sau đó của Tân Hoa Xã là: “Bất kỳ độc giả nào có khả năng phán đoán khi dạo quanh thị trường đều sẽ nói: Không ổn, gấp đôi số đó cũng không dừng lại.” Năm 1995, lượng tivi màu nhập khẩu qua kênh ngoại thương bình thường là 549.000 chiếc, trong khi lượng tiêu thụ thực tế trên thị trường là 5 triệu chiếc.

Nhìn từ góc độ quan sát theo năm, sự kiện ô tô Hải Nam cuồng loạn không phải là một ví dụ đơn lẻ. Ở khắp các nơi trên cả nước lúc bấy giờ, một cuộc引进 thiết bị không hề kém cạnh đang diễn ra vô cùng sôi nổi.

Từ năm trước đó, một lượng lớn dây chuyền sản xuất đã bắt đầu liên tục đổ vào. Các khu vực ven biển Trung Quốc rõ ràng đang trở thành vùng hạ nguồn của quá trình chuyển dịch công nghiệp quốc tế, đối với các tập đoàn đa quốc gia và Trung Quốc mà nói, đây dường như là một sự lựa chọn sáng suốt. Hàng trăm hàng ngàn dây chuyền tivi màu, tủ lạnh, máy giặt và máy ghi hình đang được gấp rút lắp đặt ngày đêm. Chẳng bao lâu nữa, “thời đại chiến quốc” của ngành gia dụng Trung Quốc sắp sửa ập đến. Tốc độ trở thành chỉ tiêu quan trọng nhất. Tại Thiên Tân, từng lập kỷ lục nhập khẩu một dây chuyền sản xuất xe máy của Đức trong 22 ngày, nó được ca ngợi như một thành tích tiên tiến và lan truyền rộng rãi.

Đúng như tờ “Financial Times” của Anh bình luận trong một bài báo ngày 27 tháng 2 năm 1985: “Trên khắp Trung Quốc, ngay cả những nhà máy rất nhỏ cũng đang tìm kiếm đối tác liên doanh nước ngoài để giúp họ hiện đại hóa doanh nghiệp. Người Trung Quốc hiện nay có tổ chức hơn và nắm bắt thông tin nhanh nhạy hơn nhiều so với năm năm trước.” Còn tờ “Newsweek” của Mỹ tháng 10 trong bài “Người Trung Quốc săn lùng thiết bị cũ hữu dụng” đã mô tả một cách sinh động: “Một nhóm kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân viên đóng gói đã đến thành phố công nghiệp Valmont của Pháp. Họ làm việc ngày đêm, tháo dỡ toàn bộ thiết bị của nhà máy tủ lạnh Bauknecht đã phá sản. 5.000 tấn thiết bị được chất lên tàu thủy, máy bay và tàu hỏa, khởi hành vận chuyển đến Thiên Tân. Tại một nhà máy ở đó, chúng được lắp ráp lại thành một dây chuyền sản xuất 2.000 chiếc tủ lạnh mỗi ngày. Những trường hợp tương tự nhiều không kể xiết. Trên khắp châu Âu, các đoàn đại biểu Trung Quốc cầm trong tay danh sách những thứ cần mua, đi khắp nơi săn lùng thiết bị nhà máy cũ, đây đã trở thành một xu thế. Đối với các công ty châu Âu, những thiết bị này nếu không bán thì hoặc bị hủy bỏ hoặc để không. Trung Quốc là một đối tác thương mại vô cùng hấp dẫn – vì họ luôn trả bằng tiền mặt.” Nhà kinh tế học người Mỹ gốc Hoa Hoàng Á Sinh sau này nghiên cứu chỉ ra rằng: “Rất nhiều nhà đầu tư Nhật Bản đã sử dụng máy móc cũ, các doanh nghiệp Nhật Bản không thể sử dụng những máy móc này để kiếm lời tại nước họ nữa.” Một cố vấn cấp cao của Liên Hợp Quốc làm việc lâu năm tại Trung Quốc là William Hinton đã tiết lộ trong cuốn sách mang tên “Đại nghịch chuyển” rằng: “Khoảng năm 1985, những người trong cuộc cho biết rất nhiều thương vụ tồi tệ đang diễn ra. Nếu một công ty nước ngoài không thể khiến chính phủ chấp nhận hợp đồng mua sản phẩm của họ, họ có thể xuống các đơn vị cấp tỉnh thành để hoàn tất giao dịch bất thành. Cứ thế, họ bán cho Trung Quốc vô số thiết bị kém chất lượng và công nghệ lỗi thời. Do sự cuồng nhiệt với công nghệ cao, bất cứ thứ gì được gọi là công nghệ cao đều có thể bán rất chạy, ngay cả khi nó hoàn toàn không có hàm lượng kỹ thuật nào hoặc Trung Quốc vốn dĩ đã có công nghệ tốt hơn.”

Cơn sốt nhập khẩu thiết bị diễn ra trên khắp cả nước đã tạo ra ảnh hưởng to lớn đối với sự phát triển của các công ty Trung Quốc sau này. Nó khiến nhiều doanh nghiệp cũ với thiết bị lạc hậu, thiếu năng lực cạnh tranh sản phẩm nhanh chóng hồi sinh, có thể gia nhập thị trường hàng tiêu dùng đang bùng nổ với tốc độ nhanh nhất. Chúng ta sẽ thấy, những công ty ngôi sao từng tung hoành một thời sau này đều là những đơn vị tích cực nhập khẩu dây chuyền sản xuất vào thời điểm đó. Theo báo cáo của “Nhật báo Kinh tế”, các thương hiệu tủ lạnh được ưa chuộng trên thị trường Bắc Kinh năm đó có Vạn Bảo (Quảng Châu), Hương Tuyết Mai (Tô Châu), Ích Hữu (Gia Hưng), Băng Phong (Thiên Tân); máy giặt thì có Thủy Tiên (Thượng Hải), Ngũ Dương (Quảng Châu), Ba Lãng (Đại Liên), Kim Ngư (Hàng Châu), Hà Hoa (Vũ Hán), Quân Tử Lan (Trường Xuân), Song Âu (Bảo Kê). Chúng là những sản phẩm thương hiệu đầu tiên của ngành công nghiệp gia dụng Trung Quốc, không ngoại lệ, tất cả đều là những doanh nghiệp quốc doanh sớm nhất nhập khẩu dây chuyền sản xuất nước ngoài.

Cùng lúc đó, cơn sốt nhập khẩu không quy hoạch và không trật tự này cũng gây ra sự lãng phí cực lớn và sự mất kiểm soát trong quản lý ngành nghề.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ngô Hiểu Ba