Trong tiết trời quang đãng không một gợn gió, các trung đoàn cất cánh từ đảo O'ahu để hội quân cùng các hàng không mẫu hạm đã khởi hành từ trước. Chiếc máy bay ném bom ngư lôi dẫn đầu của tàu Enterprise khi bay gần đến mẫu hạm đã thực hiện một cú nhào lộn, rồi đâm sầm xuống boong tàu với một tiếng nổ lớn, mảnh vỡ văng tung tóe trước khi rơi xuống biển. Warren điều khiển chiếc máy bay ném bom bổ nhào đời mới lượn vòng trên cao; trong mắt anh, cảnh tượng đó trông chẳng khác nào một chiếc máy bay đồ chơi đang vỡ vụn. Các tàu khu trục hộ tống lao nhanh về phía đống đổ nát giữa biển, khói đen bốc lên cuồn cuộn như đầu tàu hỏa, vạch một đường trắng xóa trên mặt nước. Sau khi hạ cánh xuống mẫu hạm, anh được biết toàn bộ phi hành đoàn đều đã được cứu. Kiểu tai nạn này không phải hiếm, nhưng lần này lại khiến anh cảm thấy điềm báo chẳng lành.
Hạm đội đặc nhiệm số 16 sắp xuất kích để đánh chặn cuộc đổ bộ của Nhật Bản vào đảo Midway. Ngay sau khi các phi công hạ cánh xuống tàu, những dòng chữ hiện lên trên màn hình máy điện báo teletype trong phòng chờ đã khơi dậy sự phấn khích, vui mừng. Thế nhưng, trong suốt một tuần lễ dài đằng đẵng, tẻ nhạt sau đó, hạm đội cứ di chuyển theo đường zíc-zắc với tốc độ thông thường về phía Bắc, sự phấn khích ấy dần tan biến, mọi người trở nên chán chường, căng thẳng và bồn chồn. Tàu Enterprise và tàu Hornet được bao quanh bởi một vòng tàu tuần dương và tàu khu trục, chậm rãi tiến từ vùng biển nhiệt đới ngập tràn ánh nắng vào vùng biển có bầu trời xám xịt, sóng lớn cuộn trào cùng những cơn gió lạnh buốt. Với sự yểm trợ của các đội tuần tra từ Hawaii, các phi công hầu như chẳng có việc gì để làm. Những tân binh, những học viên tốt nghiệp sớm sau ba năm ở Học viện Hải quân hay các thiếu úy dự bị, tỏ ra đắc ý như những ngôi sao sáng không phải làm việc vặt trên tàu. Họ ngủ nướng, chơi trò Backgammon, đánh bài, khiến phòng chờ đặc quánh khói thuốc. Lượng cà phê và nước chanh họ uống tính bằng gallon, bữa ăn thì thịnh soạn với vô số kem lạnh. Ngoài tập luyện và nghe giảng, họ chỉ bàn tán về chuyện yêu đương, kỳ nghỉ phép trên bờ, tai nạn máy bay và những chuyện tương tự, vụng về trêu chọc nhau để giết thời gian. Nhìn chung, họ tỏ vẻ ngượng ngùng, non nớt, cố bắt chước dáng vẻ của các phi công tuyến đầu trong phim Hollywood.
Warren thường rất thích sự giao thiệp tự nhiên, không câu nệ giữa các đồng nghiệp trong phòng chờ, nhưng chuyến xuất chinh lần này thì khác. Biết bao chiến hữu trong trung đoàn đã sát cánh cùng anh từ khi chiến tranh bắt đầu, nay kẻ mất người còn, hoặc đã bị điều chuyển. Những tân binh hừng hực khí thế này hầu hết chưa kết hôn, khiến anh cảm thấy mình thật già nua và tâm trạng bực bội. Sự nhàn rỗi kéo dài ngày này qua ngày khác khiến anh khổ sở. Là sĩ quan tác chiến không quân, chỉ huy số ba của trung đoàn, anh cố gắng giữ cho mình bận rộn: ôn lại điều lệnh chiến thuật, phác thảo các bài tập hàng hải và bài tập thực chiến trên bảng đen, tập luyện nghiêm ngặt trên boong bay, liên tục lui tới sàn chứa máy bay để kiểm tra máy bay của trung đoàn hết lần này đến lần khác.
Nhàn rỗi sinh nông nổi. Nhàn rỗi cộng thêm căng thẳng sẽ chẳng mang lại kết quả tốt đẹp gì. Những ngày tháng chậm rãi trôi qua, chủ đề trong phòng chờ chuyển sang Chuẩn đô đốc Spruance. Từ phòng chỉ huy của soái hạm, tin tức rò rỉ ra rằng các tham mưu của Halsey không mấy thiện cảm với ông. Halsey từng ca ngợi người bạn cũ này, cựu tư lệnh hạm đội hộ tống, trước mặt họ là một trí thức tài ba. Thế nhưng các tham mưu lại cho rằng ông là một kẻ lập dị: lạnh lùng, trầm mặc, khó gần, hoàn toàn trái ngược với vị tổng tư lệnh. Khi dùng bữa, ông thà ngồi im lặng như tờ còn hơn. Ông khiến những thuộc cấp trung thành và nhiệt huyết của Halsey khó chịu, bởi họ đã học được phong cách hài hước từ vị tổng tư lệnh. Rõ ràng có những người như John Towers, một nhân vật không quân đầy lửa, tại sao Halsey lại đề bạt một người không xuất thân từ phi công, trầm mặc ít nói như thế này để chỉ huy một trận chiến hàng không mẫu hạm? Vì tình nghĩa chăng? Nghe nói, trong bữa trưa ngày đầu xuất chinh, sau một khoảng lặng dài gây khó chịu, Spruance đã lên tiếng: "Các vị, tôi muốn các vị hiểu rằng tôi tin tưởng mỗi người trong các vị. Nếu các vị không có ưu điểm gì, Bill Halsey đã chẳng chọn các vị rồi." Ông dường như không biết rằng chính bản thân mình cũng đang bị người khác nhìn chằm chằm với vẻ đầy lo âu.
Cử chỉ của ông thật kỳ lạ. Ông đi dạo một mình trên boong bay, có khi đi cả tiếng đồng hồ, còn những việc khác lại tỏ ra vô cùng lười biếng. Ông đi ngủ rất sớm, ngủ rất sâu và dài. Một đêm nọ, khi có báo động chạm trán với tàu mặt nước của địch, ông thậm chí không buồn thức dậy, chỉ ra lệnh đổi hướng để tránh né rồi lại ngủ tiếp. Bữa sáng của ông ngày nào cũng như ngày nào: bánh mì nướng và đào đóng hộp, chỉ uống đúng một tách cà phê tự nấu từ loại hạt đặc biệt mang theo lên tàu, cứ như một quý cô làm quá mọi chuyện. Gặp ngày mưa hoặc boong tàu có gió lớn, ông ngồi trong phòng ăn của bộ tư lệnh đọc những cuốn sách cũ từ thư viện của tàu. Ông trông cứ như đang đi dạo chơi vậy. Tham mưu trưởng của Halsey, Đại tá Browning, mới là người thực sự điều hành hạm đội đặc nhiệm này, còn Spruance chẳng qua chỉ ký tên vào mệnh lệnh của Browning mà thôi.
Tóm lại, các tham mưu không đặt nhiều hy vọng vào Spruance. Browning sẽ đánh tốt trận này, nếu chiếc Yorktown được sửa chữa kịp thời đến nơi, Frank Jack Fletcher sẽ là người chỉ huy, vì ông ta thâm niên hơn Spruance. Fletcher tuy thể hiện không tốt lắm trong trận chiến biển Coral, nhưng ít nhất ông ta đã từng trải qua thử thách máu lửa trong các trận chiến hàng không mẫu hạm. Trong phòng chờ, mọi người cứ bàn tán như thế; điều này khiến Warren bực bội và bất an.
Hạm đội đặc nhiệm số 16 đến vị trí đóng quân, một điểm trên đại dương bao la được gọi là "Điểm May Mắn", rồi cứ chán chường lượn qua lượn lại hai ngày chờ tàu Yorktown đến. Đây là điểm phục kích đã định, cách rạn san hô khoảng 325 dặm; nằm ngoài tầm bay của máy bay trên hàng không mẫu hạm địch, nhưng lại đủ gần để khi máy bay ở Midway phát hiện địch là có thể tấn công ngay lập tức. Những chú cá heo nhảy múa giữa các con tàu đang chậm rãi di chuyển chẳng tìm thấy chút vụn bánh nào để ăn; quân sĩ trên tàu ngay cả một chiếc cốc giấy cũng không được phép ném xuống biển.
Tàu Yorktown chạy hết tốc lực, cuối cùng cũng xuất hiện trong tầm mắt, bề ngoài không hề có dấu vết hư hại nặng nề từ trận biển Coral. Giống như mẫu hạm này, các trung đoàn trên tàu cũng chịu tổn thất nặng nề trong trận biển Coral, nay là sự chắp vá vội vã giữa những người sống sót và các phi công từ tàu Saratoga; nhưng dù sao, có thêm một chiếc hàng không mẫu hạm, bất kể là được chắp vá ra sao, vẫn là điều đáng mừng. Hiện tại, với Fletcher đảm nhận chỉ huy chiến thuật, hạm đội bắt đầu phát cảnh báo ngày càng nhiều. Tin tức về việc phát hiện tàu ngầm hoặc máy bay địch liên tục truyền đến từ tàu Yorktown, khiến người ta không thể không thực hiện những thao tác thông thường đầy hỗn loạn: tất cả tàu thuyền bẻ lái gấp, boong bay nghiêng hẳn sang một bên, thủy thủ vội vã vào vị trí pháo, nhắm mục tiêu, tàu khu trục rẽ sóng chạy cắt ngang; sau đó là sự chờ đợi mệt mỏi, giải trừ báo động, thu hồi máy bay, khôi phục trực ban thường nhật. Những báo động đó hóa ra toàn là báo động giả. Hai hạm đội đặc nhiệm này cứ xoay quanh Điểm May Mắn. Tàu Yorktown cùng hạm đội hộ tống gồm tàu tuần dương và tàu khu trục của nó được gọi là Hạm đội đặc nhiệm số 17, còn tàu Hornet và tàu Enterprise vẫn mang tên Hạm đội đặc nhiệm số 16, do Spruance chỉ huy với vai trò phó của Fletcher.
Warren tự sắp xếp cho mình chuyến bay tìm kiếm lúc bình minh đầu tiên. Chiếc "Dauntless" đời mới của anh nhảy chồm lên giữa hai hàng đèn dẫn đường màu vàng trên boong, lao thẳng vào bầu trời đêm lạnh giá hướng về phía những vì sao và dải Ngân Hà, tinh thần anh cũng theo đó mà phấn chấn hẳn lên. Khi các phi công mới nghe lệnh cấm tuyệt đối việc sử dụng vô tuyến điện trong buổi họp ngắn cuối cùng tại phòng chờ, sắc mặt họ chùng xuống; hàng không mẫu hạm sẽ không phát bất kỳ tín hiệu hồi hương nào, ngay cả khi buộc phải hạ cánh khẩn cấp trên biển cũng không được phép phát tín hiệu cầu cứu. Thực tế đau lòng rằng kẻ thù đang đến gần bất ngờ ập xuống đầu họ. Warren chưa từng tuần tra bằng máy bay loại SED-3, cũng cảm thấy không thoải mái với những quy định nghiêm ngặt này. Thế nhưng chiếc máy bay mới này bay một mạch hai trăm dặm; sau đó, đón ánh bình minh tím nhạt và mặt trời mọc tuyệt đẹp, thiết bị định vị điện tử mới trên máy bay đã giúp anh trở về đúng điểm lựa chọn mà không hề sai sót. Cảnh tượng thật đáng mừng, chỉ thấy kiến trúc thượng tầng dạng đảo của hai mẫu hạm vạch lên hai vết khuyết trên đường chân trời! Khi hạ cánh xuống tàu, anh móc gọn gàng vào sợi dây hãm thứ ba. Không sai, quả là một chiếc máy bay xuất sắc: thiết bị định vị tiên tiến, động cơ vừa ý, thùng nhiên liệu tự đóng kín, súng máy bổ sung, giáp dày hơn. Ngay cả tay súng của anh, một chàng trai ủ rũ tên là Cornett đến từ vùng núi Kentucky, người hiếm khi mở miệng mà mỗi lần nói chuyện cứ như đang dùng ngoại ngữ, cũng trèo xuống khỏi ghế sau với một nụ cười.
"Chiếc máy bay này quả không tệ," Warren nói.
Cornett nhổ một bãi nước thuốc lá, nói một câu đại loại như: "Tôi thấy khá ổn."
"Warren! Warren! Đánh nhau rồi, người ta đang ném bom Dutch Harbor đấy."
"Trời đất." Warren ngồi dậy trên giường, dụi mắt, vớ lấy chiếc quần dài. "Cậu nói gì cơ! Alaska ư? Lại bị lừa rồi!"
Đồng nghiệp cùng phòng của anh mắt sáng lên. Peter Goff là một thiếu úy mới đến trung đoàn, một chàng trai trẻ đến từ phía Bắc tiểu bang New York, để bộ râu đỏ giống hệt Byron. Anh ta hào hứng nói: "Có lẽ chúng ta sẽ tiến về phía Bắc, cắt đường rút lui của chúng rồi đập tan chúng."
"Trên biển phải mất ba ngày đấy, anh bạn." Warren chân trần nhảy xuống boong sắt lạnh lẽo.
Khi họ đến phòng chờ của Trung đoàn trinh sát số 6, những chiếc ghế dài đã chật kín người. Các phi công lặng lẽ nhìn chằm chằm vào những dòng chữ đang bò trên màn hình vàng của máy điện báo: "Dự đoán là đòn nghi binh vào Alaska, hướng tấn công chính nhắm vào Midway. Dutch Harbor phòng thủ nghiêm ngặt." Đội trưởng Trung đoàn trinh sát số 6, một tay lão luyện vạm vỡ, thấp béo tên là Earl Gallagher, treo một bản đồ Thái Bình Dương lên bảng đen, thảo luận về vấn đề thời gian và khoảng cách trong trường hợp phải tiến lên phía Bắc để đột kích quân Nhật. Các phi công trẻ tuổi lắng nghe một cách khao khát. Đây mới là làm việc chính sự. Nhưng Warren để ý thấy một hướng đi mới của hạm đội vừa được viết lên: 120 độ, hướng Nam. Hướng đi này rời xa quần đảo Aleutian, rời xa Midway, xuôi theo chiều gió. Chỉ là một cuộc hành trình vòng vèo thông thường quanh Điểm May Mắn mà thôi; không phải hành động tác chiến.
Chưa đầy một giờ sau, trên màn hình lại lướt qua một dòng chữ: "Đội tuần tra PBY báo cáo (trích nguyên văn): Nhiều tàu địch hạng nặng, phương vị 237, khoảng cách đến Midway 685. Hết tin." Ba chữ "Midway" trong phòng chờ Trung đoàn trinh sát số 6 làm bùng lên một tràng hò reo và tiếng hú hét. Ai nấy đều đồng loạt lên tiếng. Đội trưởng nhảy đến trước bản đồ, vẽ một vòng tròn phấn đỏ đậm tại nơi phát hiện tàu địch. "Tốt lắm, cuối cùng cũng tới rồi. Cách khoảng một nghìn dặm. Trong vòng 16, 17 tiếng nữa, chúng sẽ tiến vào tầm tấn công."
Các phi công vẫn vây quanh bản đồ, dùng ngón tay đo đạc khoảng cách, tranh luận không ngớt, đúng lúc đó, máy điện báo lại lạch cạch vang lên: "Điện khẩn từ Bộ tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương: Đây không phải hạm đội tấn công địch mà là hạm đội đổ bộ. Hạm đội tấn công sẽ từ Tây Bắc kéo đến vào rạng sáng mai." "Gớm thật!" Peter Goff nói bên cạnh Warren. "Người ta ngồi ở Trân Châu Cảng, sao lại biết nhiều thế nhỉ?"
Trời tối rồi. Nửa đêm đã gần kề. Các phi công Trung đoàn trinh sát số 6 hầu như không ai lên giường ngủ. Họ người đọc sách, người viết thư, người nói chuyện không dứt về phụ nữ và bay lượn; nhưng những tiếng ồn ào này khác hẳn trước kia, nghe trầm thấp hơn, căng thẳng hơn. Tin tức vỉa hè từ bộ tham mưu vẫn liên tục truyền đến. Spruance nhận được điện báo khi không ở trong phòng chỉ huy soái hạm, mà đang ngồi trên chiếc ghế dài trong phòng ăn của bộ tư lệnh đọc cuốn tiểu sử George Washington đã mốc meo, chỉ ký tên vào sổ thông báo. Lúc này, trong phòng chỉ huy soái hạm đang nhộn nhịp như tổ ong vỡ, Đại tá Browning đã bắt đầu soạn thảo những mệnh lệnh tác chiến đầu tiên.
Máy điện báo thỉnh thoảng lại lạch cạch truyền đi những tin tức về Dutch Harbor hoặc hạm đội đổ bộ Nhật Bản sắp tới; máy bay ném bom của Không quân Lục quân trên rạn san hô tuyên bố đã đánh trọng thương, đánh chìm thiết giáp hạm, tàu tuần dương gì đó trong đợt ném bom ngang tầm cao. Chẳng ai tin điều đó. Các phi công ném bom bổ nhào có một câu nói về việc ném bom ngang tầm cao trên biển: chẳng khác nào cố dùng một viên đá để trúng một con chuột đang hoảng sợ. "Mấy chiếc hàng không mẫu hạm đó đâu rồi? Mẫu hạm của chúng ở đâu? Có tin nội bộ gì về mấy chiếc mẫu hạm chết tiệt đó không?" Đây là câu hỏi đầy bồn chồn trong các phòng chờ.
Warren lên boong kiểm tra tình hình thời tiết một lần nữa. Trăng sắp tròn; trên trời đầy sao. Mây mỏng, gió lạnh thổi ngang, chòm sao Bắc Đẩu treo lơ lửng phía trên mạn phải đuôi tàu. Con tàu tiến về phía trước với tốc độ cao, phía dưới truyền đến tiếng sóng vỗ rì rào. Đang lao nhanh về phía kẻ thù! Gần phía đuôi boong bay, ánh trăng lấp lánh trên những cánh máy bay xếp sát nhau, chỗ này chỗ kia thấp thoáng những luồng sáng đỏ từ đèn pin của nhân viên bảo trì, trông mỏng manh như ngòi bút chì. Các tổ trưởng máy bay ngồi thành từng nhóm nhỏ, họ vẫn tiếp tục tán gẫu những chuyện thường ngày: về những chiếc máy bay ném bom ngư lôi tốt hơn sắp đến tàu vào tháng Tám, về tôn giáo, thể thao, chuyện gia đình, nhà thổ ở Honolulu; chỉ là ít khi bàn đến vấn đề quan trọng nhất trong lòng mỗi người: trận chiến sắp đến cùng với ánh bình minh.
Warren rất tỉnh táo, bước đi trên boong tàu vững chãi trong làn gió nhẹ. Ánh trăng nhảy múa trên mặt biển xung quanh. Khi đi ngang qua sàn chứa máy bay phía dưới, anh đặc biệt chú ý đến lượng lớn vật liệu nổ xung quanh — bom, máy bay đổ đầy xăng, giá đạn đầy ắp, thùng dầu, đầu đạn ngư lôi. Tàu Enterprise là một vỏ trứng sắt dài 800 feet, chứa đầy thuốc nổ và con người. Anh kinh hãi khi nhận ra điều này, rõ ràng hơn bất cứ lúc nào hết. Một vỏ trứng sắt tương tự của Nhật Bản có lẽ chỉ cách đây vài trăm dặm, đang áp sát lại gần.
Bên nào sẽ tấn công bên nào? Giả sử có một chiếc tàu ngầm địch phát hiện ra hạm đội này thì sao? Tuyệt đối không phải là không thể! Nếu vậy, lúc mặt trời mọc, máy bay Nhật có thể sẽ đến tập kích. Ngay cả khi hạm đội này thực sự ra tay trước quân Nhật, cuộc tấn công này có thành công không? Ngay cả khi diễn tập, trong điều kiện không có sự kháng cự của địch, cuộc tấn công phối hợp giữa máy bay chiến đấu, máy bay ném bom bổ nhào và máy bay ném bom ngư lôi cũng chưa bao giờ thành công. Người chỉ huy này không nhận được lệnh, hướng đi của người kia bị sai, hoặc thời tiết xấu làm rối loạn đội hình trung đoàn. Trên tàu Enterprise có quá nhiều phi công mới nhập ngũ như Peter Goff. Các phi công trên tàu Yorktown bị thương nặng là một nhóm ngoại đạo, được gom góp trên bãi biển sau khi chịu tổn thất ở biển Coral. Chống lại không quân Nhật thiện chiến, những kẻ đã đập tan Trân Châu Cảng và đuổi Hải quân Anh ra khỏi Ấn Độ Dương, một đội quân tạp nham như vậy có thể làm nên trò trống gì? Thế nhưng sẽ không còn cơ hội diễn tập, không còn cơ hội luyện binh nữa. Đây là vở kịch chính rồi. Trừ khi có một cuộc đột kích đại thắng, nếu không quân Nhật sẽ nhanh chóng và khéo léo thực hiện hành động trả đũa, biến tàu Enterprise thành một quả cầu lửa hùng vĩ. Anh hoặc là bị thiêu thành tro trong tàu, hoặc là hết nhiên liệu rồi rơi xuống biển nếu đang bay trên không. Khả năng xảy ra chuyện này không chỉ là 50% đâu.
Tuy nhiên, Warren vẫn coi đây là chuyện bình thường không đáng kinh ngạc. Anh không cho rằng mình sẽ chết trong trận chiến sắp tới, giống như hành khách mua vé máy bay từ New York đến Los Angeles cũng sẽ không nghĩ như vậy. Anh là một phi công chuyên nghiệp. Anh không biết bao nhiêu lần lái máy bay xuyên qua làn đạn của kẻ thù. Anh cho rằng mình rất thạo việc, chỉ cần có chút may mắn là có thể vượt qua cửa ải này. Anh đứng sau hàng máy bay đen kịt cuối cùng ở đuôi boong bay, ống quần bị gió thổi phần phật, mắt nhìn vệt nước rộng lớn dưới ánh trăng phía đuôi tàu đang lao về phía sau, trong lòng nghĩ rằng anh thà ngày mai cất cánh nghênh chiến với người Nhật còn hơn đi nơi khác, làm bất cứ việc gì khác.
Anh thật sự muốn hút một điếu thuốc. Trước khi quay lại kiến trúc thượng tầng dạng đảo để xuống dưới, anh lại ngước nhìn bầu trời, không kìm được mà dừng chân, ngửa cổ, hồi tưởng lại một cảnh tượng mà đã nhiều năm rồi anh không nhớ tới. Khi đó anh bảy tuổi, một đêm nọ, dưới cùng bầu trời này, trên bến tàu phủ đầy tuyết mới, anh nắm tay cha đi dạo, cha anh kể cho anh nghe về khoảng cách xa xôi giữa các vì sao và thể tích của chúng lớn đến nhường nào.
"Cha ơi, ai đã đặt các vì sao lên bầu trời vậy? Có phải Chúa không?"
"Ồ, Warren, đúng vậy, chúng ta tin là Chúa đã làm điều đó."
"Ý cha là Chúa Jesus đã tự tay đóng những ngôi sao lên bầu trời sao?" Đứa trẻ đang tưởng tượng ra người đàn ông hiền từ với mái tóc dài, mặc áo choàng trắng đang treo những quả cầu lửa khổng lồ trong không gian đen kịt.
Anh hồi tưởng lại cha mình im lặng một lúc, rồi trả lời ấp úng. "Con à, Warren, con hơi nhầm lẫn một chút ở đây. Chúa Jesus là Chúa của chúng ta. Điều đó không sai. Nhưng Ngài cũng là con trai của Chúa, và Chúa đã tạo ra vũ trụ cùng vạn vật trong vũ trụ. Khi con lớn lên, con sẽ hiểu sâu sắc hơn về tất cả những điều này."
Warren coi cuộc trò chuyện này là sự khởi đầu cho những nghi vấn của mình. Nhiều năm sau, trong một lần tranh luận hiếm hoi về tôn giáo, cha anh lại trích dẫn bầu trời đêm để chứng minh Chúa chắc chắn tồn tại.
"Cha ơi, con không muốn xúc phạm cha, nhưng theo con, những ngôi sao này trông như được rải một cách tùy tiện vậy. Tại sao phải quan tâm đến thể tích và khoảng cách giữa chúng chứ! Chuyện trên đời có gì ghê gớm đâu? Chúng ta chỉ là những vi sinh vật trên một hạt bụi. Cuộc sống là một hiện tượng ngẫu nhiên nhàm chán và vô nghĩa, cuộc sống vừa kết thúc, chúng ta chẳng qua chỉ là một đống thịt chết."
Cha anh từ đó không bao giờ bàn với anh về vấn đề tôn giáo nữa.
Những ngôi sao lung linh tráng lệ phía trên cột ăng-ten radar đầy gai. Trong mắt Warren Henry, các vì sao chưa bao giờ đẹp như thế. Nhưng mặc dù mô hình của các chòm sao rất rõ ràng, trông chúng vẫn như được rải một cách tùy tiện.
Anh nằm trong khoang, hút thuốc hết điếu này đến điếu khác trong bóng tối. Peter Goff đang ngáy nhẹ ở chiếc giường bên cạnh. Một người bạn cùng phòng khác, phó đội trưởng, đang viết thư trong phòng chờ. Warren chỉ ước có thể ngủ được hai ba tiếng. Anh nghĩ hay là thử đọc sách, liền bật chiếc đèn nhỏ trên giường. Ánh mắt anh thường bỏ qua cuốn Kinh Thánh bìa da đen mà cha tặng trên giá sách, như thể nó không tồn tại vậy. Để giúp mình chìm vào giấc ngủ, thứ này là tốt nhất! Anh kê cao nửa thân trên, bất chợt nổi hứng muốn bói một quẻ cát hung, liền tùy tiện mở Kinh Thánh. Ánh mắt anh dừng lại ở đoạn này trong sách Các Vua: "Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy dặn biểu nhà ngươi, vì ngươi sẽ chết, không sống được nữa."
Điều này khiến anh sững sờ. Anh thực sự chưa bao giờ hoàn toàn mất niềm tin vào Chúa, mặc dù trong suy nghĩ của anh, xét về lòng bao dung và khiếu hài hước, Chúa chắc hẳn giống cha anh hơn là vị Chúa có giọng nói như sấm, đầy giáo điều trong miệng các nhà truyền giáo. "Haiz, đặt một câu hỏi ngu ngốc, phải không?" Anh nghĩ. "Mình cứ lo việc của mình thôi, để Chúa lo những vấn đề khác."
Anh đọc mấy chương về Chúa tạo ra thế giới, tiếp đó đọc câu chuyện về Noah và tháp Babel. Kể từ khi học những chương này ở trường Chúa nhật hồi nhỏ, sau này anh không bao giờ đọc lại nữa. Lạ thay, những chương này không hề nhàm chán, ngược lại còn viết rất súc tích, đầy thấu thị. Chuyện Adam trốn tránh trách nhiệm, anh nhìn thấy hàng ngày trong trung đoàn; Eva là một kẻ nghịch ngợm đáng yêu, giống hệt bao người phụ nữ anh từng dây dưa; Cain sống y hệt bất kỳ kẻ hèn nhát nào hay đố kỵ, đầy thù hận trong quân ngũ; còn sự miêu tả về trận bão trong chương viết về đại hồng thủy mới tuyệt làm sao, chân thực vô cùng. Đọc đến mấy đoạn viết về các tổ tiên, anh bắt đầu lơ mơ, còn mấy chương về tranh chấp giữa Jacob và Laban khiến anh thỏa mãn nguyện vọng. Anh cứ để nguyên quần áo mà ngủ thiếp đi, huy hiệu cánh vàng lấp lánh dưới ánh đèn nhỏ mà anh quên tắt vì quá mệt mỏi.
"Báo động chiến đấu. Báo động chiến đấu. Lập tức vào vị trí chiến đấu."
Tiếng báo động chiến đấu vang lên trong buổi bình minh, dội lại trên mặt boong bay đầy gió. Những vì sao vẫn còn lấp lánh trên bầu trời đen kịt, phía đông nhạt màu có một đám mây trôi mang sắc hồng. Các thủy thủ đội mũ sắt, mặc áo phao, không ngừng ùa lên mặt boong mờ ảo trong đêm tối, người thì tiến về vị trí pháo, người thì chạy đến bên máy bay, kẻ khác lại tháo cuộn vòi cứu hỏa trải ra boong. Hoa Luân ngồi trong máy bay, kiểm tra nắp buồng lái vốn còn hơi rít khi kéo ra kéo vào. Đa số phi công vẫn ở trong phòng chờ; họ đã ăn sáng từ lâu, chỉ còn biết ngồi chờ đợi. Thường ngày, bữa sáng của Hoa Luân là xúc xích và trứng ốp la, nhưng hôm nay anh chỉ ăn bánh mì nướng và uống một tách cà phê để giữ cho dạ dày được êm dịu. Trong những giờ khắc đen tối của buổi sớm mai, máy điện báo vẫn im lìm. Vẫn chưa có tin tức gì về hàng không mẫu hạm của địch.
Nắp buồng lái đã có thể đóng mở dễ dàng, nhưng Hoa Luân vẫn nán lại trong máy bay. Những ngôi sao vụt tắt, sắc trời chuyển từ màu chàm sang xanh lơ, mặt biển bắt đầu sáng lên. Một sơ đồ về những hành động mà cả hai bên có thể thực hiện hiện lên rõ mồn một trong tâm trí Hoa Luân. Hàng không mẫu hạm của Nhật Bản — nếu tin tức về cuộc không kích lúc bình minh tại Trân Châu Cảng là chính xác — thì hiện tại đang ở cách "Xí Nghiệp" (Enterprise) khoảng hai trăm dặm về phía tây. Nếu nhìn từ góc độ của Chúa, hai hạm đội hàng không mẫu hạm đang di chuyển cùng với rạn san hô Trung Đảo (Midway) bất động trên mặt biển tạo thành một hình tam giác đều. Khi cả hai hạm đội cùng lao nhanh về phía rạn san hô, hình tam giác này ngày càng thu nhỏ lại. Sáng nay, vào một thời điểm nào đó, hai hạm đội sẽ tiến sát đến cự ly tấn công, đây sẽ là điểm bùng nổ của trận chiến này. Tất nhiên, có thể người Nhật vốn chẳng ở đó. Có thể họ còn ở xa tận gần Hawaii, nếu vậy thì Đô đốc Nimitz đã mắc một sai lầm chưa từng có trong lịch sử.
Mặt trời nhô lên trên đường chân trời sắc nét, lộ ra một vòng cung ánh sáng vàng rực rỡ rồi từ từ leo lên bầu trời. A, lấy đâu ra cuộc đột kích lúc bình minh của quân Nhật; một cuộc khủng hoảng đã qua đi! Đây quả thực là điều Hoa Luân mong đợi. Anh xuống boong dưới đi về phía phòng chờ, vừa bước vào thì loa phóng thanh vang lên âm thanh chói tai: "Các phi công, lập tức lên máy bay."
"Tốt quá... đến rồi... chúng ta đi thôi..."
Các phi công bật dậy khỏi ghế, tiếng giày da nện xuống mặt boong sắt vang rộn ràng, gương mặt đầy vẻ căng thẳng và nhiệt huyết. Lần này, theo một sự thôi thúc đồng lòng, họ quay sang bắt tay nhau, rồi vỗ vai, cười đùa. Khi gần một nửa số người đã chen ra khỏi cửa, bỗng nhiên chiếc loa trên hành lang hét lớn: "Lệnh trước hủy bỏ. Các phi công trở về phòng chờ."
Như những con ngựa đua bị ghì cương đột ngột sau cú xuất phát hỏng, các phi công tức giận và hoảng hốt lững thững quay lại ghế, càu nhàu chỉ trích "đám ngốc ở trên cao kia". Mọi chuyện hỏng bét rồi, Hoa Luân nghĩ, những chỉ huy đó đang hoang mang lo sợ, không quyết đoán.
Chuyện xảy ra ở "trên cao" chính là Đại tá Myles Browning đã ra lệnh, nhưng Chuẩn đô đốc Spruance lại thu hồi nó.
Spruance đã khiến tham mưu trưởng của Halsey phải khó xử từ trước bình minh rất lâu. Trước khi phát lệnh báo động chiến đấu, Browning và các sĩ quan tác chiến đã lên căn cứ chỉ huy của Halsey trên soái hạm, đó là một căn phòng thép nhỏ nằm cao chót vót trên đài chỉ huy; vì Spruance không để lại lời nhắn, Browning đã không gọi ông. Thế nhưng, dưới ánh sao ngoài căn phòng thép, một bóng hình nhỏ bé mờ ảo đã chào họ: "Chào buổi sáng, hai vị."
"À! Là Chuẩn đô đốc sao?"
"Đúng vậy. Xem ra sẽ có thời tiết tốt để chúng ta làm một trận ra trò đây."
Trời hửng sáng, Spruance tựa vào lan can bên ngoài phòng, nhìn hàng không mẫu hạm thức tỉnh. Đại tá Browning trong lòng nóng như lửa đốt, chỉ mong lập tức lao vào chiến đấu, đầu óc đầy những phương án ứng phó, nhưng sự điềm tĩnh của Spruance khiến ông cảm thấy không thoải mái. Nếu là Halsey, giờ này chắc đã đi lại như một con hổ bị nhốt trong lồng. Nhưng người thực sự đi lại không ngừng chính là vị tham mưu trưởng này, ông mặc chiếc áo khoác gió bằng da giống hệt Halsey, bắt chước tư thế của Halsey, hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, vì không có tin tức nên nổi cáu, tranh luận với sĩ quan tác chiến về việc hàng không mẫu hạm Nhật Bản rốt cuộc đang ở đâu.
Ông chộp lấy chiếc micro, phát đi lệnh đó cho các phi công ngay khi Hoa Luân vừa bước vào phòng chờ.
Spruance gọi vọng vào phòng: "Tại sao lại làm thế, Đại tá?"
"Xin ngài hãy xem chỗ này, thưa Tướng quân."
Spruance điềm đạm bước tới bàn hải đồ.
"Hiện tại, thưa ngài, quân Nhật chắc chắn đã cất cánh rồi. Đã sáng rõ rồi. Có khi họ đã cất cánh từ trước bình minh. Chúng ta biết tầm bay của máy bay họ. Họ nhất định đã tới đâu đó trên đường cung này, sai số hai mươi dặm." Ông duỗi thẳng ngón trỏ, vẽ một vòng tròn nhỏ quanh khu vực Trung Đảo trên bản đồ. "Họ sẽ bị chúng ta phát hiện bất cứ lúc nào, tôi muốn chuẩn bị sẵn sàng để đánh họ."
"Các phi công của chúng ta cần bao nhiêu thời gian để lên máy bay?"
Browning nhìn sĩ quan tác chiến, người kia đáp với vẻ tự hào: "Trên tàu này, thưa Tướng quân, là hai phút."
"Vậy sao bây giờ không để họ nghỉ ngơi trong phòng chờ? Hôm nay họ sẽ phải ngồi trong buồng lái rất lâu đấy."
Spruance bước ra ngoài nơi có ánh nắng chan hòa, thế là Browning bực bội phát lệnh hủy bỏ.
Căn cứ chỉ huy trên tàu không lớn, đặt cái bàn hải đồ và hai ba chiếc ghế dài đã thấy chật chội. Một giá sách đựng tài liệu cơ mật, một bình cà phê, vài chiếc micro, điện thoại và máy phát thanh, đó là tất cả thiết bị. Có một chiếc máy thu thanh đang bắt tần số của máy bay tuần tra trên Trung Đảo, phát ra những tiếng o o của đường dây điện và tiếng nổ lách tách do nhiễu tĩnh điện. Khoảng nửa giờ sau khi mặt trời mọc, trong máy thu chợt vang lên tiếng ú ớ: "Hàng không mẫu hạm địch. Phi đội 58 báo cáo."
"Hay lắm, chính là nó!" Browning lại chộp lấy micro. Spruance bước vào. Ba sĩ quan trừng mắt nhìn chiếc máy thu đang o o, lách tách. Browning tức điên lên, đấm mạnh một cái xuống bàn hải đồ: "Hả? Hả, đồ khốn kiếp vô dụng! Kinh vĩ độ là bao nhiêu?" Ông vừa giận vừa xấu hổ, không kìm được liếc nhìn Spruance. "Mẹ kiếp! Tôi cứ tưởng thằng nhóc này lúc mở miệng sẽ báo tọa độ cho chúng ta chứ. Đồ đần nào đang lái mấy chiếc Catalina đó vậy?"
"Có lẽ tuần tra tác chiến của đối phương đã tập kích cậu ta," Spruance nói.
"Tướng quân, chúng ta đã phát hiện đám mặt vàng chó đẻ đó rồi. Chúng ta hãy gọi phi công lên máy bay đi."
"Nhưng nếu địch nằm ngoài tầm bay, chúng ta vẫn phải áp sát họ, đúng không? Có lẽ phải đợi một tiếng đồng hồ nữa đấy."
Spruance bước ra ngoài ánh nắng, Browning buồn bực nhăn mặt, đập mạnh micro vào giá đỡ.
Khoảng lặng tiếp theo kéo dài lê thê; rồi âm thanh đó át cả tiếng lách tách không đều, lần này rõ ràng hơn nhiều: "Nhiều máy bay địch, phương vị 320, khoảng cách 150. Phi đội 58 báo cáo."
Lại im lặng, chỉ còn tiếng o o.
Tham mưu trưởng càng chửi rủa thậm tệ phi công lái chiếc PBY vì không báo vị trí. Ông rót một tách cà phê, để đó cho nguội; hút thuốc, đi lại, xem xét hải đồ, rồi lại đi lại, lật một cuốn tạp chí cũ, ném mạnh nó vào góc tường, trong khi vị sĩ quan tác chiến, một phi công vạm vỡ, trầm tính, đang dùng thước đo và thước kẻ đo đạc trên hải đồ. Spruance đứng ngoài nhàn rỗi ngắm nhìn, khuỷu tay gác lên lan can.
"Phi đội 92 báo cáo." Lần này là một giọng nói trẻ hơn, kích động hơn đang hét trong máy thu. "Hai hàng không mẫu hạm và chiến hạm, phương vị 320, cách Trung Đảo 180, hướng 135, tốc độ 25, 'Chó Yêu'."
"A ha! Chúa phù hộ thằng nhóc này!" Browning lao vào bàn hải đồ, sĩ quan tác chiến đang vội vã đánh dấu vị trí địch trên đó.
Spruance bước vào, rút từ giá sách trên tường ra một bản vẽ tính toán vận động tàu chiến cuộn tròn mà ông đã đặt ở đó, trải ra trên chiếc ghế dài cạnh mình. "Nói lại lần nữa, vị trí ở đâu? Vậy vị trí hiện tại của chúng ta là gì?"
Browning vội vã đo đạc, dùng bút tính toán sơ qua, hỏi lớn qua điện thoại nội bộ xuống phòng chỉ huy soái hạm dưới vài tầng boong, rồi líu ríu đọc kinh vĩ độ cho Spruance.
"Bức điện này đã xác minh tính chân thực chưa?" Spruance hỏi.
"Xác minh chân thực, xác minh chân thực? Ừm, đã xác minh chưa?" Browning gắt. Spruance dùng ngón cái và ngón trỏ đo khoảng cách trên bản đồ nhỏ của mình, sĩ quan tác chiến lật mở một cuốn sổ tay. "'Có một bác nông dân trong thung lũng nhỏ,' sĩ quan tác chiến đọc, 'bất kỳ hai chữ cái cách quãng nào.' Phi công đó đã truyền là 'Chó Yêu'. Vậy là đúng rồi."
"Là thật, thưa Tướng quân," Browning quay đầu lại nói.
"Cất cánh xuất kích," Spruance nói.
Browning giật mình, quay phắt đầu từ hải đồ lại nhìn Spruance. "Thưa ngài, chúng ta vẫn chưa nhận được lệnh của Chuẩn đô đốc Fletcher."
"Sẽ nhận được thôi. Hành động đi."
Sĩ quan tác chiến lo lắng ngẩng đầu lên khỏi hải đồ. "Tướng quân, tôi đo khoảng cách tới mục tiêu là một trăm tám mươi. Với khoảng cách này, máy bay ném bom ngư lôi của chúng ta sẽ không về được. Tôi đề nghị ít nhất hãy áp sát đến một trăm năm mươi."
"Anh hoàn toàn đúng. Tôi vốn tưởng đã sắp áp sát đến khoảng cách đó rồi." Chuẩn đô đốc quay sang Browning. "Chúng ta đổi hướng đi, Đại tá Browning, toàn lực tiến về phía chúng, thông báo cho 'Hoàng Phong' (Hornet), chúng ta sẽ cất cánh khi cách 150 dặm."
Một thủy thủ mặc đồ bảo hộ, áo phao, đầu đội mũ sắt, cầm một kẹp điện báo chạy lạch bạch leo lên thang sắt dài. Spruance ký chữ cái đầu tên mình, đưa điện báo cho Browning. "Đây là lệnh của Fletcher."
Khẩn. Tư lệnh Hạm đội 17 gửi Tư lệnh Hạm đội 16. Tiến về phía tây nam, hễ rõ hành tung hàng không mẫu hạm địch là xuất kích. Máy bay tìm kiếm của tôi vừa về tàu là theo sau ngay.
Myles Browning là một kẻ hiếu chiến, điều này ai cũng thừa nhận, và phần lớn cuộc đời binh nghiệp của ông luôn mong đợi có ngày nhìn thấy một bức điện khẩn như thế này. Sự buồn bực của ông tan biến. Ông nhếch mép, để lộ nụ cười quyến rũ đầy nam tính. Điều này làm gương mặt gầy gò, sương gió của ông trở nên rạng rỡ (ông vốn còn là một tay tình trường nổi tiếng). Ông chỉnh lại mũ quân đội, chào Raymond Spruance một cái. "Được, Tướng quân, chúng ta hành động thôi."
Spruance chào lại, bước ra ngoài ánh nắng.
Khi tin tức phát hiện hàng không mẫu hạm xuất hiện trên máy điện báo, tâm trạng căng thẳng bực bội của các phi công trong phòng chờ lập tức tan biến. Họ quên đi nỗi sợ hãi vừa rồi, reo hò lên, rồi bắt đầu vẽ biểu đồ, tính toán. Họ đoán già đoán non xem khi nào sẽ cất cánh. Tất nhiên, vấn đề nằm ở chỗ tầm bay của máy bay ném bom ngư lôi quá ngắn. Cơ hội bảo toàn tính mạng của các phi công dù tính thế nào cũng không lớn, mà đáng lẽ họ phải có cơ hội sống sót công bằng.
Hoa Luân chạy đến phòng chờ của Phi đội ném bom ngư lôi số 6 để giết thời gian dài dằng dặc này, thấy bạn mình là Trung đội trưởng Lindsay đang mặc đồ bay và áo phao, băng gạc đã tháo ra, trên bàn tay và gương mặt gầy gò tái nhợt có vài vết sẹo đã đóng vảy. Anh ta chính là người bị tai nạn máy bay trong ngày đầu ra khơi. "Trời đất ơi, Gene, bác sĩ Hollywell đã cho cậu xuất viện rồi sao?"
Trung đội trưởng Lindsay không chút tươi cười nói: "Tôi được huấn luyện là để làm việc này mà, Hoa Luân. Tôi phải dẫn phi đội tham chiến."
Phòng chờ phi đội ném bom ngư lôi yên tĩnh lạ thường. Một vài phi công đang viết thư; một vài người vẽ bậy lên bản đồ hàng không; đa số đang hút thuốc. Cũng như các phi công máy bay ném bom bổ nhào, họ cũng không uống cà phê nữa, tránh cho bàng quang căng đầy khi bay đường dài. Không khí ở đây gợi cho người ta cảm giác chờ đợi căng thẳng. Giống như không khí bên ngoài phòng mổ khi đang phẫu thuật. Trước bảng đen, một thủy thủ đeo tai nghe đang viết con số mới bên cạnh dòng chữ "Khoảng cách tới mục tiêu: 153 dặm".
Lindsay liếc nhìn bảng vẽ của mình, nói với Hoa Luân: "Số liệu khớp rồi. Chúng ta đang tiến nhanh. Tôi thấy sẽ áp sát đến khoảng cách 130 dặm. Như vậy, khoảng một tiếng nữa chúng ta sẽ cất cánh. Đây là việc vì con cháu đời sau, chúng ta nhất định phải ra tay trước đám quỷ lùn này, vì vậy, dù chúng ta có vất vả quá sức một chút..."
"Các phi công, lập tức lên máy bay."
Các phi công của Phi đội ném bom ngư lôi số 6 nhìn nhau, nhìn vị trung đội trưởng mặt tái mét, rồi đứng dậy khỏi ghế. Họ cử động rất chậm chạp, không mấy hăng hái, nhưng vẫn di chuyển. Vẻ nghiêm nghị quyết liệt trên gương mặt họ hoàn toàn giống hệt nhau, giống như mười chín anh em ruột thịt. Hoa Luân vươn một cánh tay móc vào vai Lindsay. Người huấn luyện cũ của anh hơi co người lại.
"Chúc cậu thuận buồm xuôi gió, Gene. Hãy cho chúng một bài học nhớ đời."
"Chúc cậu thuận lợi, Hoa Luân."
Các phi công của Phi đội trinh sát số 6 chạy lạch bạch trên hành lang, tâm trạng căng thẳng vừa nói vừa cười lớn. Hoa Luân gia nhập đội ngũ của họ. Nhân viên phi đội chạy ra mặt boong bay đầy gió dưới ánh nắng, anh nhìn thấy một cảnh tượng luôn khiến mình phấn khích: cả hạm đội đặc nhiệm quay mũi đón gió, "Xí Nghiệp", "Hoàng Phong" cùng vòng ngoài là những tuần dương hạm và khu trục hạm, tất cả đều tiến song song; chiếc "Nothampton" của lão cha anh ở phía bên kia, bên ngoài mạn trái, đang bẻ lái, trong ánh nắng chói chang, chuyển sang vị trí gần như ngay phía chính diện. Trong những lời từ biệt và những cái vẫy tay, các phi công leo lên máy bay. Cornett từ buồng lái phía sau gật đầu chào Hoa Luân, thản nhiên nhai thuốc lá bằng hàm răng rộng và gầy, mái tóc đỏ bay trong gió.
"Hay lắm, Cornett, chúng ta đi thôi, đi tiêu diệt một hàng không mẫu hạm Nhật Bản. Chuẩn bị xong chưa?"
"Chắc như đinh đóng cột," Cornett trả lời dường như là ý này, sau đó anh thêm một câu bằng tiếng Anh rõ ràng: "Nắp buồng lái đã đóng mở tự do rồi."
Trên boong bay có 35 chiếc máy bay ném bom bổ nhào đang rải rác tại vị trí quy định, động cơ gầm rú, phun ra làn khói xanh đậm đặc. Máy bay của Hoa Luân nằm trong số những chiếc ở cuối tàu, mang theo một quả bom nặng một nghìn cân; là sĩ quan tác chiến bay, anh đảm bảo thực hiện điều này. Một số máy bay khác có quãng đường chạy đà cất cánh quá ngắn, họ mang theo một quả bom năm trăm cân và hai quả một trăm cân. Khi Hoa Luân cất cánh, động tác rất chậm chạp, tiếng gầm rú không mấy suôn sẻ. Chiếc SBD-3 này lao ra khỏi cuối boong, thân máy bay chìm xuống, gần mặt biển sát nút, rồi lảo đảo leo lên bầu trời. Gió biển ấm áp thổi vào buồng lái mở toang, khiến người ta thấy khoan khoái. Hoa Luân thu bánh xe và cánh tà, kiểm tra các kim đồng hồ đang dao động, cùng với hàng máy bay ném bom màu xanh lao vút lên không trung mà leo cao, trong lòng bao phủ một sự tĩnh lặng đặc trưng của người quân nhân chuyên nghiệp. Máy bay ném bom bổ nhào trên tàu "Hoàng Phong" cũng xếp hàng đơn dọc, lao vút lên bầu trời cách đó khoảng một dặm. Các nhóm tuần tra tác chiến như những đốm sáng nhỏ, lượn lờ trên những đám mây bông ở tầm cao.
Bay lên độ cao hai nghìn feet, khi máy bay của phi đội bay bằng, lượn vòng, sự phấn khích của Hoa Luân tiêu tan. Anh có thể nhìn thấy ở phía dưới rất xa, trên chiếc "Xí Nghiệp" đang thu nhỏ lại, công tác cất cánh đang tiến hành chậm chạp. Trong giếng vuông trên boong, thang nâng lên lên xuống xuống, những người và xe cơ giới trông bé tí đang kéo máy bay tới tới lui lui, nhưng thời gian đang chậm rãi trôi qua, đã quá bảy giờ rưỡi, bảy giờ ba phần tư. Chớp mắt đã tốn gần một giờ xăng dầu rồi, mà vẫn chưa có máy bay chiến đấu hộ tống hay máy bay ném bom ngư lôi cất cánh! Hai hàng không mẫu hạm vẫn quay lưng lại với rạn san hô và kẻ thù, hướng gió tiến về phía đông nam rẽ sóng đi tới, khi cất cánh hay thu hồi máy bay đều phải dựa vào hướng gió, giống như những con thuyền buồm ngày xưa.
Trên "Xí Nghiệp" có một chiếc đèn tín hiệu đang phát tín hiệu thẳng lên cao. Hoa Luân từng chữ một đọc bức điện gửi cho Đại tá McClusky, tân Đại đội trưởng: Lập tức chấp hành nhiệm vụ được chỉ định.
Ban đầu là cất cánh từ khoảng cách rất xa, giờ lại thêm một hành động kinh người — đột nhiên không phối hợp tấn công nữa! Chuyện gì đã xảy ra vậy? Không có máy bay chiến đấu hộ tống, không có máy bay ném bom ngư lôi thực hiện đòn đánh chí mạng cuối cùng: Máy bay ném bom bổ nhào trên "Xí Nghiệp" nhận lệnh đơn thương độc mã đi đối phó với máy bay tiêm kích của Nhật Bản! Chuẩn đô đốc Spruance ngay từ đầu đã ném toàn bộ phương án tác chiến, cùng với sự huấn luyện suốt một năm qua, bao nhiêu năm diễn tập hạm đội cũng như toàn bộ giáo lý tác chiến hàng không mẫu hạm xuống biển — hoặc là, ông đã để mặc cho nhân viên tham mưu của Halsey làm như vậy.
Tại sao?
Trên chiếc phong vũ biểu trong lòng Hoa Luân, độ nguy hiểm của nhiệm vụ lần này, cùng với khả năng tử trận của bản thân, lập tức tăng vọt. Anh không chắc "đám ngốc trên biển dưới kia" đang tính toán cái gì. Anh có một ý nghĩ: trong tay một Spruance thiếu kinh nghiệm và một Browning nôn nóng — người mà trong mắt các phi công kỳ cựu, ít nhiều là một trò cười — hai người này vì hoảng loạn, liều lĩnh mà 36 chiếc máy bay ném bom bổ nhào trên "Xí Nghiệp" này đang bị mang ra đánh canh bạc cuối cùng.
Nói về một phi công trẻ, Hoa Luân Henry lại hiểu biết khá nhiều về lịch sử chiến tranh. Trong mắt anh, tất cả những điều này thực sự khiến người ta liên tưởng tới Trận Balaclava: họ định mệnh không được phép hỏi tại sao, họ định mệnh chỉ có đi chịu chết — anh mang tâm trạng phó mặc cho số phận, ra hiệu lệnh tay cho các phi công máy bay cánh bên. Họ lái máy bay bay cùng anh, bên dưới và phía sau anh, cách vài mét, họ nhếch mép cười, vẫy tay chào. Cả hai đều là thiếu úy mới tới; một trong số đó là Pete Goff, miệng cắn chặt chiếc tẩu thuốc lõi ngô chưa châm lửa. McClusky lắc lắc cánh máy bay, bẻ lái lao mạnh về phía tây nam. Hoa Luân không quen thân với McClusky, gặp mặt cũng chỉ chào hỏi qua loa. Ông ta vốn là đội trưởng phi đội máy bay chiến đấu, nhưng người ta không thể đoán trước được ông ta sẽ làm đại đội trưởng thế nào. 35 chiếc máy bay còn lại duyên dáng theo McClusky chuyển hướng. Hoa Luân quay đầu trên bầu trời hạm đội bảo vệ, từ buồng lái nghiêng bên cạnh nhìn thấy chiếc "Nothampton" nhỏ bé ngay phía dưới, vạch ra một vệt đuôi dài trước "Xí Nghiệp". "Ài, lão cha," anh nghĩ, "cha à, cha cứ ngồi ở dưới nơi xa xôi kia đi, còn con, con xuất phát đây."
Pug Henry đứng trên đài chỉ huy "Nothampton", chen giữa đám đông sĩ quan và thủy thủ đội mũ sắt xám, mặc áo phao. Từ lúc bình minh, ông đã luôn chăm chú nhìn "Xí Nghiệp". Máy bay ném bom càng bay càng xa, thu nhỏ thành những đốm nhỏ, ông vẫn dùng ống nhòm nhìn chằm chằm không rời. Mọi người đang trực trên đài chỉ huy tuần dương hạm đều hiểu đây là vì chuyện gì.
Gió thổi cờ tín hiệu phần phật. Bên dưới, sóng lớn vỗ ầm ầm vào thân tàu, như sóng vỗ bờ. Pug lớn tiếng nói với phó hạm trưởng bên cạnh: "Giải trừ báo động chiến đấu, Trung tá Grig. Duy trì cảnh giới cấp Z. Nhân viên pháo cao xạ nghỉ ngơi tại chỗ ở vị trí pháo. Phi công thủy phi cơ chờ lệnh xuất phát bên máy phóng. Tăng gấp đôi trạm giám sát thường trực đối với máy bay địch và tàu ngầm. Toàn thể nhân viên cảnh giác, đề phòng không kích. Mang cà phê và bánh mì sandwich cho những người đang ở vị trí chiến đấu."
"Tuân lệnh, thưa ngài."
Pug đổi giọng nói tiếp: "Ồ, nhớ ra rồi, những chiếc SBD đó phải bay tới trên không mục tiêu mới có thể sử dụng vô tuyến. Chúng ta có bộ dò tinh thể để nghe tần số của những máy bay này, đúng không?"
"Thượng sĩ Connors nói chúng ta có, thưa Đại tá."
"Tốt. Có tin tức gì, gọi tôi."
"Rõ, thưa ngài."
Trong khoang khẩn cấp trên đài chỉ huy, Victor Henry treo mũ sắt và áo phao lên giường. Mắt ông cảm thấy đau nhói. Hai chân nặng như chì. Ông đã thức cả đêm không ngủ. Tại sao những máy bay ném bom bổ nhào này lại bay ra đối phó với một đám máy bay tiêm kích Nhật Bản dày đặc mà không có hộ tống? Trạm giám sát xuất sắc của chính ông, Trainer, chàng trai da đen mắt sắc bén từ Chicago tới, đã nhìn thấy một chiếc thủy phi cơ Nhật Bản bay ra bay vào trong lớp mây tầm thấp. Chẳng lẽ là vì lý do này sao? Pug không biết lệnh truyền đạt cho các phi đội trên "Yorktown" và "Hoàng Phong" là loại lệnh gì; ông chỉ có thể hy vọng, mong sao toàn bộ cục diện chiến tranh hợp lý hơn những gì ông có thể nhìn rõ lúc này. Vở kịch đã mở màn, điều này thì không thể nhầm lẫn được.
Trên bàn hải đồ, trong khung ảnh ba ngăn cổ kính, một bên là ảnh của Madeline, một bên là Byron, ở giữa là ảnh tốt nghiệp Học viện Hải quân của Warren. Đó là một thiếu úy hải quân gầy gò, nghiêm nghị, đội mũ sĩ quan màu trắng, đang nhìn ông đầy nghiêm khắc. "Chà", Pug thầm nghĩ, giờ đây nó đã là một đại úy hải quân, trong bản đánh giá có hàng loạt chữ "Ưu tú", cộng thêm kinh nghiệm tác chiến dày dặn, đang trên đường bay đi đối phó với người Nhật. Không vấn đề gì, nhiệm vụ tiếp theo của nó sẽ là huấn luyện viên bay trong nước. Chương trình đào tạo học viên không quân rất cần những cựu binh có kinh nghiệm thực chiến. Sau đó, nó sẽ được luân chuyển, điều trở lại một đại đội không quân ở Thái Bình Dương để tích lũy kinh nghiệm chỉ huy và giành huân chương. Tương lai của nó xán lạn vô cùng, và ngày hôm nay chính là thời khắc then chốt trong vận mệnh của nó. Pug quyết tâm chờ đợi tín hiệu vô tuyến phá vỡ sự im lặng, bèn cầm một cuốn tiểu thuyết trinh thám, tựa vào giường ngủ, lơ đãng đọc cho có lệ.
Rốt cuộc tại sao Spruance lại phái những chiếc máy bay ném bom bổ nhào này xuất kích?
Quyết định của một tư lệnh trong chiến đấu không dễ phân tích; ngay cả khi chính ông phân tích, ngay cả khi hồi tưởng lại trong tâm thế bình thản sau đó, cũng chẳng dễ dàng gì. Không phải quân nhân nào cũng giỏi ăn nói. Sự kiện tan biến như khói sương, cứ thế trôi qua, nhất là những khoảnh khắc ngắn ngủi trong một trận chiến. Những cuốn hồi ký được viết sau đó rất lâu thường vừa không giải thích được vấn đề, lại vừa khiến người ta hiểu lầm. Một số người thực sự giàu lòng tự tôn không muốn nói nhiều, cũng ít khi viết lách. Raymond Spruance gần như không để lại lấy một lời về những việc ông đã làm trong trận Midway.
Trong trận chiến này, ông hành động theo một chỉ thị có văn bản lưu trữ của Nimitz: "Ông phải lấy nguyên tắc mạo hiểm có kế hoạch làm kim chỉ nam, nguyên tắc đó phải được hiểu là: Tránh để lộ lực lượng của mình dưới sự tấn công của lực lượng địch ưu thế, trừ khi sự phơi bày đó có thể tạo ra cơ hội tốt để gây tổn thất nặng nề cho địch." Hải quân có một cách nói chua chát bằng tiếng lóng về điều này: "Đánh địch tới tấp, nhưng đừng làm chuyện thua lỗ"; đây là lời răn dạy tiêu chuẩn cho một lực lượng yếu hơn khi đối đầu với kẻ mạnh. Suy cho cùng, chẳng qua cũng chỉ là: "Dùng tư duy chiến thuật vững vàng để giành chiến thắng." Hiếm có quân lệnh nào khó tuân thủ hơn thế. Ông còn nhận được chỉ thị miệng của Nimitz là không được để mất hàng không mẫu hạm, dù điều đó có nghĩa là phải từ bỏ Midway. "Chúng ta có thể thu hồi nó sau," Nimitz từng nói. "Phải bảo toàn hạm đội."
Dưới áp lực của những chỉ thị đầy ràng buộc này, còn có những sự thật nghiệt ngã khác kìm hãm Spruance. Ông xa lạ với chiếc hàng không mẫu hạm này, với các tham mưu của Halsey và cả tác chiến trên không. Ông không thể chỉ dựa vào việc nổi giận của một thiếu tướng để ép công tác cất cánh chậm chạp đến kinh người trên tàu "Enterprise" hay "Hornet" phải nhanh lên. Về phương diện này, ông thực sự bất lực. Tàu "Yorktown" khi thu hồi máy bay trinh sát đã trôi dạt ra phía sau, nằm ngoài đường chân trời, nên ông không thể tìm Fletcher để bàn bạc. Một chiếc thủy phi cơ Nhật bị phát hiện, viên sĩ quan tình báo đặc biệt thông thạo tiếng Nhật nói rằng nó đã phát đi một báo cáo phương vị. Thế là ưu thế đột kích tan biến như bơ trên chảo nóng. Có tin cho biết, đảo san hô Midway đang phải hứng chịu không kích từ máy bay địch. Còn những chiếc máy bay ném bom bổ nhào của ông thì cứ bay vòng tròn trên đầu, tiêu tốn nhiên liệu một cách vô ích.
Vì khoảng cách mỗi cạnh của khu vực tác chiến hình tam giác này đều đã biết, tầm bay và tốc độ của máy bay cũng nắm rõ, Spruance có thể hy vọng rằng nếu máy bay ném bom bổ nhào của ông xuất phát ngay bây giờ, chúng có thể chạm trán với địch khi lực lượng địch đang suy yếu, bởi khi đó chúng từ Midway quay về, thiếu đạn dược và nhiên liệu. Tuy nhiên, ở phương diện này có một nan đề nghiêm trọng. Chiếc máy bay tuần tra PBY đó chỉ nhìn thấy hai hàng không mẫu hạm. Các nhân viên tình báo của Nimitz dự đoán có bốn đến năm chiếc. Những hàng không mẫu hạm chưa tìm thấy kia đang ở đâu? Chúng có tấn công Hạm đội đặc nhiệm 16 từ phía bắc, phía nam, hay thậm chí là bọc hậu từ phía đông không? Liệu chúng có thừa cơ lúc máy bay ném bom bổ nhào của ông xuất kích toàn bộ để tấn công hai chiếc mẫu hạm kia mà ập tới không?
Ông đang đối mặt với một lựa chọn hệ trọng và cấp bách: Hoặc là giữ chân máy bay ném bom lại để chờ đợi một cuộc tấn công phối hợp hoàn toàn, đồng thời hy vọng nhận được tin tức về hai ba chiếc hàng không mẫu hạm đang mất tích kia, hoặc là xuất kích ngay bây giờ, chấp nhận rủi ro, biết đâu chúng sẽ xuất hiện gần hai chiếc hàng không mẫu hạm đã được phát hiện.
Spruance đã xuất kích. Điều này thực sự cũng chẳng thể gọi là "mạo hiểm có kế hoạch". Đây là việc ông đem tương lai của hải quân và tổ quốc mình ra đặt cược một ván cuối cùng trong canh bạc hiểm hóc và hệ trọng nhất này. Quyết định loại này – quyết định cá nhân chỉ có một lần trong đời – chính là bài kiểm tra đối với một vị tư lệnh. Ngay trong giờ phút này, đối thủ dày dạn kinh nghiệm và có thực lực mạnh mẽ hơn nhiều của ông, Phó Đô đốc Nagumo Chuichi, cũng sẽ phải đối mặt với lựa chọn khó khăn tương tự.