Chiến Tranh và Hồi Ức (1941–1945)

Lượt đọc: 610 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 40

❊ ❊ ❊

Nguyên bản, Na-ta-li hằng tưởng tượng việc trốn thoát qua "đường hầm dưới đất" là một hành động có tổ chức, nhanh chóng, đầy bí ẩn, kịch tính và mang đậm màu sắc lãng mạn. Kết quả là họ lại ở Ma-xi-a-na (Marciana) trong cảnh rỗi việc, chỉ biết chờ đợi không biết đến bao giờ, lại không được giao thiệp với bất kỳ người ngoài nào, ngay cả dân làng cũng không qua lại. Đây là một sơn trại nhỏ nằm trong vòng vây, những ngôi nhà đá cổ xưa nằm rải rác trên một mỏm núi giữa lưng chừng đỉnh cao nhất của đảo En-ba (Elba), cảnh sắc tuy hữu tình, đủ để dưỡng tâm tính, nhưng mấy vị lữ khách lưu lạc này trông chẳng khác nào đang tới đây nghỉ dưỡng, tìm kiếm chút thú vui thôn dã, chỉ là chuyến đi này không khiến họ tốn lấy một xu.

Họ cứ trì hoãn mãi. Ca-tê-nô-vô dường như chẳng hề bận tâm. Về kế hoạch đào tẩu và những người đang giúp đỡ họ, ông ta rất ít khi tiết lộ với Na-ta-li và chú của cô, điều này cô có thể hiểu được. Nhỡ đâu họ bị bắt, cô càng biết ít thì càng tốt. Có một lần, khi chỉ có hai người họ ở bên nhau — lúc này họ đã chờ được gần một tháng — ông ta nói: "Cô thấy đấy, Na-ta-li, mọi việc đều suôn sẻ. Chẳng có gì phải lo lắng cả." Cô liền cố gắng không lo lắng nữa.

Chỗ ở của họ là một túp lều đá xiêu vẹo, vữa tường nứt nẻ khắp nơi, nằm ở cuối một con hẻm dốc hướng lên núi. Qua khỏi căn nhà nhỏ này, con hẻm trở thành một lối mòn dành cho lừa đi xuyên qua những mảnh vườn rau và vườn nho; những người dân làng lặng lẽ vẫn thường hái rau quả trên đó, chất hàng lên lưng lừa, thỉnh thoảng cũng cưỡi chúng lên xuống núi. Họ đều là những người bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Cảnh sắc nơi đây tuyệt đẹp, mặc dù dân làng đối với cảnh đẹp như vậy cũng giống như đối với người lạ, chẳng buồn đoái hoài. Nhìn về phía tây, những vách đá của đảo Co-xi-ca (Corsica) sừng sững trên mặt nước; phía đông là rặng núi mờ ảo trên đất liền; phía nam và phía bắc là một dãy những hòn đảo xanh cùng thuộc quần đảo này như Ca-pu-ra-ya (Capraia) và Ki-đô-san (Montecristo), thường xuyên bị mây trắng bao phủ; phía dưới chân núi, nước biển xanh biếc vỗ vào bờ biển rợp bóng cây, điểm xuyết những làng chài. Na-ta-li thường leo núi, dành nhiều thời gian trong những vườn rau vườn quả, tận hưởng cảnh sắc vô biên, tiếng chim hót cùng màu sắc và hương thơm của hoa trái tháng Chín.

Tuần đầu tiên, có một cô gái béo vô cùng xấu xí, mặt đầy mụn thịt, ít nói, mang rau, trái cây, bánh mì thô, sữa dê và phô mai đến cho họ trong túi lưới, thỉnh thoảng còn có cả cá gói trong rong biển ướt. Sau đó, An-na Ca-tê-nô-vô bắt đầu tự đi chợ nhỏ để mua sắm. Nếu đảo En-ba có thực hiện chế độ phân phối, thì ở Ma-xi-a-na nhỏ bé này cũng chẳng ai hay biết; nếu trên đảo có cảnh vệ, họ cũng không thấy những thị trấn nhỏ vùng núi này có gì đáng để phải bận tâm phòng bị. Sự căng thẳng bất an của Na-ta-li dần dần biến mất. Túp lều nhỏ chỉ có hai căn phòng tối tăm, nồng nặc mùi ẩm mốc — gia đình Ca-tê-nô-vô ở một phòng, cô và chú ở một phòng — hố xí nằm bên ngoài nhà, bếp lò đốt củi đóng đầy từng lớp dầu mỡ đen kịt. Cô phải xách thùng nước ra máy bơm công cộng của làng để lấy nước, thỉnh thoảng còn phải xếp hàng cùng lũ trẻ chân trần. Đêm đêm cô ngủ trên rơm. Nhưng cô và con mình dù sao cũng đã thoát khỏi nanh vuốt của Ve-na Bê-ke, có được một nơi ẩn náu yên tĩnh, xa xôi. Trước mắt, như vậy đã là đủ rồi.

Ê-len Giê-tê-rô đối mặt với sự trì hoãn trước mắt bằng sự tĩnh lặng của một triết gia. Khi cụ già Sa-che-đô-tê tiễn ông ở căn nhà bên bờ biển Phô-lu-ni-ca, đã tặng ông một cuốn Kinh Thánh cũ kỹ, mốc meo, đối chiếu giữa tiếng Hê-brơ và tiếng Ý làm quà chia tay. Cả ngày, ông ngồi trên một chiếc ghế dài dưới gốc cây táo với cuốn Kinh Thánh đó và một tập tiểu luận của Mon-taigne (Montaigne) đã cong mép. Mãi đến lúc hoàng hôn, ông mới đi dạo trên con đường mòn dành cho lừa. Ông dường như đã vứt bỏ tính khí khó chiều cùng thói quen làm việc căng thẳng của mình. Ông tỏ ra bình thản, không đòi hỏi gì, tính tình vui vẻ. Ông để mặc râu mọc dài, trông ngày càng giống một lão nông. Một buổi sáng đẹp trời cuối tháng Chín, Na-ta-li phàn nàn với ông về tình trạng dậm chân tại chỗ trước mắt, ông nhún vai nói: "Cô không muốn ở lại đảo En-ba chờ cho đến khi chiến tranh kết thúc sao? Tôi thì không bận tâm. Tôi không giống Na-pô-lê-ông, tự mãn cho rằng thiên hạ đều đang mong nhớ mình, hay có việc cần đến mình."

Cuốn Kinh Thánh mở đặt trên đầu gối ông. Cô nhìn chằm chằm vào những ký tự Hê-brơ rối rắm và kiểu chữ in tiếng Ý cổ xưa trên trang sách, tất cả đều nhuốm màu năm tháng và những vết ố do hơi ẩm biển để lại. "Rốt cuộc là vì sao ông lại đọc cái này?"

"A-ris-tốt (Aristotle) từng nói," — Ê-len hơi lộ vẻ tươi vui — "ông ấy càng về già càng yêu thích thần thoại. Muốn đọc cùng tôi không?"

"Tôi đã bỏ lớp đọc kinh ngày Chủ nhật ở nhà thờ từ năm mười một tuổi, từ đó về sau chưa từng học tiếng Hê-brơ nữa."

Ông nhường một chỗ trên ghế dài. Cô ngồi xuống nói: "À, được thôi, tại sao không chứ?"

Ông lật sách đến trang đầu tiên. "Cô còn nhớ chút nào không? Thử xem."

"Được rồi. Đó là B. Beh-ray-Shis. Phải không?"

"Học thức khá lắm! Nghĩa là 'thuở ban đầu'. Tiếp theo là gì?"

"Ôi, Ê-len, đầu óc tôi không nhét nổi thứ này, tôi cũng chẳng hề hứng thú."

"Thôi nào, Na-ta-li. Cho dù cô không thích học, tôi lại thích dạy."

Tiếng gõ cửa nặng nề và vội vã vang lên trên cánh cửa gỗ.

Một thanh niên đang đứng ngoài cửa cười với Na-ta-li, vuốt ve chòm râu đen rủ xuống. Khuôn mặt tròn béo màu ô liu thô lỗ, vô lễ; đôi mắt nâu lộ vẻ thèm khát nhìn cô; chiếc quần nhung kẻ rộng thùng thình và chiếc áo khoác ngắn màu đỏ trông lại giống trang phục trên sân khấu. "Chào cô, ông La-bin-nô-vít bảo tôi đến. Sẵn sàng đi chưa?" Giọng nói chói tai, kỳ quặc.

Một chiếc xe tải không mui chặn ngang con hẻm, kéo xe là một con la gầy trơ xương, hai cái tai dài giật giật.

"Ừm? Đi? Ngay bây giờ ư? Tôi tin là không thành vấn đề, nhưng — mời vào trong."

Anh ta lắc đầu, cười. "Nhanh, nhanh lên, tôi cầu xin cô đấy."

Ca-tê-nô-vô và gia đình đang ngồi quanh bàn trong căn phòng phía sau, ăn bữa trưa chỉ có bánh mì và súp rau mỗi ngày. "Tốt quá!" Ông ta lau miệng, đứng dậy. "Tôi đã đợi cậu ta cả tuần nay rồi. Tôi thu dọn đây."

Ê-len hỏi: "Cậu ta là ai?"

Vị bác sĩ đưa cho ông một cử chỉ mơ hồ. "Cậu ta là người Co-xi-ca. Xin hãy nhanh lên."

Những người chạy trốn này leo lên chiếc xe tải chậm chạp, xóc nảy trên con đường xuống núi, hướng về phía tây. Mi-li-am và Lu-ít đùa nghịch trên đống cỏ khô. Họ đến một bãi biển đá chỉ có ba năm hộ ngư dân định cư rồi xuống xe. Gần đó không thấy bóng người, chỉ có những bộ quần áo vải thô phơi trên dây và những tấm lưới cá ướt trải trên những chiếc thuyền kéo lên bãi biển cho thấy nơi đây có người ở. Người thanh niên Co-xi-ca dẫn họ lên một chiếc thuyền buồm đang đỗ cạnh bến tàu bằng cọc gỗ lung lay, trên thuyền chất đầy ngư cụ. Hai người đàn ông mặc áo len rách rưới, râu ria xồm xoàm bước ra từ cabin trên boong, kéo một cánh buồm xám xịt bẩn thỉu. Hai người đàn ông hét lên với nhau những câu không hiểu nổi, con thuyền nghiêng sang một bên rồi lướt đi, ra ngoài khơi. Con la bị cột dưới gốc cây đứng đó, nhìn chằm chằm theo chiếc thuyền buồm rời đi, trông rất giống một đứa trẻ bị bỏ rơi.

Na-ta-li tựa vào cạnh cabin, nhìn Mi-li-am và búp bê của cô bé chơi đùa trên đống lưới cá khô. Người thanh niên Co-xi-ca nói thứ tiếng địa phương giọng cổ họng đặc sệt khiến đôi lúc cô hoàn toàn không biết anh ta đang nói gì, anh ta bảo cô chặng nguy hiểm nhất đã qua rồi. Họ không gặp cảnh sát, cảnh sát biển ít khi tuần tra ở đây, nên giờ họ không sợ phát xít nữa. Chỉ cần đến Co-xi-ca, cô và những người bạn đồng hành sẽ an toàn, họ có thể ở bao lâu tùy thích. Co-xi-ca đối với những người chạy trốn — những người trốn vào rừng — luôn tuân theo các quy tắc nghiêm ngặt. Nhà anh ta ở Co-tê (Corte), đó là căn cứ địa của quân nổi dậy trên vùng núi. Những sĩ quan giám sát đình chiến của Đức và Ý vì muốn giữ mạng sống cho mình đều phải tránh xa nơi đó. Anh ta tên là Pa-xca-lơ Ga-phu-ri (Pascal Gafuri). Anh trai anh ta là Ô-răng-đu-chu (Orlanduccio) sống ở Mác-xây (Marseille), thời bình thường hay vận chuyển hàng hóa cho ông La-bin-nô-vít trên các tàu buôn Pháp. Bây giờ Ô-răng-đu-chu làm việc ở cục quản lý cảng. Trên bến cảng Mác-xây không thiếu gì người Co-xi-ca, phong trào kháng chiến trong cảng cũng rất mạnh.

Gió biển thổi mạnh, làm chiếc áo khoác len cũ màu nâu của Na-ta-li dán chặt vào cơ thể. Người thanh niên Co-xi-ca vừa nói chuyện, vừa thưởng thức nhìn đủ đường cong trên ngực và đùi cô. Na-ta-li đã quen với ánh mắt của đàn ông, nhưng kiểu nhìn chằm chằm ngây ngốc như thế này cũng khiến cô không tự nhiên. Tuy nhiên, ánh mắt đó không giống vẻ hung thần ác sát, chỉ là sự ham muốn sắc đẹp mãnh liệt của dân tộc La-tinh — hiện tại chỉ có vậy thôi.

Cô hỏi anh ta có biết kế hoạch tiếp theo thế nào không, mục đích là để đánh lạc hướng anh ta. Anh ta không biết. Họ phải ở cùng gia đình anh ta, chờ đợi tin tức của ông La-bin-nô-vít. Anh ta từng nói chuyện với ông La-bin-nô-vít chưa? Chưa, anh ta chưa từng gặp ông La-bin-nô-vít bao giờ, tất cả những việc này đều do anh trai anh ta sắp xếp. Hai người trong cabin cũng là anh em của anh ta sao? Mặc kệ họ. Hai người đó đều là ngư dân ở Ba-xti-a (Bastia), làm việc này là để kiếm tiền. Những ngày tháng khó khăn, ủy ban đình chiến không cho tàu cá ra khơi. Thân tàu đều khô nứt, các mối nối đều hở; hai người này đã mất hai ngày lén lút trám trét đáy tàu. Họ đều là những tay hảo hán giang hồ, nhưng cô không cần phải sợ họ.

Na-ta-li bắt đầu suy tính xem cô nên đề phòng Pa-xca-lơ đến mức nào. Cô hiện đang ở trên biển khơi với ba gã đàn ông lực lưỡng, ai cũng không có giấy tờ rời cảng hợp pháp. Cái thắt lưng đầy tiền của Ê-len sẽ ra sao? Những tờ đô la trong ngăn kéo khóa chặt của chiếc rương của cô thì sao? Con thuyền nhỏ cưỡi sóng, lao vút về phía mặt trời đang dần lặn sau những ngọn núi cao của đảo Co-xi-ca, cánh buồm đập phành phạch, tất cả những điều này đều đang thực sự xảy ra trước mắt cô, nhưng lại giống như trong mơ, sau thời gian dài trì hoãn ở Ma-xi-a-na lại đột nhiên có một chuyến hải hành như thế này! Gã lạ mặt giống như cướp này có thể dễ dàng cưỡng hiếp cô nếu hắn quyết tâm làm vậy. Ai có thể ngăn hắn lại chứ? Ê-len tội nghiệp làm được sao? Vị bác sĩ điềm đạm nho nhã làm được sao? Hai con quái vật thô lỗ, cười nói ồn ào trong cabin, những kẻ lúc này đang chuyền tay nhau uống rượu trong một chiếc cốc lớn, bọn chúng thì sao? Bọn chúng chỉ biết đứng bên cổ vũ, có khi còn đang chờ đến lượt mình. Trong trí tưởng tượng sống động và lo âu của Na-ta-li đã hiện lên cảnh tượng này: gã đó đẩy cô ngã trên lưới cá, tốc váy cô lên, dùng hai bàn tay to lớn ép tách đôi đôi chân trần của cô — những con sóng ngày càng dữ dội từng đợt vỗ qua boong tàu, nước biển bắn vào làm mắt Lu-ít đau rát, cậu bé òa khóc. Cô vội vàng lao vào ôm lấy cậu bé dỗ dành, hình ảnh của Pa-xca-lơ cũng theo đó mà rời khỏi cô.

Phía tây trời đỏ rực, mặt trời đã khuất sau đảo Co-xi-ca. Gió mạnh hơn. Chiếc thuyền buồm nghiêng hẳn sang một bên, lao nhanh về phía trước. Những ngọn sóng liên tiếp vỗ thẳng lên phía trên mạn thuyền. An-na bị say sóng, vịn mạn thuyền nôn mửa, Ca-tê-nô-vô vỗ vai lưng bà, Mi-li-am đứng bên cạnh nhìn, vô cùng hoảng sợ. Ê-len lảo đảo đi về phía Na-ta-li ở phía khuất gió của cabin trên boong, ngồi xuống bên cạnh cô, vừa nhìn cảnh đẹp đảo En-ba xa xa phía đuôi thuyền, vừa tán thưởng, vừa đưa ra những luận thuyết về Na-pô-lê-ông. Ông nói, Na-pô-lê-ông rời khỏi đảo Co-xi-ca, làm đảo lộn cả châu Âu, lật đổ từng chính quyền cũ, gây ra sự hủy diệt và chết chóc khắp nơi, biến Cách mạng Pháp thành một đế chế hữu danh vô thực, diễn ra một vở opera hài kịch, cuối cùng vẫn đi một vòng tròn lớn, kết thúc cuộc đời trên hòn đảo En-ba đối diện với quê hương mình. Kết cục của Hít-le cũng sẽ không khác gì; những kẻ hỗn thế ma vương phất lên nhanh chóng này cuối cùng đều sẽ nuôi dưỡng lực lượng đối địch để tiêu diệt chính mình.

Trong tiếng gầm thét của gió và sóng biển, Na-ta-li thực sự khó mà tĩnh tâm lắng nghe, nhưng trước đó trong những khoảng nghỉ khi đọc Kinh Thánh Hê-brơ, cô đã nghe những luận điệu này từ lâu rồi, nên cô chỉ cần thỉnh thoảng gật đầu là được. Chuyến đi sóng gió này mau kết thúc đi! Bờ biển đảo Co-xi-ca vẫn còn dưới đường chân trời, màn đêm đã buông xuống. Lu-ít nức nở trong lòng cô. Cô ôm chặt lấy cậu bé để tránh bị lạnh, trong lòng dâng lên một nỗi buồn bã vì đã đưa cậu bé lên một chiếc thuyền nhỏ mạo hiểm bôn ba trên biển; nhưng những ngư dân này chắc chắn đã từng ra khơi vô số lần trong thời tiết tồi tệ hơn nhiều. Pa-xca-lơ mò mẫm đi tới, tay cầm một cái chai. Cô uống một ngụm lớn rượu brandy nguyên chất, ngụm rượu này mang lại cho cô hơi ấm nóng bỏng, Pa-xca-lơ sờ soạng trên ngực cô, cô cũng không trách cứ, chỉ coi đó là hành động vô ý.

Một ngụm rượu brandy, sự lắc lư không ngừng, cộng thêm sự buồn tẻ trên con thuyền này khiến Na-ta-li không khỏi buồn ngủ, sóng biển làm ướt đôi chân và bắp chân cô, con thuyền lúc lên lúc xuống, lắc lư không ngừng, tất cả những điều này cô đều không cảm nhận được, thời gian trôi đi chậm chạp, cô hoàn toàn không biết rốt cuộc đã trôi qua bao lâu. Con thuyền cuối cùng cũng tiến vào vùng nước lặng. Bờ biển đen kịt xuất hiện phía trước, dưới ánh trăng có thể lờ mờ nhận ra những cái cây lớn và tảng đá khổng lồ. Lại qua nửa tiếng đồng hồ nữa, chiếc thuyền buồm áp sát bờ. Một ngư dân hạ buồm; người kia nắm một sợi dây thừng bện nhảy lên một tảng đá phẳng. Pa-xca-lơ đỡ những hành khách mang theo chút hành lý ít ỏi xuống thuyền. Con thuyền lập tức kéo buồm, biến mất trong màn đêm.

"Được rồi, cô đã đến Co-xi-ca, nghĩa là đã ở Pháp rồi," anh ta nói với Na-ta-li, hai tay xách chiếc rương của cô, "nhưng chúng ta vẫn phải đi bộ ba cây số nữa."

Cô ôm Lu-ít trong tay, đi trên một con đường mòn giữa cánh đồng tỏa ra mùi bùn lầy, cũng không khó để theo kịp bước chân anh ta, nhưng họ phải đi chậm lại một chút để chờ những người khác. Sau chuyến hải hành dài như vậy, mặt đất dưới chân cứ chao đảo. Vì vậy, quãng đường này họ đi mất gần một tiếng đồng hồ. Sau khi đến một trang trại tối om, Pa-xca-lơ dẫn họ đến một căn lều nhỏ phía sau. "Đây là chỗ ngủ của các người. Trong nhà lớn có bữa tối."

Bữa tối Pa-xca-lơ cung cấp cho họ là súp và bánh mì. Không thấy người nào khác. Dưới ánh nến, trên chiếc bàn ăn bằng gỗ dài, Na-ta-li có thể nhìn thấy những xúc tu bạch tuộc trong bát súp lớn; dù cảm thấy buồn nôn, cô vẫn ăn sạch từng chút một trong bát của mình. Pa-xca-lơ cho Lu-ít ăn bánh mì ngâm sữa dê, cậu bé ăn ngấu nghiến như một con chó; họ lên căn lều nhỏ, nằm ngủ trên rơm trong khi vẫn mặc nguyên quần áo.

Sáng hôm sau, Pa-xca-lơ lái một chiếc xe tải cũ chở họ đi xuyên qua Ba-xti-a, chỉ trong một cái nhìn thoáng qua, những con phố hẹp và những ngôi nhà cổ kính trông rất giống các thị trấn ở vùng To-xca-na (Tuscany) của Ý. Một chuyến tàu chỉ có ba toa nhỏ đưa họ lên một con đèo dựng tóc gáy. Hành khách trên tàu, có người ăn mặc giống Pa-xca-lơ, có người mặc quần áo cũ kỹ của dân thành phố, họ đều bị Lu-ít làm cho vui vẻ, cậu bé vẫn giữ thói quen vui vẻ mỗi sáng, vỗ đôi bàn tay nhỏ trong lòng mẹ, lẩm bẩm không ngừng, mắt nhìn xung quanh, trông rất thông minh. Pa-xca-lơ vừa đùa giỡn với người soát vé, vừa đưa cho anh ta một xấp vé, gã đó cũng không để ý đến mấy người lưu lạc này. Na-ta-li cảm thấy căng thẳng và phấn khích. Cô đã ngủ một giấc ngon lành, bữa sáng ăn no bánh mì, phô mai và uống một chút rượu. Cửa sổ tàu mở, bên ngoài là cảnh núi non tráng lệ liên miên, hương hoa nồng nàn từng đợt ùa vào, sảng khoái tâm hồn. Pa-xca-lơ nói với cô đây là hương thơm bụi rậm nổi tiếng, thứ mà Na-pô-lê-ông trên đảo Thánh Hê-len (Saint Helena) luôn khao khát được ngửi lại.

"Tôi hoàn toàn hiểu tâm trạng đó của ông ấy," cô nói. "Hương thơm này thực sự giống như tỏa ra từ thiên đường."

Pa-xca-lơ nheo mắt, nhìn cô đầy nóng bỏng. Cô suýt nữa không nhịn được cười, anh ta trông giống hệt Ru-dốp Va-len-ti-nô (Rudolph Valentino) đang diễn cảnh tán tỉnh trong một bộ phim câm. Mặc dù vậy, anh ta vẫn khiến cô cảm thấy sợ hãi.

Cha của Pa-xca-lơ trông giống con trai mình, chỉ là già hơn ba mươi tuổi, vạm vỡ hơn. Ông ta cũng mặc đồ nhung kẻ, tóc và râu bạc trắng, khuôn mặt hình bầu dục giống hệt, đôi mắt nâu thiếu văn minh giống hệt, trũng sâu trong hốc mắt đầy nếp nhăn như da thuộc của người già. Ông ta tiếp khách lịch sự chu đáo, ngôi nhà của ông dọc theo một con phố dốc chia làm ba tầng cao dần, lên trên nữa là lâu đài cổ trên đỉnh Co-tê, vẻ ngoài và cách bài trí của ngôi nhà đều cho thấy gia đình ông khá giả. Ông bày ra một bữa trưa thịnh soạn trên chiếc bàn gỗ dài sáng bóng trong sảnh đường u ám để chào đón nhóm người tị nạn này. Người vợ không thân hình, mặc đồ đen và hai cô con gái cũng mặc đồ đen, đi lại lặng lẽ của ông bưng rượu thịt lên, Pa-xca-lơ với vẻ tự hào đậm chất quê hương chỉ ra rằng trên bàn bày là bánh nướng, thịt dê hầm, bánh hạt dẻ và rượu Co-xi-ca.

Lần nâng ly đầu tiên, ông Ga-phu-ri ngồi trên chiếc ghế bành nặng nề của mình, phát biểu một bài diễn văn ngắn. Ông nói ông biết tiến sĩ Giê-tê-rô là một nhà văn Mỹ nổi tiếng, nay thoát thân từ chế độ phát xít khét tiếng. Nước Mỹ rồi sẽ có ngày đến cứu viện Co-xi-ca, thoát khỏi kẻ áp bức. Người dân Co-xi-ca khi đó chắc chắn sẽ vùng lên phối hợp, giết sạch một đám đông người Đức và người Ý, giống như tổ tiên của ông đã từng giết người Giê-nô-va, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Sa-ra-xên (Saracen), La Mã và Hy Lạp ở Co-tê vậy. Hàng loạt chữ "giết" hung ác mà vị địa chủ già nhẹ nhàng thốt ra — giết người Tây Ban Nha, giết người La Mã, giết người Hy Lạp — khiến Na-ta-li rùng mình. Ông già Ga-phu-ri còn nói, giúp đỡ vị nhà văn nổi tiếng và bạn bè của ông cũng là đặc quyền của ông. Nhà của Ga-phu-ri chính là nhà của họ.

Pa-xca-lơ dẫn họ lên cầu thang phía sau, đến một căn hộ riêng biệt. Sau đó đưa Na-ta-li vào một căn phòng có thêm một chiếc giường trẻ em, nói với Na-ta-li rằng: "Phòng của tôi chính là căn phòng ngay tầng dưới này." Khi nói, anh ta lại lộ ra vẻ mặt của Ru-dốp Va-len-ti-nô. Nhưng trong nhà cha mình, vẻ hung thần ác sát đó đã biến mất. Dù sao anh ta cũng là một chàng trai trẻ đầy máu nóng, quá yêu thích sắc đẹp là bệnh chung của vùng Địa Trung Hải; hơn nữa, anh ta dù sao vẫn là ân nhân cứu mạng của cô. Cô đã đến lãnh thổ Pháp, đây mới là điều thực sự quan trọng. Trong lòng cô trào dâng một nỗi biết ơn đối với Pa-xca-lơ.

"Anh thật tốt, thưa ông." Cô một tay ôm Lu-ít, tay kia nắm lấy tay anh ta, rồi nhẹ nhàng hôn lên má anh ta. "Cảm ơn anh rất nhiều."

Đôi mắt anh ta sáng rực như than hồng. "Rất hân hạnh được phục vụ cô, thưa bà."

A-phơ-lan La-bin-nô-vít bắt chuyến tàu ba toa này từ phía bên kia ở cảng A-gi-a-xi-ô (Ajaccio) để lên núi tới Co-tê. Tuyến đường sắt đơn này nổi tiếng với cảnh sắc tuyệt đẹp, nhưng ông lại cuộn mình trên ghế cạnh cửa sổ, nhắm mắt lại, thung lũng và núi đá xinh đẹp lướt qua bên cạnh, ông lại chỉ mải mê hút hết điếu này đến điếu khác loại thuốc lá rẻ tiền của Pháp Vichy. Nhắm mắt không nhìn ánh nắng rực rỡ và cảnh núi non chạy dài như thế này, phần nào làm dịu đi chứng đau nửa đầu đang hành hạ trong đầu ông theo nhịp điệu của bánh xe. Biết bao danh lam thắng cảnh vô song trên đời, như dãy Pyrenees, dãy Tyrol, dãy Dolomites, dãy Alps, thung lũng sông Danube, bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ, vùng quê nghèo khó của Bồ Đào Nha, những ngọn núi vạn dặm của Syria, v.v., đều trôi qua vô ích trước mắt A-phơ-lan La-bin-nô-vít. Mặc dù trước mắt có núi sông tráng lệ, trong lòng ông lại chỉ nghĩ đến việc làm sao xoay xở đủ lương thực để những người tị nạn Do Thái có thể sống sót chạy trốn.

Người tên La-bin-nô-vít này, không chỉ không có duyên với việc thưởng thức cảnh đẹp, mà ngay cả cái nhìn về địa lý và quốc gia cũng hoàn toàn khác biệt. Trong mắt ông, cái gọi là quốc gia, biên giới, hộ chiếu, thị thực, ngôn ngữ, pháp luật, tiền tệ, v.v., trong cuộc tranh chấp thô bạo nguy hiểm đang diễn ra trên lục địa châu Âu hiện nay đều đã không còn là những yếu tố thực tế nữa. Theo nghĩa này, thái độ của ông là có tội. Ông chỉ thừa nhận luật lệ cứu viện mà không biết gì khác. Ông không phải luôn là kẻ phạm pháp như vậy; mà hoàn toàn ngược lại. Cha mẹ ông đến Mác-xây sau Thế chiến thứ nhất từ Ba Lan. Cha ông là thợ may, nhận thầu quân phục hải quân và thủy thủ tàu buôn. Vì vậy A-phơ-lan được giáo dục kiểu Pháp, lớn lên giữa những người bạn Pháp. Ông từng làm nhân viên phục vụ cabin trên tàu buôn Pháp, nhờ cần cù nỗ lực, từng bước leo lên, cuối cùng mới có được giấy phép kỹ sư máy. Cho đến tận hơn hai mươi tuổi, ông vẫn luôn là một người Pháp tuân thủ pháp luật. Đối với dòng máu Do Thái của mình chỉ có một chút ý thức mơ hồ.

Khi Hitler vừa lên nắm quyền, Marseille cũng như từ dưới cống rãnh bốc lên mùi hôi thối, những cuộc bài Do Thái bắt đầu xuất hiện. Chính điều này khiến Rabinowitz buộc phải luôn ý thức rằng mình là một người Do Thái. Một nhà Do Thái phục quốc người Thụy Sĩ giàu có đã tìm đến ông, đề nghị ông làm công việc đưa người Do Thái vượt biên trái phép sang Palestine. Ông dùng một con tàu cũ như chiếc "Izmir", đã từng đưa trót lọt ba trăm người xuôi dòng sông Danube, vượt Biển Đen đến Thổ Nhĩ Kỳ, rồi qua những vùng quê hẻo lánh ở Thổ Nhĩ Kỳ và Syria để tới Thánh địa. Sự nghiệp mạo hiểm này đã thay đổi cuộc đời ông. Kể từ đó, ông không làm gì khác nữa.

Sau khi định cư ở Palestine, ông học được một chút tiếng Hebrew và cưới một cô gái Haifa. Ông từ bỏ cái tên Pháp "André" để trở lại với cái tên Avram. Ông từng muốn tham gia phong trào phục quốc Do Thái, nhưng vì chán ghét chuyện đảng phái, cuối cùng ông đã từ bỏ ý định đó. Trong thâm tâm, ông vẫn là một người Do Thái Pháp. Lòng căm thù người Do Thái lan tràn khắp châu Âu khiến ông vô cùng bối rối, ông quyết tâm phải hành động. Tầm nhìn của ông chỉ gói gọn trong việc cứu lấy sinh mạng con người. Những ngày đó, bên tai ông chỉ nghe thấy người Do Thái đối mặt với mối đe dọa từ Hitler đã nói bằng đủ thứ tiếng một câu ngạn ngữ cam chịu: "Nấu trong nồi thì khó chịu, nhưng bị nuốt chửng thì lại dễ dàng hơn." Thế nhưng trong mắt ông, Đức Quốc xã là mối nguy cần phải nghiêm túc đối phó. Ông không còn tranh luận về kinh nghĩa hay chính trị với các phái phục quốc Do Thái nữa, mà sử dụng tiền bạc và mối quan hệ của họ để giải cứu đồng bào. Ông cùng Herbert Rose và gia đình Sachedot đều đã đóng góp cho công việc này.

Sau khi nước Pháp thất thủ, ông quay trở lại đó, tham gia phong trào kháng chiến ở Marseille, xem đây là căn cứ tốt nhất để tiếp tục công việc cứu trợ. Thực tế, ông đã tham gia phong trào kháng chiến nhiều năm rồi. Làm giấy tờ giả, buôn lậu, thám báo, nói dối, giữ bí mật, móc túi trộm cắp, tất cả đều là sở trường của ông. Có lần, để cứu bốn mươi người, ông đã giết chết một kẻ chỉ điểm ở Romania vì hắn tống tiền ông; ban đầu ông không muốn lấy mạng hắn, nhưng cú đập bằng thanh sắt quá mạnh, gã đó ngã gục trong con hẻm, trợn ngược mắt rồi tắt thở. Những khi lòng dạ bất an, ông thường nhớ lại chuyện cũ này—cảm giác thanh sắt đập vỡ xương, máu tươi trào ra từ mái tóc rối bời của kẻ tống tiền nằm trên mặt đất—nhưng ông không hề cảm thấy hối hận.

Mỗi khi quá mệt mỏi, gặp trắc trở hoặc phát hiện mình làm điều gì ngu ngốc, chứng đau nửa đầu của Rabinowitz lại tái phát. Ông lên chuyến tàu tới Corsica lần này không phải vì có công việc quan trọng cần hoàn thành, mà chỉ đơn thuần muốn gặp bà Henry. Mặc dù trên tàu "Izmir", ông chỉ trò chuyện với bà hai lần, nhưng bà đã để lại trong ông một ký ức rực rỡ. Rabinowitz cũng như bao người đàn ông châu Âu khác, trong tâm trí ông, phụ nữ Mỹ luôn đầy mê hoặc. Natalie Henry khiến ông mê mẩn: một người phụ nữ Do Thái, một vẻ đẹp Do Thái với làn da ngăm đen không thể chối cãi, nhưng lại là một người Mỹ thuần túy như Franklin Roosevelt, là cháu gái của một nhà văn nổi tiếng, lại còn kết hôn với một sĩ quan tàu ngầm Mỹ! Ở cảng Marseille thời bình, những chiến hạm Mỹ viếng thăm luôn tiến vào với hào quang uy lực từ phương xa. Những sĩ quan trẻ tuổi trong bộ quân phục trắng, huy hiệu vàng, đi lại thành từng nhóm trên đại lộ, trong mắt Rabinowitz thời bấy giờ, họ gần như là những "siêu nhân" mà người Đức hằng mơ ước. Hình ảnh Byron Henry trong một bức ảnh chụp nhanh càng làm tăng thêm vẻ ma mị của Natalie trong mắt Rabinowitz.

Ông không hề có ý đồ gì với cô; cô trông hoàn toàn là một người vợ hiền mẹ đảm. Ông chỉ khao khát được nhìn thấy cô. Trên con tàu "Izmir", ông đã cố gắng hết sức để kiềm chế thứ tình cảm vô nghĩa của mình, dù ông nghĩ rằng cô cũng có thiện cảm với ông. Tình thế ở Naples vốn đã đủ đau đầu, không thể để một mối tình vô vọng làm rối loạn tâm trí ông thêm nữa. Dẫu vậy, việc cô rời tàu vẫn khiến ông bị một cú sốc.

Tin tức từ Siena truyền đến vào tháng Sáu—trước hết là bà Henry và chú của cô vẫn ở đó, sau đó là họ sẽ đi cùng gia đình Castelnuovo—khiến ông đứng ngồi không yên. Sau khi biết bà Henry đã đến Corsica, ông lại trỗi dậy ý muốn đến đó, ông đã đấu tranh với ý muốn này suốt một tuần. Cuối cùng vẫn không cưỡng lại được. Trong đêm hành trình trên tàu, cơn đau nửa đầu ập đến; đoàn tàu nhỏ rên rỉ bò qua những khúc cua dốc và những sườn đồi để hướng tới Corte, cộng thêm tâm trạng rối bời và những cơn đau đầu như muốn nổ tung, ông không khỏi ngạc nhiên về sự liều lĩnh của chính mình. Tuy nhiên, niềm vui trong lòng ông lại là điều chưa từng có kể từ khi vợ ông qua đời.

Khi ông đến nhà Gafuri, người phụ nữ khiến ông say đắm đang ở trong căn phòng nhỏ trên lầu, mặc một chiếc áo choàng len xám cũ kỹ, tắm cho đứa nhỏ trong chậu rửa bát ở nhà bếp. Cô vừa gội đầu xong, tóc đang được kẹp ngược lên. Đứa trẻ nghịch ngợm khiến cô ướt sũng nước xà phòng, vì vậy trông cô lúc này hoàn toàn không giống một "nàng thơ" trong mộng.

Một tiếng gõ cửa. Giọng nói của Aaron vang lên từ bên ngoài: "Natalie, chúng ta có khách."

"Ai vậy?"

"Avram Rabinowitz."

"Chúa ơi!"

Cô nghe thấy Jastrow cười: "Cậu ấy không tự xưng là Chúa đâu cưng, dù cậu ấy có thể được coi là một vị cứu tinh."

"Ồ, ý em là, anh ấy sẽ ở đây bao lâu? Louis toàn thân đầy xà phòng. Em cũng vậy. Trông em thế này thật kinh khủng. Có tin tức gì không? Chúng ta sắp đi chưa?"

"Anh nghĩ là chưa. Cậu ấy sẽ ăn trưa ở đây."

"Được rồi—ồ, xong ngay đây, chỉ mười lăm phút nữa là xuống."

Cô vội vàng mặc chiếc váy len trắng, thắt lưng màu đỏ tươi với khóa đồng vàng óng, chiếc váy cô mua ở Lisbon để gặp Byron. Từ khi sinh Louis, cô tăng cân nên đã lâu không mặc vừa. Lúc thu dọn hành lý ở Siena, cô đã quyết định nhét nó vào vali vào phút cuối; biết đâu trong những chuyến phiêu lưu sau này sẽ có lúc cần chưng diện! Cô mặc cho Louis bộ quần áo nhung tăm bà Gafuri tặng, rồi bế nó xuống vườn. Rabinowitz đang ngồi trên băng ghế dưới giàn nho cùng mọi người, lúc này đứng dậy. Trông ông khác hẳn với trí nhớ của cô: trẻ hơn một chút, không còn vẻ thô kệch, cũng không còn vẻ khổ sở như trước.

"Chào bà Henry."

Mái tóc đen của cô dù đã lau kỹ bằng khăn nhưng vẫn còn ướt, tất cả đều được vén ngược lên đỉnh đầu. Ông nhớ mái tóc dày óng ả này, nhớ đôi mắt to hơi xếch lên đang lấp lánh nhìn ông đầy thiện cảm, nhớ dáng miệng duyên dáng khi cô mỉm cười, và đường cong trên đôi má cô. Cái bắt tay nhẹ nhàng, tĩnh lặng của cô khiến ông say đắm.

"Tôi có chuyện này làm anh ngạc nhiên đây," cô nói, rồi đặt Louis đứng xuống bãi cỏ nâu. "Đưa tay cho chú ấy đi."

Rabinowitz làm theo. Cô buông tay, Louis với khuôn mặt tròn trĩnh đầy vẻ căng thẳng và phấn khích, lảo đảo bước vài bước rồi ngã vào vòng tay của người đàn ông Palestine, cười đùa ầm ĩ. Rabinowitz bế bổng cậu bé lên.

"Nó còn bắt đầu biết nói rồi đấy," Natalie reo lên. "Không ngờ được, tất cả đều xảy ra trong một tuần! Có lẽ là nhờ không khí ở Corsica. Trước đây em còn lo nó bị thiểu năng..."

"Thật là nói bậy," Jastrow hơi gắt.

"Nói gì đi con," Rabinowitz giục Louis, cậu bé đang nhìn chằm chằm vào ông.

Ngón tay Louis chỉ vào mũi Rabinowitz: "Ba."

Natalie đỏ mặt tía tai. Ngay cả vợ chồng Castelnuovo vốn đang ngồi im lặng cũng không nhịn được cười. Natalie há miệng hít một hơi: "Ôi, Chúa ơi! Em thường cho nó xem ảnh của cha nó."

Louis thấy mình làm mọi người cười vui vẻ thì rất khoái chí, liền cất tiếng gọi: "Ba... ba! Ba... ba!" rồi chỉ vào Castelnuovo, cũng chỉ vào Jastrow.

"Đừng nghịch nữa, đủ rồi, đồ quỷ nhỏ này!"

Lão Gafuri và Pascal đều mặc quần áo làm nông để ăn cơm. Tóc Pascal bù xù, lấm lem bụi đất, mặc một chiếc áo khoác da dê, lại làm vài biểu cảm kiểu Valentino với Natalie. Trước mặt cha mình, cho đến nay cậu vẫn còn khá cẩn trọng. Cô bất an cảm thấy kiểu ăn mặc này lại tôn lên vẻ đẹp trai của cậu, cô cũng không ngừng liếc nhìn Rabinowitz, nhưng không thể biết liệu ông có để ý hay không. Bữa cơm toàn bàn về tin tức chiến sự. Lão Gafuri nói, tin đồn mới nhất ở Corsica cho rằng mọi ám chỉ về Bắc Phi chỉ là kế nghi binh. Đồng minh sẽ tấn công Na Uy, thông suốt vùng Scandinavia và Phần Lan để kết nối với người Nga. Như vậy có thể giải vây cho Leningrad, mở ra một tuyến cung ứng thông suốt để vận chuyển vật tư cho Hồng quân, đồng thời bố trí máy bay ném bom của Đồng minh gần Berlin. Không biết ông Rabinowitz nghĩ sao?

"Tôi không tin vào giả thuyết tấn công Na Uy. Đã quá muộn rồi. Tôi và con trai ông từng làm việc trên cùng một con tàu chở hàng, có lần vào tháng Mười một đã đến cảng Trondheim. Vì mặt biển đóng băng, chúng tôi đã bị kẹt ở đó mấy tuần liền."

"Aaron đã kể với chúng tôi về chuyện đó," Gafuri nói, đưa tay lấy bình rượu bằng đá, rót đầy chén của Rabinowitz và chén của chính mình. "Nó còn kể cho chúng tôi vài chuyện khác, ví dụ như vụ việc nhỏ ở Istanbul." Ông nâng ly với Rabinowitz. "Chừng nào anh còn sống trên đời, ngôi nhà này luôn chào đón anh. Cảm ơn anh đã đưa nhà văn Mỹ vĩ đại và bạn bè của ông ấy đến với chúng tôi."

Jastrow nói: "Tôi nghĩ chúng tôi đã trở thành gánh nặng của anh."

"Không. Các ông có thể ở lại, thưa ông, cho đến khi chúng ta cùng được giải phóng. Bây giờ, Pascal và tôi phải đi làm việc tiếp đây."

Khi họ đứng dậy rời khỏi bàn ăn, Natalie khẽ nói với Rabinowitz: "Em nhất định phải nói chuyện với anh. Anh có thời gian không?"

"Được thôi."

Ông đi cùng cô ra phố, dọc theo những bậc thang đá dốc cao dẫn thẳng đến tòa cổ thành với cánh cổng mở rộng. "Chúng ta leo lên đó được không?" cô nói. "Trên đỉnh nhìn đẹp lắm."

"Được."

"Chuyện ở Istanbul là thế nào?" cô hỏi khi họ đang bước lên cầu thang đá dựa vào bức tường bên trong.

"Không có gì to tát cả."

"Em muốn biết."

"Ồ, được thôi, thằng nhóc Aaron mỗi khi tàu cập cảng là thích uống say rồi gây chuyện. Đó là chuyện trước khi nó kết hôn. Tôi đang sửa cái tời hỏng trên boong, gần nửa đêm, tôi thấy nó lảo đảo từ cầu tàu đi đến. Mấy tên lưu manh xông tới đè nó xuống. Những con chuột cống ở bến tàu này toàn là lũ hèn nhát, chúng chỉ bắt nạt kẻ say rượu, tôi liền cầm một cái xà beng chạy tới đánh tan bọn chúng."

"Ôi trời, chẳng phải anh đã cứu mạng nó rồi sao."

"Có lẽ chỉ là cứu tiền của nó thôi."

"Thảo nào gia đình Gafuri đối xử với chúng ta tử tế như vậy, tất cả đều là vì anh."

"Không, không. Họ đều tham gia kháng chiến, cả gia đình họ."

Một khoảng đất bằng phẳng đầy cỏ dại màu nâu, bộ khung của một tòa nhà xám xịt không mái, trên cửa sổ vẫn còn chấn song sắt, vài con dê đi lại tự do giữa những bức tường đổ nát.

"Phòng bảo vệ," Rabinowitz nói. "Bây giờ hoàn toàn vô dụng."

"Kể cho em nghe về tàu 'Izmir' đi," cô nói, dẫn ông đi qua bãi đất bằng để bước lên một bậc thang dẫn lên cao.

"'Izmir'? Đó là chuyện từ lâu lắm rồi." Ông lắc đầu, vẻ buồn bã và bực bội. "Khi chúng tôi khởi hành, thời tiết không tệ, nhưng đến khi cập bến Haifa thì đúng là ông trời không có mắt. Chúng tôi phải chuyển người từ tàu sang thuyền nhỏ trong đêm mưa bão dữ dội. Gã thuyền trưởng Thổ Nhĩ Kỳ khốn kiếp nhân cơ hội đó gây rối, đe dọa từ chức. Có vài người rơi xuống nước chết đuối, không nhiều lắm, số lượng chính xác tôi cũng không biết. Mọi người vừa lên bờ là tản mát hết. Chúng tôi hoàn toàn không thể kiểm kê số lượng."

Natalie nghiêm túc hỏi ông: "Nhìn như vậy, việc em rời tàu vẫn là đúng đắn?"

"Ai mà biết được? Bây giờ cô đang ở Corsica rồi."

Bậc thang cao nhất rất dốc, đã bị du khách giẫm lún xuống. Ông thở hổn hển, nói chuyện cũng chậm lại. "Tổng lãnh sự Mỹ ở Marseille biết cô đang ở đây. Ông ấy tên là James Gaither, một người tốt. Tôi đã làm việc với ông ấy vài lần. Là người biết lý lẽ. Trong lãnh sự quán cũng có vài kẻ tồi tệ. Ông ấy đích thân xử lý vấn đề của các cô, giữ bí mật nghiêm ngặt. Sau khi giấy tờ của các cô xong xuôi, các cô sẽ đến Marseille, ngày đến sẽ lên tàu đi Lisbon ngay. Đó là ý của Gaither."

"Phải đợi bao lâu?"

"Chà, rắc rối là ở thị thực xuất cảnh. Cách đây một tháng, các cô vẫn có thể đi tàu đến Lisbon như người du lịch. Nhưng bây giờ Pháp đã ngừng cấp thị thực xuất cảnh. Đó là áp lực từ phía Đức. Đại sứ quán của các cô có thể giải quyết ở Vichy, nên các cô vẫn lấy được thị thực, chỉ là phải đợi lâu hơn một chút."

"Anh đã lo cho chúng em quá nhiều việc rồi!"

"Đây không phải công lao của tôi." Câu trả lời đầy sắc lạnh. "Gaither nhận được điện từ công sứ quán Mỹ ở Bern, yêu cầu ông ấy chú ý đến tin tức của cô. Khi tôi nói với ông ấy cô đang ở Corsica, ông ấy nói 'Tốt quá!', chỉ vậy thôi." Họ đã lên đến đỉnh. Tầm mắt họ vượt qua những bức tường bị thời tiết bào mòn, nhìn ra những trang trại và vườn nho trong thung lũng được bao quanh bởi những ngọn đồi rậm rạp. "Bây giờ tôi biết tại sao cô muốn tôi đến đây rồi. Phong cảnh đẹp thật."

"Còn gia đình Castelnuovo thì sao?"

Ông chụm tay bao lấy điếu thuốc rồi châm lửa. "Chuyện của họ rắc rối hơn nhiều. Ủy ban đình chiến của Đức đã thực hiện một cuộc càn quét ở Bastia vào tháng Chín, vì những người tị nạn đều đi qua đó để trốn sang Algeria. Cuộc càn quét đó đã phá hủy vài điểm liên lạc của tôi, vì vậy các cô mới bị chậm trễ ở Marciana. Tuy nhiên, họ rời Siena là đúng đắn. Mật vụ Ý bắt đầu bắt giữ những người phục quốc Do Thái ở Ý từ tháng Bảy. Nên giờ này có lẽ họ đều ở trong trại tập trung rồi. Tôi đang tìm cách cho họ, cô nhất định phải khuyên vị bác sĩ này đừng quá nóng vội. Ngay cả khi đường cùng, gia đình Gafuri vẫn sẽ chăm sóc họ." Ông nhả một hơi khói, nhìn đồng hồ. "Chúng ta về thôi. Cô còn điều gì muốn nói với tôi không? Một tiếng nữa là tàu đi Ajaccio chạy rồi."

"À, đúng rồi. Chàng trai trẻ Pascal đó—" cô ngập ngừng, đưa ngón tay lên cắn.

"Vâng, cậu ta làm sao?"

"Ôi, chết tiệt, em nhất định phải kể cho anh nghe. Em không thể nói với anh ở nhà được. Đêm hôm trước, em đang ngủ thì tỉnh dậy, thấy cậu ta trong phòng em, ngồi bên cạnh giường. Một tay đặt lên chăn em đắp. Ngay trên chân em." Họ bước xuống bậc thang ngược gió, cô nói một mạch. "Cứ ngồi như thế! Nôi của con em cách chúng ta chưa đầy hai thước. Em không biết mình đang mơ hay gì nữa! Em khẽ hỏi cậu ta: 'Chuyện gì thế? Anh làm gì vậy?' Cậu ta cũng khẽ đáp: 'Anh yêu em. Em có đồng ý không?'" Rabinowitz đứng khựng lại trên bậc thang. Cô không ngờ ông lại đỏ mặt. "Ồ, anh đừng lo, cậu ta không cưỡng bức gì em cả, em đã đuổi cậu ta đi rồi." Cô siết chặt khuỷu tay ông. Ông cau mày, tiếp tục bước xuống. "Có lẽ là do em không tốt. Lúc ở Elba cậu ta đã liếc mắt đưa tình với em rồi, trên tàu cậu ta cũng hơi quá đáng. Sau khi đến nhà cậu ta, em đã làm một chuyện ngu ngốc. Hành trình đã kết thúc, chúng ta bình an vô sự, em cảm kích cậu ta. Em hôn cậu ta một lần. Chà, cậu ta nhìn em như thể em đã cởi váy ra vậy. Kể từ đó, em như thể chưa bao giờ mặc váy lại. Thế rồi xảy ra chuyện đêm hôm trước—"

"Cô đuổi cậu ta đi bằng cách nào?"

"Ồ, không dễ dàng gì. Ban đầu em khẽ nói với cậu ta: 'Không được, anh sẽ làm con em thức giấc đấy.'" Natalie liếc nhìn Rabinowitz. "Có lẽ em nên mặc kệ thể diện, đuổi thẳng cổ cậu ta ra ngoài, la hét lên, gọi cha cậu ta đến, làm ầm ĩ một trận. Nhưng lúc đó em buồn ngủ quá, lại bị cậu ta đánh thức đột ngột, thêm nữa là em không muốn làm Louis thức giấc, và em cũng cảm thấy dù sao tính mạng chúng ta đều nằm trong tay họ. Thế là cậu ta khẽ nói với em: 'Ồ, không sao đâu, chúng ta như hai chú chim nhỏ, đừng lên tiếng.' Natalie cười khúc khích đầy thần kinh. "Em sợ chết khiếp, nhưng cậu ta thật là nực cười, 'hai chú chim nhỏ'—"

Rabinowitz cũng cười, nhưng không mấy vui vẻ. "Cuối cùng thì kết thúc thế nào?"

"Ồ, chúng em cứ thì thầm như vậy, được, không được, cậu ta nói một câu, em đáp một câu. Cậu ta không chịu đi. Em nghĩ, hay là cầu cứu lòng tự trọng của người Corsica, không được làm hại người đến nhà mình lánh nạn. Hoặc dọa sẽ nói với cha cậu ta. Nhưng như thế thì tốn thời gian và lời nói lắm. Thế nên em chỉ nói: 'Anh thấy đấy, tuyệt đối không được, em đang không tiện.' Cậu ta lập tức rụt tay đang đặt trên chân em lại, nhảy vọt ra khỏi giường như thể em vừa tuyên bố mình bị bệnh hủi vậy."

Trong số những người sống bằng nghề đi biển, cô nghĩ, Rabinowitz là người vô cùng kín kẽ. Nghe xong chuyện này, ông tỏ ra rất không thoải mái.

"Sau đó cậu ta đứng cúi người xuống khẽ nói với em: 'Em nói thật đấy à?' 'Tất nhiên.' 'Thưa bà, nếu bà chỉ vì từ chối anh mà làm vậy, thì bà đã lầm to rồi. Anh có thể đảm bảo làm bà sướng đến ngây ngất.' Cô giả giọng nam trung." 'Anh có thể làm em sướng đến ngây ngất.' Đó là nguyên văn lời cậu ta. Nói xong câu đó, Chúa phù hộ con, cậu ta kiễng chân đi ra ngoài. Em lo cậu ta sẽ quay lại. Em phải làm sao đây? Có nên nói với cha cậu ta không? Lão Gafuri là người rất nghiêm khắc đấy."

Gương mặt Rabinowitz lộ vẻ đau đầu, ông đưa tay xoa mặt. "Bây giờ tôi đang nghĩ đến Marseille có chỗ nào ổn thỏa cho các cô không. Trừ khi cô thực sự muốn thử cảm giác 'ngây ngất' đó." Cô im lặng, khuôn mặt sưng húp lại đỏ bừng. "Xin lỗi, tôi không nên đùa với cô, tôi biết chuyện này chẳng dễ chịu gì."

Cô đáp lại đầy tinh nghịch: "Ồ, không sao, như vậy em lại thấy mình trẻ ra. Nhưng nghe này, em không muốn lĩnh hội cái sự 'ngây ngất' kiểu Corsica đâu."

Ông nhìn cô cười đầy tò mò, trong nụ cười ấy cũng ẩn chứa nhiều cay đắng. "Tốt lắm. Những cô gái Do Thái tử tế đều không làm vậy."

"Ồ, anh không hiểu em đâu," Natalie phản đối, mặc dù nhận xét này—bản thân cô cũng thấy lạ—không làm cô cảm thấy khó chịu. Câu nói đó của Rabinowitz mang theo sự âu yếm. "Em luôn làm những gì mình muốn, nếu không thì, Chúa mới biết, em đã không kết hôn với Henry Byron, cũng sẽ không cam tâm chấp nhận sự thẩm vấn nghiêm khắc của người khác. Những chuyện như thế này, cô gái Do Thái tử tế luôn phải tìm cách tránh né. Dù sao cũng tốt, anh nghĩ anh có thể đưa em đến Marseille không?"

"Được. Tôi không muốn trở mặt với gia đình Gafuri. Họ rất quan trọng với tôi, đặc biệt là Aaron. Hiện tại tôi chỉ còn nơi này là đáng tin cậy để sắp xếp cho gia đình Castelnuovo. Aaron đã kể với tôi về Pascal này, cậu ta không phải kẻ tốt lành gì. Tình cảnh của các cô ở Marseille có lẽ sẽ khá hơn một chút. Đợi giấy tờ của các cô xong xuôi là có thể khởi hành, từng bước một. Đây là điểm thuận lợi."

"Vậy còn gia đình Castelnuovo thì sao?"

"Họ đợi ở đây."

"Nhưng em không muốn bỏ rơi họ."

"Bỏ mặc họ sao?" Giọng của Rabinowitz trở nên cứng nhắc khi họ đang đi ngang qua bãi đất trống bên cạnh trạm gác đã đổ nát. "Xin cô đừng nói những lời ngốc nghếch như vậy. Nếu các người có mệnh hệ gì, ít nhất vẫn còn Tổng lãnh sự Mỹ đứng ra lên tiếng thay cho các người, còn họ thì chẳng có lấy một sự bảo vệ nào cả. Marseille là nơi đầy rẫy thám tử. Dù thế nào tôi cũng không thể đưa họ đến đó. Xin cô làm ơn đừng tiếp tục xúi giục cậu ấy nữa. Chỉ riêng việc cô không nhắc đến chuyện này thôi, cậu ấy đã đủ khiến tôi đau đầu rồi."

"Anh nói đúng. Xin đừng giận tôi. Louis và Miriam giờ đây thân thiết như chị em vậy."

"Tôi biết. Cô nghe này, cuộc truy quét ở Bastia đã khiến chúng ta khốn đốn. Chỉ cần bác sĩ giữ được bình tĩnh và tỉnh táo, ông ấy và cả gia đình sẽ được bình an vô sự."

"Sau khi đến Marseille, chúng ta có thể thường xuyên gặp anh không?"

"Chắc chắn rồi."

"Tốt quá, vậy thì tốt rồi."

Anh cảm thấy khó mở lời, giọng điệu trở nên khô khốc: "Lúc cô rời tàu 'Izmir', tôi cảm thấy rất khó chịu."

Natalie đột ngột hôn lên má anh, chỉ thấy làn da anh lạnh buốt, râu ria lởm chởm đâm vào da thịt.

"Bà Henry, chính vì cô làm thế này nên mới rước lấy rắc rối đấy."

"Tôi nghĩ sẽ chẳng có chuyện tôi tỉnh dậy giữa đêm mà gặp anh xông vào phòng mình đâu."

"Đây không phải là lời khen mà một người đàn ông Pháp muốn nghe."

Họ nhìn nhau cười, trong lòng đều có chút không tự nhiên, rồi cùng nhau xuống trấn dưới chân núi.

Tối hôm đó đến lượt Natalie nấu cơm. Trong căn bếp nhỏ trên lầu, cô dọn ra món rau củ hầm nấu theo công thức hồi cô còn ở Paris, trên bàn ăn chẳng ai có tâm trạng nói chuyện. Ngay cả Miriam cũng mặt mày ủ rũ. Người lớn ở lại trong bếp uống cà phê, còn cô bé đi ngủ. Cái gọi là cà phê thực chất chỉ là thứ nước màu nâu, chua và chát, được nấu từ ngũ cốc đem rang trên lửa. Castelnuovo nói: "Quả thật, bọn trẻ sẽ rất khổ sở, đúng không?" Đây là lần đầu tiên họ công khai nhắc đến việc sắp phải chia lìa.

Họ gặp nhau mỗi ngày, cô vốn đã chẳng còn để ý đến dung mạo của anh, nhưng hôm nay cô không khỏi thầm kinh ngạc, kể từ khi rời Siena đến nay, anh đã thay đổi nhiều đến thế. Thời đó, anh vốn là một vị bác sĩ người Ý nhàn nhã, phong độ. Giờ đây, phong thái ấy đã tan biến, hốc mắt anh trũng sâu, mí mắt nặng trĩu.

"Điều này cũng khiến tôi đau lòng lắm," cô nói.

Aaron Jastrow hỏi: "Chẳng lẽ chúng ta không còn khả năng hội ngộ rồi cùng nhau rời đi sao?"

Castelnuovo chậm rãi, nặng nề và chán nản lắc đầu.

"Anh ấy đã lên kế hoạch gì cho mọi người?" Jastrow gặng hỏi. "Chẳng lẽ giữa chúng ta còn điều gì không thể nói thẳng với nhau sao?"

"Khi ở Marciana, tất cả chúng tôi đều hy vọng sẽ đi tàu đến Algiers," bác sĩ nói, "rồi sau đó đi về hướng đông, đến Palestine. Nhưng con đường đó đã bị chặn đứng. Hiện tại xem ra, nơi duy nhất chúng ta có thể trốn đi chỉ còn là Tây Ban Nha và Thụy Sĩ. Người ta đều đi theo nhóm, có người dẫn đường lén đưa họ xuyên qua rừng. Tôi đoán Tây Ban Nha có lẽ tốt hơn. Ít nhất từ đó đi Lisbon cũng thuận đường."

"Phiền phức ở chỗ," Anna nói với nụ cười ngơ ngác, "để đến Tây Ban Nha, chúng ta phải dùng hai chân vượt qua dãy núi Pyrenees. Thời tiết tháng Mười một đấy. Không còn con đường nào khác. Phải đi bộ một quãng đường dài giữa núi rừng hoang vu, dọc đường toàn là tuyết phủ và băng giá, lại còn phải luôn đề phòng các toán tuần tra biên giới."

"Sao không đến Thụy Sĩ?" Natalie hỏi cô.

"Nếu họ bắt được cô, họ sẽ tống cô về Pháp," Anna nói. "Giao vào tay cảnh sát Pháp."

"Chưa chắc!" chồng cô giận dữ nói với cô. "Đừng có phóng đại. Mỗi nhóm người đều có những tình cảnh khác nhau. Thụy Sĩ cũng có các tổ chức cứu trợ, họ cũng sẽ giúp đỡ cô. Rabinowitz cho rằng Tây Ban Nha tốt hơn, nhưng Anna lại lo Miriam phải đi bộ vượt núi."

"Nhưng vẫn còn những con tàu đi Nam Mỹ mà," Jastrow nói, "cả những chiếc thuyền đánh cá đi Morocco - và tất cả những khả năng mà chúng ta đã từng bàn tới?"

Castelnuovo tuyệt vọng nhún vai, kết hợp với vẻ mặt u ám tuyệt vọng đó khiến Natalie nảy sinh một cảm giác chưa từng có, như thể đã rơi vào đường cùng. "Mọi người nhất định sẽ bình an vô sự," cô nói một cách lạc quan, "tôi tin anh ấy."

"Tôi cũng tin anh ấy," bác sĩ nói. "Những gì anh ấy nói đều là sự thật. Anh ấy biết mình phải làm gì. Chính tôi đã quyết định rời Ý, và tôi đã làm đúng. Thế nên giờ chúng ta mới không nằm trong trại tập trung. Nếu Miriam buộc phải đi bộ vượt qua dãy Pyrenees đầy tuyết, thì đã sao nào? Con bé sẽ vượt qua được. Nó là một cô bé khỏe mạnh." Ông đứng dậy, lập tức bước ra ngoài.

Natalie nói với Anna Castelnuovo - mắt bà đã ướt lệ: "Anna, tối nay để Miriam ngủ trên giường tôi được không?"

Anna gật đầu. Một lát sau, cô bé đang ngái ngủ tự mình tìm đến giường của Natalie, không nói một lời, vừa nằm xuống đã chìm vào giấc ngủ. Natalie yêu cảm giác dễ chịu khi cơ thể nhỏ bé ấm áp ấy rúc vào bên cạnh mình. Sáng hôm sau, khi ánh mặt trời đánh thức Natalie, Miriam đã không còn đó nữa. Cô bé đã bò sang giường cũ, ôm lấy Louis mà ngủ.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »