Một hạm đội vô địch hùng hậu đang tập kết trên hải phận quốc tế để hướng về Bắc Phi. Kể từ khi hạm đội Đế quốc Nhật Bản xuất phát tiến về đảo Midway, đại dương trên địa cầu chưa từng phải gánh vác một lực lượng hải quân khổng lồ đến thế, và trước thời điểm đó, trong suốt chiều dài lịch sử cũng chưa từng có tiền lệ. Hàng không mẫu hạm, thiết giáp hạm, tuần dương hạm, tàu vận tải quân đội cùng các loại tàu đổ bộ kiểu mới chất đầy xuồng nhỏ, xe tăng, xe tải và pháo cơ động; còn có khu trục hạm, tàu quét mìn, tàu ngầm, cộng thêm đủ loại tàu tiếp tế tạp nham; những chiến hạm đến từ khắp nơi, dàn trận trải dài tít tắp, hình thù đáng sợ, kích cỡ không đồng nhất, có chiếc sơn màu xám, có chiếc sơn màu ngụy trang lòe loẹt, chúng chậm chạp bò trên mặt nước cong cong của hành tinh này. Chúng từ quần đảo Anh ùn ùn tiến về phía nam, chúng từ Bắc Mỹ giong buồm hướng về phương đông, phát động một cuộc tấn công vượt đại dương với quy mô và hải trình chưa từng thấy. Cơ quan tình báo các nước Trục hoàn toàn không hay biết gì về tất cả những điều này. Những lời phỏng đoán tại một bàn ăn trên đảo Corse đã nhận được sự hồi đáp trên chuyến tàu chở Hitler, vị nguyên thủ đang trên đường tới Munich để dự đại hội Đảng Quốc xã. Cuộc đại tấn công này dù được phát động trong những quốc gia dân chủ vốn lắm lời, nhưng lại giữ được bí mật nghiêm ngặt chẳng kém gì vụ người Nhật tấn công Trân Châu Cảng.
Winston Churchill, ở cuối bài diễn văn bi tráng đầy nhiệt huyết sau sự kiện Dunkirk, đã thề sẽ tiếp tục chiến đấu, "cho đến khi thời khắc do Chúa định đoạt đến, thế giới mới với toàn bộ uy lực sẽ đứng lên để cứu vãn và giải phóng thế giới cũ." Giờ đây, sau hai năm rưỡi, điều đó đã trở thành sự thật, những lời hùng biện thao thao bất tuyệt của Churchill đã biến thành hiện thực hùng vĩ trang nghiêm: một lực lượng hải quân mới trỗi dậy đang ồ ạt kéo đến, với hậu thuẫn là kỹ thuật Mỹ ngày càng thăng tiến, chở theo những quân đội Anh dày dạn trận mạc và lớp lính Mỹ trẻ tuổi đầu tiên vừa được chiêu mộ. Nếu trong cuộc chiến tranh công nghiệp hóa vẫn có thể tồn tại chút dư vị lãng mạn, thì đây chính là thời khắc lãng mạn đó. Thời khắc của "Chiến dịch Ngọn đuốc" sắp sửa điểm.
Mặc dù trong số những kẻ xâm lược người Mỹ này không thiếu những người như Patton, nhưng xét đến nhiệm vụ mà họ đang thực hiện, họ khó tránh khỏi cảm giác hổ thẹn vì những lời hùng biện kiểu Churchill kia. Quân nhân chuyên nghiệp vốn sẵn lòng chấp nhận thử thách của lửa đạn và mạo hiểm về kỹ thuật. Nếu không phải vậy, dù là tướng lĩnh hay binh lính, tất cả đều sẽ coi "Chiến dịch Ngọn đuốc" và toàn bộ cuộc đại chiến này là những công việc bẩn thỉu mà sớm đã bỏ cuộc. George Marshall hoàn toàn không tán thành việc dùng "Chiến dịch Ngọn đuốc" để thay thế cho một cuộc đổ bộ quy mô lớn tại Pháp, tổng tư lệnh của đội quân viễn chinh này là một người mới chập chững bước lên vũ đài thế giới tên là Dwight Eisenhower, ông lo ngại quyết định về "Chiến dịch Ngọn đuốc" "có lẽ sẽ được ghi vào sử sách như một ngày đen tối nhất". Dẫu vậy, ông và các thuộc cấp đều đã nhận lệnh, và mỗi người đều đã có sự phân công rõ ràng.
Kiếm chác lợi lộc cho phe mình là chuyện đáng mong đợi, dù chẳng có gì là lãng mạn; nếu có thể đạt được mục đích mà không đổ máu thì lại càng tốt. Vì thế, có người đã hiến kế: hãy phối hợp với liên quân Anh - Mỹ một vị tướng người Pháp danh tiếng lẫy lừng, dùng làm vật trang trí để dụ dỗ quân Vichy đang đóng tại Bắc Phi không kháng cự, hoàn toàn không tuân theo mệnh lệnh của chính phủ bù nhìn do người Đức cai trị. Thế là, một vở hài kịch không kém phần kịch tính so với những tác phẩm của các nhà soạn kịch trên đại lộ Paris đã bắt đầu, chỉ khác là canh bạc lần này lớn hơn nhiều.
Giữa tiếng pháo gầm vang, một khúc nhạc đệm hài hước đã được chèn vào, và Byron Henry vô tình bị cuốn vào đó. Vì vậy, cần phải giải thích ngắn gọn cho độc giả biết vở hài kịch này là thế nào.
Tại London, có sẵn một De Gaulle để đóng vai phụ đội mũ tướng lĩnh, ông ta vốn đã lớn tiếng hô hào với tư cách là người phát ngôn của "Nước Pháp tự do" ở đó, kêu gọi đồng bào chống lại kẻ chinh phục. Rắc rối của De Gaulle là không một tướng lĩnh lục quân hay hải quân nào của chính phủ Vichy ưa nổi ông ta. Ngay cả phong trào kháng chiến cũng chẳng có mấy cảm tình với ông. Những lời lẽ chống địch phát ra từ một căn phòng khách sạn ở London vào thời điểm đó không khiến lòng người Pháp hướng về ông. Phe Đồng minh chuyển sang nhắm vào một người khác là Henri Giraud. Giraud đã chiến đấu rất xuất sắc trong cuộc chiến chống Đức năm 1940, sau đó bại trận bị bắt, rồi vượt ngục thoát khỏi Đức. Lúc này ông ta đang ẩn dật tại Pháp, kế hoạch của phe Đồng minh là tìm ra ông, lén đưa ông từ nơi ẩn náu đến bờ biển Địa Trung Hải, lên một chiếc tàu ngầm của Đồng minh rồi cấp tốc tới Gibraltar để hội họp với Eisenhower.
Đây là một kế hoạch tác chiến phức tạp, và khi liên lạc bí mật, Giraud lại khiến mọi chuyện thêm rắc rối. Chỉ cần liên quan đến vấn đề thể diện, tướng Giraud lại là một người cực kỳ câu nệ. Hải quân Anh từng oanh tạc một hạm đội Pháp trong giai đoạn đầu cuộc chiến để ngăn nó rơi vào tay người Đức. Henri Giraud nhất quyết không chịu để một chiếc tàu ngầm Anh tới cứu mình. Nhưng lúc này, những chiếc tàu ngầm duy nhất có thể điều động đều treo cờ Anh. Để đón vị người Pháp này, buộc phải để một hạm trưởng người Mỹ đứng tên chỉ huy một chiếc tàu ngầm Anh, phối hợp với vài sĩ quan Mỹ, diễn một vở kịch giả thành thật. Hạm trưởng người Anh và thủy thủ đoàn của ông ta đương nhiên vẫn lái tàu như thường lệ; người Mỹ chỉ là hành khách, nhưng họ phải giả vờ bận rộn. Chiếc tàu ngầm "Mỹ" này đã hoàn thành nhiệm vụ, đón tướng Giraud tại bờ biển gần Toulon rồi đưa tới Gibraltar.
Tại Gibraltar - hãy để tôi kể hết những chiến tích vĩ đại của Giraud trước, rồi mới nói đến vai trò nhỏ bé của Byron Henry trong đó - ông ta được mời tới hang động của tổng tư lệnh để gặp Eisenhower. Ông ta thản nhiên bày tỏ lòng biết ơn với tổng tư lệnh Mỹ vì những gì ông đã làm cho đến lúc này, rồi bảo với Eisenhower rằng, bản thân ông, Henri Giraud, giờ đây sẽ bãi miễn chức vụ tổng tư lệnh của Eisenhower để đích thân chỉ huy cuộc tấn công Bắc Phi. Chuyện này xảy ra chưa đầy 48 giờ trước khi phát động tấn công, lúc bốn trăm năm mươi tàu chiến lớn nhỏ đang hướng về các bãi đổ bộ. Chi tiết cụ thể về cuộc mật đàm phi thường này sau đó không thấy ghi chép lại, chúng ta chỉ biết rằng Giraud hoàn toàn không nghe lọt tai ý kiến của đối phương. Ông ta khăng khăng phải giành được quyền chỉ huy tối cao mới có thể bảo toàn thể diện. Nhưng Eisenhower không hề tinh tế mà từ chối yêu cầu bãi miễn chức vụ. Vị người Pháp này từ đó buồn bã, chẳng buồn quan tâm đến việc tác chiến.
Tình hình sau đó cho thấy phe Đồng minh cũng không hẳn là không thể thiếu ông ta. Chỉ vài giờ sau khi bắt đầu đổ bộ, Đô đốc Darlan đã rơi vào tay quân đội xâm lược. Người này là nhân vật quyền thế nhất của chính quyền Vichy tại vùng lãnh thổ Đông Bắc Phi, nổi tiếng chủ yếu vì lòng căm thù khác thường đối với Anh, Mỹ và người Do Thái. Quân đội xâm lược dí dao vào cổ ông ta, ép ông ta đóng vai trò của Giraud. Ông ta đã làm công việc của mình rất tốt, ổn định quân đội Pháp, ngăn chặn các cuộc kháng cự tự phát lẻ tẻ, thiết lập trật tự dưới sự quản lý của Đồng minh. Dù cam tâm hay không, Darlan cuối cùng cũng đã làm được việc giảm thiểu đáng kể số thương vong cho binh lính Mỹ và Anh.
Giới báo chí của phe Đồng minh đã vang lên những tiếng la ó kéo dài, phản đối việc sử dụng một kẻ đê tiện như vậy. Một cuộc khủng hoảng chính trị từ đó nảy sinh. Tướng Eisenhower cân nhắc từ chức, Tổng thống Roosevelt phải chịu đựng sự công kích, phỉ báng ngày này qua ngày khác từ báo giới, những lời lẽ chói tai hơn cả thường lệ. Mãi đến khi lại xuất hiện một cơ hội trời cho trong chiến tranh, cơn bão này mới qua đi. Một thanh niên Pháp lý tưởng hóa đã nổ súng bắn chết Darlan. Một thời gian sau, Hội nghị Casablanca được triệu tập, tướng Giraud không thể cưỡng lại những lời dụ dỗ, đành cứng đờ mặt mũi chụp ảnh cùng Churchill, Roosevelt và De Gaulle. Vì vậy mà ngày nay chúng ta mới có thể nhìn thấy tôn nhan của vị nhân vật thể diện này. Ông ta là một người cao gầy. Nhưng không cao và gầy như De Gaulle. Người có bộ ria mép lớn hơn chính là ông ta.
Chính trong lúc những liên lạc về thể diện của Giraud diễn ra dồn dập, Byron Henry đã bị cuốn vào. Kỳ lạ thay, trải nghiệm của anh trên tàu ngầm chẳng liên quan gì đến việc này. Anh giống như một cái nút bần trôi dạt trên dòng suối xoáy, xoay vần giữa Gibraltar và Marseille, mà hoàn toàn không hay biết gì về lực đẩy đó. Anh được giao nhiệm vụ này thuần túy vì anh là người đã được phê duyệt để đảm nhận các nhiệm vụ tối mật của Mỹ. Gibraltar thường xuyên thiếu người đưa tin của Mỹ; cuộc tấn công đã cận kề, nhân lực lại càng thiếu hụt. Kể từ khi Byron tình cờ gặp gỡ cha con Tudsbury, anh đã nhiều lần được lệnh đi công tác vì việc này, mặc dù những lần đó chưa từng tới Marseille, nhưng anh đã liên lạc với lãnh sự quán qua thư từ và điện thoại để dò la tung tích của Natalie.
Anh cũng như mọi người trên vách đá ven biển này, đều biết một cuộc hành quân lớn sắp sửa ập đến. Tiếng dây điện rung ù ù khắp căn cứ, tàu chiến và máy bay chiến đấu tập kết ngày càng nhiều, các quan lớn lần lượt hạ cố ghé thăm, mỗi người đều mang theo một đám thuộc hạ tự phụ chạy đôn chạy đáo, tất cả những điều này khiến anh nhớ lại Trân Châu Cảng đêm trước trận Midway. Nhưng mục tiêu ở đâu, châu Phi, Sardinia, miền nam nước Pháp hay thậm chí là Ý, thì Byron không hề hay biết. Anh chưa từng nghe nói đến một vị tướng tên là Henri Giraud. Ngay cả bây giờ cũng chẳng có ai nói với anh về người này. Tám giờ sáng, anh đầy dầu mỡ, trên một chiếc tàu ngầm cũ kỹ đỗ cạnh tàu "Maidstone" đang cố gắng hồi sinh một máy nén khí không chịu hoạt động; đến gần trưa, anh đã vội vàng thay thường phục sạch sẽ, lại một lần nữa thắt dây túi công văn vào cổ tay, trong túi đút hộ chiếu ngoại giao, khởi hành tới Marseille.
Đã hơn hai tháng anh không nhận được bất kỳ tin tức gì từ Leslie Slote. Anh nhiều lần dò hỏi lãnh sự quán Marseille, vẫn bặt vô âm tín. Lần này anh đích thân tới, quyết tâm phải làm cho ra lẽ. Chỉ thị cho anh là giao chiếc cặp có khóa cho một vị phó lãnh sự, chờ một bản điện tín mã hóa, lấy được là cấp tốc mang về. Anh tính toán sẽ có thời gian để tìm vài người thúc ép dò hỏi. Thế là, cuối cùng anh đã tìm thấy Natalie, mặc dù mắt xích cuối cùng đó hoàn toàn là do ngẫu nhiên. Nếu cô không rời khỏi Ý, nếu bản thân anh không tới Gibraltar, thì sẽ không có cuộc hội ngộ như vậy, nhưng việc vượt qua khoảng cách xa xôi kia lại là nhờ may mắn.
Anh đến lãnh sự quán trong cơn mưa tầm tã lạnh lẽo, sau khi tháo dây xích, anh đưa cặp công văn cho vị phó lãnh sự. Vị phó lãnh sự tên là Sam Jones, một khuôn mặt không thể tả, khoác trên mình bộ trang phục cũng không thể tả; một chất liệu không hề nổi bật, vừa vặn để xử lý tình báo quân sự một cách thần không biết quỷ không hay. Byron vừa cởi chiếc áo mưa còn đang nhỏ giọt, vừa hỏi Jones: "Lucius Babbitt còn đóng quân ở đây không?"
"Luke Babbitt? Tất nhiên là còn. Có chuyện gì?"
"Tôi muốn tìm ông ấy nói chuyện. Tôi có thể ở đây bao lâu?"
Trên mặt Jones hiện lên những nếp nhăn, vẻ nghi hoặc lúc này không hề tương xứng với vẻ ngoài bình thường của ông; nhân viên tình báo này đang nhìn ra ngoài qua lớp vỏ bọc phó lãnh sự khô héo. "Anh có khối thời gian. Văn phòng của Luke ở dọc theo hành lang này. Trên cửa có tấm kính mờ."
Bên trong cánh cửa kính mờ, một người phụ nữ có khuôn mặt gầy gò, mái tóc hoa râm được búi chặt bằng lưới tóc, đang ngồi trước một chiếc bàn chất đầy biểu mẫu công văn, gõ máy chữ lạch cạch. Phòng chờ đông nghịt người tị nạn, đa số họ trông như đã ngồi đó đợi mấy ngày rồi. Cô thư ký lạnh lùng nhìn anh một cái, khi nhìn rõ khuôn mặt anh và chiếc áo khoác cùng quần tây thường phục kiểu Mỹ mà anh mặc để đóng vai người đưa tin, cái nhìn lạnh lùng đó lập tức hóa thành một nụ cười quyến rũ. Anh vượt qua ải này một cách dễ dàng để đến gặp Babbitt.
Trong căn phòng làm việc bên trong, ánh sáng nhạt nhòa xuyên qua cửa sổ rộng chiếu vào hai bức ảnh đóng khung của Tổng thống Roosevelt và Cordell Hull to bằng người thật; cũng chiếu vào một bản sao thô kệch của bức "George Washington vượt sông Delaware". Một người đàn ông béo trọc đầu với làn da hồng hào đứng dậy khỏi bàn làm việc bắt tay Byron, đôi mắt xanh lấp lánh qua cặp kính gọng vàng, "Trung úy Henry, hửm? Tôi nhớ thư của anh, trung úy. Cũng nhớ mấy cuộc điện thoại anh gọi. Đường dây ở Gibraltar tệ thật. Gia tộc nổi tiếng ở Mỹ, họ Henry. Là bản gia của Patrick phải không? Ha ha! Sĩ quan tàu ngầm, phải không? Con trai tôi muốn gia nhập hải quân nhưng không thành. Mắt kém. Nó hiện là không quân, làm hậu cần. Phía Gibraltar có ý kiến gì về tình hình chiến sự không? Tôi biết làm người đưa tin đi công tác khá thú vị, nhưng tôi nghĩ anh vẫn nên ở Thái Bình Dương thì hơn. Được rồi, mời ngồi, mời ngồi."
Lucius Babbitt hỏi Byron lần cuối cùng anh về Mỹ là khi nào, có đi xem giải bóng chày quan trọng nào không. Ngồi trên chiếc ghế xoay kêu kẽo kẹt lắc qua lắc lại, ông ta cho rằng việc có người làm ầm ĩ yêu cầu rút những ngôi sao bóng chày như DiMaggio và Feller đi phục vụ quân ngũ, trong đó có thể có những kẻ có dụng ý nghi vấn đang kích động. Hàng triệu công nhân đang sản xuất máy bay xe tăng, có vài ngôi sao lớn giải khuây cho những công nhân này thì có gì không tốt, tại sao cứ phải đuổi họ đi cầm súng lăn lộn trong bùn đất, khiến các đội bóng lớn toàn là những kẻ bị phòng tuyển quân loại hoặc không đủ tiêu chuẩn? Khi Babbitt đang đùa cợt, đôi mắt lồi của ông ta cũng đồng thời quan sát qua cặp kính gọng vàng, mu bàn tay ông ta cũng không ngừng xoa cằm đã cạo sạch sẽ như mục sư của mình.
"Đúng rồi!" Babbitt nói, giọng điệu như vừa bật công tắc, thay đổi ngay lập tức, "Tôi nhớ ra rồi, điều anh muốn hỏi là về vợ anh. Anh có thể vui lòng kể lại quá trình cho tôi nghe một lần nữa được không, đỡ phải để tôi lật lại thư của anh? Còn một người chú nữa, phải không?"
"Vâng, chú ấy tên là Aaron Jastrow, là một nhà văn," Byron nói. "Vợ tôi tên là Natalie, phu nhân Byron Henry. Con trai tôi tên là Louis, là đứa bé còn đang bế trên tay. Tôi không biết tung tích của họ, nhưng tôi có lý do để tin rằng họ có thể đang ở Marseille hoặc vùng lân cận."
Babbitt gật đầu không ngừng từ đầu đến cuối, trên mặt là nụ cười không thể hiện thái độ. "Họ là người Mỹ?"
"Tất nhiên."
"Hộ chiếu đầy đủ cả chứ?"
"Vâng."
"Vậy tại sao họ còn lưu lại khu vực tự do làm gì? Chúng ta đã sớm đưa tất cả mọi người về rồi mà."
"Nói như vậy thì họ vẫn chưa tới đây/ 'Babbitt rút ra một cuốn sổ tay màu vàng từ ngăn kéo, tay trái cầm một cây bút máy. Ông ta nở nụ cười ân cần, gật đầu với Byron, đôi mắt nheo lại thành một đường chỉ. "Trong lúc anh ở đây, hay là kể hết mọi tình hình cho tôi nghe đi? Lần cuối cùng anh biết họ ở đâu là khi nào, ở đâu, vân vân? Tôi càng biết nhiều, tôi càng có thể điều tra triệt để."
Có một bản năng mách bảo Byron phải cẩn thận.
"Jastrow kể từ khi nghỉ hưu tại Đại học Yale, luôn sống ở Siena để viết sách. Natalie làm thư ký cho chú ấy. Khi chúng ta tham chiến thì họ đã mắc kẹt ở đó rồi. Cho nên—"
"Để tôi ngắt lời anh ở đây, trung úy, toàn bộ người Mỹ bị tập trung quản lý tại Ý đều đã được trao đổi vào tháng Năm rồi." Babbitt nắm chặt tay trái, cầm lấy bút máy, vừa nói vừa cười, tay không ngừng viết. "Cho nên giờ họ nên về nhà rồi, không vấn đề gì đâu."
"Vâng, lúc đó tôi đang ở Thái Bình Dương. Tôi không biết đã xảy ra tình huống gì, nhưng họ không được trao đổi."
"Thật lạ."
"Không biết là ai nghe tin cuối cùng, nói rằng họ muốn tìm cách tới Pháp."
"Ý anh là muốn tới bất hợp pháp."
"Tôi thực sự không biết tình tiết cụ thể nào khác."
"Tên chú của cô ấy là gì nhỉ?"
"Jastrow."
"Xin hãy đánh vần nó."
"J-A-S-T-R-O-W."
"Nhà văn nổi tiếng sao?"
"Câu lạc bộ Sách trong Tháng đã từng chọn một cuốn sách của chú ấy."
"Đủ nổi tiếng rồi. Đó là cuốn sách gì?"
"Chúa Jesus của một người Do Thái."
Điều này lập tức gây ra phản ứng ở Babbitt. Nụ cười của ông ta biến mất, lông mày dựng đứng, đôi mắt sáng rực. "Ồ, ông ta là người Do Thái à?"
"Không còn giữ quy tắc Do Thái nữa."
"Chẳng có mấy người Do Thái không giữ quy tắc, vấn đề là ông ta thuộc dân tộc này, đúng không?" Nghỉ một lát, lại lộ ra một chút nụ cười đắc ý. "Vợ anh cũng vậy sao?"
"Vâng, cô ấy cũng vậy."
"Anh thì không, nhìn là biết."
"Đúng."