"Chết đói."
Đây có lẽ là cuộc vây hãm bi thảm nhất trong lịch sử nhân loại. Một cuộc vây hãm khủng khiếp như những gì được ghi chép trong Kinh Thánh; cũng giống như cuộc vây hãm Jerusalem, theo "Ai ca" của Jeremiah, phụ nữ thời đó phải nấu ăn chính con đẻ của mình. Khi chiến tranh bùng nổ, Leningrad có gần ba triệu cư dân, nhưng đến lúc Victor Henry ghé thăm thành phố này, chỉ còn lại khoảng sáu trăm ngàn người. Một nửa số còn lại đã sơ tán, nửa kia đã chết. Có một lời đồn đại kinh hoàng rằng nhiều người đã bị ăn thịt. Thế nhưng vào thời điểm đó, thế giới bên ngoài biết rất ít về sự thật của cuộc vây hãm và nạn đói. Cho đến tận hôm nay, phần lớn sự thật vẫn là điều cấm kỵ, các tài liệu ghi chép đều nằm sâu trong kho lưu trữ của Liên Xô hoặc đã bị lửa chiến tranh thiêu rụi. Có lẽ trong mười vạn người cũng chẳng có lấy một người nói rõ được rốt cuộc có bao nhiêu người tại Leningrad đã chết vì đói hoặc vì các loại bệnh tật do đói gây ra. Con số này có lẽ dao động từ một triệu đến một triệu rưỡi.
Leningrad đặt các sử gia Liên Xô vào tình thế khó xử. Một mặt, cuộc chiến đấu đẫm máu kéo dài ba năm của thành phố này không nghi ngờ gì là chất liệu cho một thiên sử thi thế giới. Mặt khác, quân Đức chỉ trong vài tuần đã áp đảo Hồng quân, tràn tới sát ngoại ô và dựng lên sân khấu cho tấn bi kịch này. Đảng Cộng sản luôn luôn đúng đắn phải giải thích điều này thế nào đây? Làm sao giải thích lý do tại sao họ không nhanh chóng sơ tán những cư dân vốn chỉ tiêu tốn lương thực mà chẳng có ích lợi gì cho việc phòng thủ thành phố, tại sao không dự trữ thêm nhu yếu phẩm cho quân thủ thành để đối phó với kẻ thù hùng mạnh đang ngày càng áp sát, từ đó huy động đại đô thị bị vây hãm này phòng ngừa cuộc bao vây?
Các sử gia phương Tây có thể tự do, không kiêng dè gì mà chỉ trích lãnh đạo và chính phủ của họ đã gây ra thất bại và thảm họa. Tuy nhiên, Liên Xô là một quốc gia độc đảng, Đảng nắm giữ phương pháp luôn luôn đúng đắn để giải quyết mọi vấn đề. Điều này tạo ra tình thế khó xử cho các sử gia Liên Xô. Chỉ Đảng mới có quyền phân phối giấy in sách lịch sử. Đối với những sử gia Liên Xô hy vọng xuất bản tác phẩm của mình, cuộc vây hãm Leningrad trở thành cái xương mắc trong cổ họng họ. Chính vì lý do này, một chiến công vĩ đại của nhân dân Nga cứ mãi mờ mờ ảo ảo, chân tướng thê thảm tột cùng mà cũng rực rỡ huy hoàng của nó không cách nào được phơi bày ra ánh sáng.
Gần đây, những sử gia này đã rụt rè chạm đến một số sai lầm xảy ra trong thời kỳ Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, bao gồm cả trạng thái hoàn toàn không chuẩn bị của Hồng quân trước cuộc tấn công bất ngờ của kẻ thù vào năm 1941, tình thế cận kề sụp đổ của Hồng quân và thực tế là trong gần ba năm, họ đã không thể giải phóng một nửa nước Nga khỏi tay người Đức. Khi đó, người Đức là một dân tộc nhỏ hơn nhiều nhưng đang cùng lúc tác chiến trên mấy mặt trận khác. Lời giải thích hiện nay là Stalin đã phạm một số sai lầm trọng đại. Tuy nhiên, tình hình vẫn mập mờ không rõ. Theo thời gian và theo những thay đổi khó lường của chính sách tối cao Liên Xô, đánh giá của mọi người về Stalin với tư cách là lãnh đạo thời chiến ban đầu giảm xuống, sau đó lại hồi phục. Người ta vẫn chưa trực tiếp đổ lỗi cho ông ta về tất cả những gì đã xảy ra tại Leningrad. Theo giáo điều, Đảng là không thể chê trách.
Không thể phủ nhận rằng, Tập đoàn quân phía Bắc của Đức với quân số bốn mươi vạn đã tiến thẳng trong một cuộc tấn công chớp nhoáng mùa hè, tiến tới ngoại ô thành phố, cắt đứt con đường thông tới "Đại lục địa" - tức là vùng đất Liên Xô chưa bị chinh phục. Hitler quyết định không lập tức phát động một cuộc tấn công quy mô lớn. Mệnh lệnh của hắn yêu cầu phong tỏa nghiêm ngặt thành phố này, khiến nó phải đầu hàng mà không cần giao chiến. Để những người bảo vệ nó chết đói hoặc tiêu diệt họ, rồi san phẳng thành phố từng viên gạch một, biến nó thành một vùng hoang mạc không bóng người.
Cư dân Leningrad biết rõ, đừng hòng mong đợi người Đức có chút lòng nhân từ nào. Kẻ địch rải truyền đơn liên tục thúc giục tuyên bố thành phố này là thành phố không phòng thủ như Paris, nhưng điều đó là không thể. Sau khi mùa đông giá rét ập đến, người dân nơi đó bắt đầu vận chuyển nhu yếu phẩm qua hồ Ladoga đóng băng dưới làn đạn pháo của quân Đức. Quân xâm lược cố gắng dùng pháo oanh kích làm vỡ lớp băng trên hồ, nhưng những tảng băng dày tới sáu feet (gần 2 mét) rất khó bị phá vỡ. Trong suốt mùa đông, giữa đêm đen, trong bão tuyết, dưới làn đạn pháo, các đoàn tàu hộ tống đi lại trên con đường băng, không dứt. Leningrad đã không bị khuất phục. Sau khi lương thực được chuyển vào, một số nhân khẩu không có khả năng lao động liền ngồi lên xe tải trống rời đi. Đến khi xuân về băng tan, sự cân bằng giữa dân số và nguồn cung lương thực cũng đạt được một chút.
Tháng 1 năm 1943, ngay trước khi Victor Henry ghé thăm thành phố, một số đơn vị Hồng quân bảo vệ Leningrad sau khi trả giá đắt đã buộc quân Đức phải rút lui một khoảng cách ngắn, từ đó giải phóng một đầu mối đường sắt quan trọng. Hành động này đã mở ra một lỗ hổng trên tuyến phong tỏa. Dưới sự oanh kích dữ dội của quân địch, một đoạn đường sắt được gọi là "Hành lang tử thần" đã được khôi phục vận chuyển. Pháo kích của người Đức khiến việc vận chuyển thỉnh thoảng bị gián đoạn, nhưng sau đó luôn được sửa chữa. Hầu hết hàng hóa và hành khách đều có thể đi qua an toàn. Victor Henry cũng đã vào thành phố theo cách đó. Máy bay trượt tuyết của Tướng Yevlenko hạ cánh gần nhà ga đường sắt đã được giải phóng này, Pug thấy hàng loạt thùng carton xếp chồng cao đầy ắp thức ăn, trên đó có in chữ USA. Anh cũng thấy từng hàng xe Jeep và xe tải quân sự Mỹ xếp ngay ngắn, trên xe đều sơn hình ngôi sao đỏ. Họ ngồi tàu hỏa đi vào Leningrad tối tăm mù mịt trong đêm, bên ngoài cửa sổ bên trái đoàn tàu là những ánh chớp sáng lòa và tiếng ầm ầm trầm đục từ đại pháo quân Đức phát ra.
Trong doanh trại lạnh thấu xương, bữa sáng là bánh mì đen, trứng bột và sữa pha từ sữa bột. Yevlenko và Pug ngồi cùng một nhóm binh sĩ trẻ bên những chiếc bàn kim loại dài. Yevlenko chỉ vào đống trứng nói: "Vật tư Cho thuê - Cho mượn."
"Tôi nhìn ra rồi." Khi trứng đông lạnh trên tàu "Northampton" hết sạch, Pug cũng đã ăn rất nhiều loại trứng bột như thế này.
Cánh tay giả của ông vung về phía những chiến sĩ xung quanh. "Quân phục và ủng của tiểu đoàn này cũng vậy."
"Họ có biết mình đang mặc thứ gì không?"
Yevlenko hỏi một binh sĩ ngồi cạnh: "Cậu mặc quân phục mới à?"
"Vâng, thưa Tướng quân." Câu trả lời rất nhanh, gương mặt trẻ trung hồng hào lộ rõ vẻ cảnh giác và nghiêm túc. "Hàng Mỹ đấy ạ. Chất liệu tốt, quân phục tốt, thưa Tướng quân."
Yevlenko nhìn Pug một cái, người sau gật đầu tỏ vẻ hài lòng.
"Thể xác của nước Nga," Yevlenko nói, lời của ông khiến Pug cười gượng.
Trời bên ngoài dần sáng. Một chiếc xe chỉ huy Studebaker chạy tới, những chiếc lốp xe to lớn hất tung những đợt tuyết, tài xế chào một cái. "Được rồi, chúng ta đi xem quê hương tôi đã biến thành bộ dạng gì nào," Yevlenko vừa nói vừa lật cổ áo chiếc đại y màu nâu của mình lên, đội chặt chiếc mũ da.
Victor Henry không thể tưởng tượng nổi họ sẽ thấy gì, có lẽ là một Moscow ảm đạm khác, chỉ là bị cháy xém, bị oanh tạc như London, đầy rẫy vết thương. Thực tế khiến anh sững sờ.
Ngoài những quả khí cầu chặn không quân màu bạc lơ lửng bình yên trên bầu trời tĩnh lặng, Leningrad hầu như không có dấu hiệu nào cho thấy đây là một thành phố có người ở. Tuyết trắng sạch sẽ, vắng lặng phủ lên những đại lộ với những tòa nhà cổ kính trang nghiêm đứng sừng sững hai bên. Không thấy người đi bộ và xe cộ qua lại. Giống như buổi sáng chủ nhật ở quê nhà, nhưng trong suốt cuộc đời mình, Pug chưa bao giờ thấy một ngày nghỉ tĩnh lặng đến thế. Một sự im lặng bất an, xanh biếc, vô tận bao trùm mặt đất; không phải màu trắng mà là màu xanh, là tuyết trắng tinh khiết phản chiếu từ một góc độ nào đó bầu trời xanh ngày càng sáng. Pug chưa bao giờ thấy những con kênh và cây cầu mê hoặc đến thế; anh không thể tưởng tượng nổi những nhà thờ lớn hùng vĩ, hay những đại lộ rộng lớn tráng lệ sánh ngang với đại lộ Champs-Élysées lại khoác lên mình lớp áo bạc trong không khí trong vắt; hay những ngôi nhà hùng vĩ san sát nhau trên bờ kè đá hoa cương dọc theo một con sông đóng băng còn hùng vĩ hơn cả sông Seine. Khi xe chỉ huy lái lên quảng trường khổng lồ ngay phía trước Cung điện Mùa đông, trong một cái nhìn thoáng qua, anh hoàn toàn cảm nhận được sự hùng vĩ, sức mạnh, lịch sử và vinh quang của nước Nga, ngay cả ở Cung điện Versailles cũng không thấy được cảnh tượng trang nghiêm hoa lệ như vậy. Pug nhớ lại mình đã từng thấy quảng trường này trong những bộ phim miêu tả cuộc cách mạng đó, đám đông nổi loạn và đội kỵ binh cận vệ của Sa hoàng phát ra những tiếng gầm thét chói tai. Còn giờ đây, quảng trường vắng lặng không một bóng người. Trên mảnh đất tuyết rộng lớn này không thấy một vết bánh xe hay một dấu chân người.
Xe dừng lại.
"Yên tĩnh quá!" Yevlenko nói câu đầu tiên sau mười lăm phút im lặng.
"Đây là thành phố đẹp nhất mà tôi từng thấy trong đời," Pug nói.
"Họ nói Paris còn đẹp hơn. Cả Washington nữa."
"Không có nơi nào đẹp hơn cả." Pug không kìm được nói thêm một câu, "Moscow chỉ là một ngôi làng."
Yevlenko liếc nhìn một cái rất kỳ lạ.
"Câu nói này của tôi có đắc tội với ai không? Tôi nghĩ gì thì nói nấy thôi."
"Quá thiếu ngoại giao rồi." Yevlenko gầm lên. Tiếng gầm của ông nghe lại giống như tiếng kêu "gừ gừ" của một con mèo khi cảm thấy thỏa mãn.
Theo thời gian, Pug thấy rất nhiều thiệt hại do đạn pháo gây ra: những bức tường đổ nát, đường phố bị chặn, khắp nơi là cửa sổ đóng những mảnh gỗ vụn. Mặt trời từ từ nhô lên, những con đường đều tỏa ra ánh sáng chói mắt. Thành phố này thức tỉnh, đặc biệt là khu công nghiệp phía Nam gần mặt trận quân Đức. Ở đây, đạn pháo để lại những vết sẹo nặng nề hơn; không ít khu phố bị thiêu rụi hoàn toàn. Người đi bộ lầm lũi trên những con phố đã được quét dọn, thỉnh thoảng có một chiếc xe điện bánh hơi chạy qua xóc nảy, trong khi xe tải quân sự và xe chở binh lính thì đi lại nườm nượp. Pug nghe thấy tiếng gầm trầm đục của đại pháo hạng nặng quân Đức từ xa truyền tới. Anh nhìn thấy trên một số tòa nhà có sơn những khẩu hiệu như: "Công dân! Khi kẻ địch pháo kích, phía bên này đường nguy hiểm hơn." Thế nhưng, ngay cả ở đây, trong lòng anh vẫn luôn tồn tại cảm giác: Đây là một đại đô thị hòa bình gần như không có người, gần như cách xa khói lửa chiến tranh. Những ấn tượng bình thường hơn có được sau này không hề xóa nhòa - và sẽ chẳng bao giờ có thứ gì có thể xóa nhòa - cảnh tượng sống động mà Pug Henry đã thấy vào sáng sớm hôm đó tại Leningrad thời chiến: Nó là một người đẹp ngủ trong rừng, một đô thị thuộc về thế giới của cái chết, bị ma quỷ trấn giữ trong thiên đường băng tuyết màu xanh.
Ngay cả nhà máy Kirov cũng mang bầu không khí hoang tàn. Theo Yevlenko, lẽ ra nơi này phải rất bận rộn khẩn trương. Trong một tòa nhà bị đánh bom, những hàng xe tăng chưa lắp ráp xong đầy rẫy những mảnh gạch vụn cháy xém rơi xuống khi mái nhà sụp đổ. Hàng chục phụ nữ quàng khăn đang kiên nhẫn dọn dẹp mảnh vỡ. Có một nơi rất bận rộn: một bãi xe tải lộ thiên khổng lồ, rộng tới mấy khu phố, bên trên phủ những tấm lưới ngụy trang tinh xảo, công việc sửa chữa đang diễn ra khẩn trương tại đây, tiếng lách cách của công cụ và tiếng hò hét của công nhân hòa quyện vào nhau, đây là một bức tranh sống động về vật tư Cho thuê - Cho mượn đang phát huy tác dụng; một dòng thác từ Detroit đổ về cách xa bảy nghìn dặm, nơi tàu ngầm Đức không thể chạm tới; vô số chiếc xe tải Mỹ đã mòn vẹt. Yevlenko nói, những chiếc xe tải này phần lớn đã chạy trên con đường băng đó suốt cả mùa đông. Bây giờ băng đã mềm, đường sắt cũng thông, và con đường đó cũng xong đời rồi. Sau khi tu sửa, những chiếc xe tải này có thể điều tới mặt trận miền Trung và miền Nam, cuộc phản công quy mô lớn đang đánh bật quân Đức trên hai mặt trận đó. Yevlenko tiếp tục dẫn anh đi xem một sân bay, những cụm pháo cao xạ bố trí xung quanh sân bay trông có vẻ là hàng của Hải quân Mỹ sử dụng. Trên sân bay đầy lỗ đạn là những chiếc máy bay chiến đấu Yak của Nga và máy bay chiến đấu P-39 Airacobra của Mỹ được sơn phù hiệu Nga, tất cả đều được ngụy trang.
"Con trai tôi lái loại máy bay này," Yevlenko vừa nói vừa vỗ vào buồng lái một chiếc Airacobra. "Loại máy bay này khá tốt. Chúng ta sẽ gặp nó khi tới Kharkov."
Ngày sắp tàn, họ lái xe tới một bệnh viện để đón con dâu của Yevlenko. Cô là một y tá tình nguyện, bây giờ mới tan làm. Xe đi lòng vòng trên những con phố vắng lặng, những ngôi nhà bên đường như bị một cơn lốc xoáy quét sạch, chỉ còn lại những cái nền thấp bé từng khu phố một, ngay cả gạch vụn cũng đã biến mất sạch sành sanh. Yevlenko giải thích, những ngôi nhà gỗ ở khu này đều bị dỡ bỏ để làm nhiên liệu đốt. Xe đột ngột dừng lại trên một bãi đất trống phẳng lì, chỉ thấy ở đó những hàng bia mộ nhô đầu lên trong lớp tuyết dày. Trên nghĩa địa khắp nơi là những dấu hiệu mà người ta nhặt nhạnh được từ gạch vụn hoặc mảnh vỡ - một đoạn ống, một chiếc gậy, một thanh gỗ từ chiếc ghế - hoặc những cây thánh giá thô sơ làm bằng gỗ hay thiếc. Yevlenko và con dâu xuống xe, tìm kiếm trong những bụi thánh giá. Tướng quân quỳ xuống trong lớp tuyết đọng phía xa.
"Haizz, bà ấy đã gần tám mươi tuổi rồi," ông nói với Pug khi xe rời khỏi nghĩa địa. Gương mặt ông bình thản, đôi môi mím chặt thành một đường thẳng đầy đau đớn. "Bà ấy khổ cả một đời, trước cách mạng bà ấy là một người hầu. Bà ấy không được đi học đàng hoàng. Nhưng bà ấy biết làm thơ, những bài thơ rất hay. Vera vẫn còn giữ một số bài thơ bà ấy viết trước khi chết. Chúng ta có thể quay lại doanh trại bây giờ, nhưng Vera mời chúng ta tới căn hộ cô ấy ở. Anh thấy thế nào? Đồ ăn trong doanh trại tốt hơn, chúng ta cung cấp những thứ tốt nhất cho binh sĩ."
"Tôi ăn gì cũng được," Pug nói, được mời đến nhà một người Nga làm khách quả là một chuyện không bình thường.
"Vậy tốt, anh có thể thấy một người Leningrad hôm nay sống như thế nào."
Vera nở nụ cười với anh. Mặc dù răng mọc không đẹp, nhưng nụ cười của cô trong phút chốc khiến cô trông bớt khó nhìn hơn. Đôi mắt xanh pha lục, rất đẹp. Sự nhiệt tình cảm động làm gương mặt cô bừng sáng. Gương mặt cô trước đây có lẽ khá đầy đặn. Làn da nhão đi đã có nếp nhăn, mũi trông rất nhọn, hai hốc mắt như những cái hang sâu thẳm.
Họ đi vào một lối đi tối tăm ở một khu phố ít bị tàn phá, mùi hôi của hố xí tắc nghẽn và dầu cháy xộc vào mũi. Họ đi lên bốn tầng cầu thang trong bóng tối. Sau đó nghe thấy tiếng mở khóa. Vera thắp một ngọn đèn dầu, trong ánh sáng hơi xanh, Pug thấy căn phòng chật hẹp này chất đầy đồ đạc: một cái giường, một cái bàn, hai cái ghế, một cái lò sưởi bằng gạch, xung quanh lò chất đầy mảnh gỗ vụn, ống khói bằng thiếc vặn vẹo thông ra một cái cửa sổ bị chặn bằng ván gỗ. Trong phòng còn lạnh hơn ngoài trời, vì mặt trời vừa lặn. Vera nhóm lửa, đập vỡ lớp băng mỏng trên bề mặt xô nước, rồi đổ nước vào ấm. Tướng quân lấy từ chiếc túi vải bạt mang theo lên lầu một chai rượu Vodka, đặt lên bàn. Mặc dù đã mặc đồ lót dày và ủng da, găng tay cùng một chiếc áo len dày cộm, Pug vẫn lạnh cóng. Lúc này anh tự nhiên rất vui lòng uống vài ly cùng Tướng quân.
Yevlenko chỉ vào cái giường ông đang ngồi nói: "Bà ấy chết ngay tại đây, còn nằm trên giường hai tuần liền. Vera không cách nào kiếm nổi một cái quan tài. Không có quan tài. Không có gỗ. Vera không muốn chôn bà ấy dưới đất như một con chó. Thời tiết rất lạnh, âm mấy chục độ, nên vấn đề vệ sinh lại không thành vấn đề. Nhưng anh sẽ cảm thấy chuyện này hơi kinh khủng. Thế nhưng Vera nói, trong một khoảng thời gian dài như vậy, bà ấy cứ như đang ngủ yên bình. Người chết trước tiên tất nhiên là người già, họ không có sức chịu đựng."
Căn phòng nhanh chóng ấm lên. Vera rán bánh kếp trên lò, cô cởi khăn quàng và áo khoác da, để lộ một chiếc áo len rách rưới, dưới váy là lớp quần bảo vệ dày và ủng da. "Người ở đây thứ gì kỳ quặc cũng ăn," cô bình thản nói. "Dây lưng, keo dán trên giấy dán tường. Thậm chí cả chó mèo, chuột và chim sẻ. Tôi thì không ăn, tôi không ăn được những thứ đó, nhưng tôi đã nghe nói về tình trạng này. Trong bệnh viện, chúng tôi đã nghe được một số chuyện đáng sợ." Cô chỉ vào những chiếc bánh kếp bắt đầu xèo xèo trên lò. "Tôi từng làm loại bánh này bằng mùn cưa và vaseline. Kinh khủng lắm, ăn vào khó chịu chết đi được, nhưng cũng chỉ để nhét đầy cái bụng. Lúc đó có một lượng bánh mì khẩu phần ít ỏi, tôi đều dành hết cho bà nội. Nhưng một thời gian sau bà không ăn nữa. Bà ấy không còn cảm giác gì nữa."
"Kể cho anh ấy chuyện quan tài đi," Yevlenko nói.
"Có một nhà thơ sống ở tầng dưới," Vera vừa nói vừa lật những chiếc bánh kếp đang kêu xèo xèo trong chảo. "Lijukov ở Leningrad khá nổi tiếng, ông ấy đã tháo chiếc bàn làm việc của mình ra để đóng cho bà nội một cái quan tài. Bây giờ ông ấy vẫn chưa có bàn làm việc."
"Còn chuyện tổng vệ sinh nữa," Tướng quân lại nói.
Con dâu ông nghe thấy liền gắt gỏng phản bác một câu: "Đại tá Henry không muốn nghe những chuyện đau lòng này đâu."
Pug ngập ngừng nói: "Nếu kể ra khiến cô đau lòng thì thôi vậy. Nhưng tôi thực sự rất muốn nghe."
"Được rồi, để sau đi. Bây giờ ăn cơm thôi."
Cô bắt đầu bày bát đĩa lên bàn. Yevlenko lấy từ trên tường xuống một bức ảnh một thanh niên mặc quân phục. "Đây là con trai tôi."
Dưới ánh đèn, anh nhìn thấy một gương mặt Slav đoan chính: tóc xoăn, trán rộng, gò má cao, thần thái ngây thơ thông minh. Pug nói: "Đẹp trai."
"Tôi nhớ anh từng nói anh có một người con trai làm phi công."
"Tôi từng có. Nó đã hy sinh trong trận Midway."
Yevlenko nhìn anh không chớp mắt, rồi dùng bàn tay lành lặn của mình nắm chặt lấy vai Pug. Vera lấy từ túi vải bạt ra một chai rượu vang đặt lên bàn. Yevlenko rút nút chai. "Tên nó?"
"Warren."
Tướng quân đứng dậy, rót đầy ba ly rượu. Pug cũng đứng dậy. "Warren Victorovich Henry," Yevlenko nói, ánh lửa khiến căn phòng nhỏ lôi thôi dưới ánh đèn trở nên nóng bức. Khi Pug uống cạn ly rượu nhạt hơi chua đó, anh cảm thấy - đây là lần đầu tiên - cái chết của Warren mang đến cho anh một hương vị không thuần túy là nỗi đau tột cùng. Dù chỉ trong chốc lát, cái chết của Warren đã hàn gắn hố ngăn cách giữa hai thế giới. Yevlenko đặt ly xuống. "Chúng tôi biết trận Midway này. Đó là một thắng lợi trọng đại của Hải quân Mỹ, xoay chuyển tình thế ở Thái Bình Dương."
Pug không nói nên lời. Chỉ gật đầu.
Ngoài bánh kếp ra còn có xúc xích và salad trái cây đóng hộp của Mỹ từ trong túi vải bạt của Tướng quân. Họ nhanh chóng uống hết một chai rượu, rồi lại mở chai thứ hai. Vera bắt đầu nói về tình hình sau khi bị vây. Tình huống tồi tệ nhất, cô nói, xảy ra vào cuối tháng 3 năm ngoái khi băng tan bắt đầu. Thi thể lần lượt xuất hiện ở khắp nơi, họ đều là những người chết gục trên đường phố, những thi thể đông cứng không được chôn cất suốt mấy tháng trời. Rác rưởi, gạch vụn cùng với các loại tàn tích và hàng vạn thi thể xuất hiện cùng lúc, tạo nên một cảnh tượng kinh hoàng, khắp nơi là mùi hôi thối nồng nặc khiến người ta buồn nôn, dịch bệnh đe dọa nghiêm trọng đến con người. Nhưng chính quyền đã thực hiện những biện pháp cứng rắn, tổ chức nhân dân lại, một chiến dịch làm sạch quy mô lớn đã cứu lấy thành phố này. Thi thể được ném vào những ngôi mộ tập thể khổng lồ, trong đó một số người đã được xác định danh tính, nhưng nhiều người thì không thể xác định được.
"Anh biết đấy, cả nhà chết đói là chuyện thường," Vera nói. "Hoặc chỉ còn lại một người, không phải ốm liệt giường thì cũng mất hết cảm giác. Nếu có ai đó mất tích, cũng chẳng ai hay biết. Haizz, một người sắp chết, anh nhìn là biết ngay, họ trở nên tê liệt, không có cảm giác gì. Nếu anh đưa họ đến bệnh viện, hoặc để họ nằm trên giường, tìm cách cho họ ăn, có lẽ sẽ ổn, nhưng họ luôn nói họ không ốm. Khăng khăng đòi đi làm. Sau đó họ sẽ ngồi xuống vỉa hè hoặc ngủ thiếp đi, rồi chết trong tuyết." Cô liếc nhìn Yevlenko, rồi hạ thấp giọng. "Thẻ khẩu phần của họ thường xuyên bị trộm. Một số người trở nên giống như loài sói."
Yevlenko uống chút rượu, đập mạnh ly xuống bàn. "Haizz, đủ rồi. Sai lầm lớn đã gây ra rồi. Làm bậy, khốn kiếp, sai lầm không thể tha thứ."
Họ đã uống không ít rượu, nên Pug lấy hết can đảm hỏi: "Ai đã gây ra?"
Anh lập tức biết câu hỏi này đã gây họa, đắc tội với người ta. Yevlenko trừng mắt nhìn anh dữ dội, để lộ hàm răng ố vàng. "Một triệu người già, trẻ em và những người không khỏe mạnh khác lẽ ra nên được sơ tán từ sớm. Khi quân Đức đã tiến tới cách thành phố một trăm dặm, khi máy bay ném bom bay tới tấn công bất kể ngày đêm, lẽ ra không nên tiếp tục dự trữ lương thực trong những nhà kho bằng gỗ cũ kỹ. Chỉ trong một đêm, lương thực đủ cho khẩu phần cả thành phố trong sáu tháng đã thành tro bụi. Hàng tấn đường trắng tan chảy thấm vào đất bùn. Người dân liền ăn thứ bùn đó."
"Tôi từng ăn rồi," Vera nói. "Còn phải trả giá rất đắt mới mua được đấy."
"Người dân còn phải ăn những thứ tệ hại hơn thế nhiều." Diệp Phủ Liên Kha đứng dậy. "Nhưng dù sao thì quân Đức cũng không thể tiến vào được Lê Ninh Cách Lặc, vĩnh viễn đừng hòng. Mát-xcơ-va ban bố mệnh lệnh, nhưng Lê Ninh Cách Lặc đã tự cứu lấy chính mình." Giọng ông trầm xuống, lúc này ông đang mặc áo khoác, quay lưng về phía Phách Cách. Phách Cách dường như còn nghe thấy ông lẩm bẩm một câu: "Không tuân theo mệnh lệnh." Ông quay người lại, rồi nói tiếp: "Được rồi, bắt đầu từ ngày mai, đại tá, anh có thể đi xem một vài nơi từng bị quân Đức chiếm đóng."
Diệp Phủ Liên Kha di chuyển với tốc độ khiến người ta kiệt sức, những địa danh cứ thế lướt qua hòa vào làm một – Quý Phổ Văn, Nhĩ Nhật Diệp Phu, Mạc Trát Ai Tư Khắc, Duy Á Tư Mã, Đồ Lạp, Lợi Phu Nội – giống như những thị trấn ở miền Trung Tây nước Mỹ, chúng đều là những khu định cư mới trên vùng bình nguyên rộng lớn, phía trên đầu là bầu trời vô tận. Thị trấn này với thị trấn kia chẳng có gì khác biệt, không phải là bầu không khí yên bình hay cảnh sắc tầm thường như ở Mỹ, nơi đâu cũng đầy rẫy những trạm xăng, quán ăn kiểu xe lưu động và nhà nghỉ dọc đường; điểm giống nhau giữa các thị trấn ở đây chính là những cảnh tượng kinh hoàng xuất hiện ở khắp mọi nơi. Máy bay của họ lướt qua hàng trăm dặm đất, thỉnh thoảng lại hạ cánh xuống thăm các đơn vị dã chiến, các sở chỉ huy trong làng, hay bãi tập kết xe tăng, đoàn xe vận tải, hoặc các sân bay dã chiến. Phách Cách nhìn thấy mặt trận Nga rộng lớn vô biên cùng sự tàn phá và cái chết kinh hoàng.
Quân Đức trong lúc rút lui đã thực hiện chính sách "tiêu thổ" của kẻ bại trận. Bất cứ thứ gì đáng giá để lấy thì chúng mang đi; bất cứ thứ gì có thể đốt thì chúng thiêu rụi; thứ gì không đốt được thì chúng đặt mìn cho nổ tung. Trên hàng ngàn dặm vuông đất đai, chúng càn quét mặt đất như lũ châu chấu. Bất cứ nơi nào quân Đức đã rút đi, không lâu sau đó là những công trình bắt đầu xuất hiện. Ở những nơi quân Đức vừa mới bị đánh đuổi, những người Nga quần áo rách rưới, vẻ mặt hốc hác vẫn còn hoảng sợ, đang loay hoay trong đống đổ nát để tìm kiếm hoặc chôn cất người chết. Hoặc là họ xếp hàng đứng trên bình nguyên phủ đầy tuyết trắng, chờ đợi bếp dã chiến của quân đội phát thức ăn dưới bầu trời quang đãng.
Tại đây, vấn đề nghị hòa riêng lẻ đã nảy sinh, vùng đất đầy rẫy vết thương chiến tranh đã đặt ra vấn đề này một cách không chút mơ hồ. Hình ảnh quân Đức như những kẻ xâm lược côn đồ bị người Nga căm thù tận xương tủy và phỉ nhổ là điều không cần bàn cãi. Mỗi ngôi làng và mỗi thị trấn đều có những ký ức kinh hoàng riêng, cùng những bức ảnh lưu trữ ghi lại tội ác của kẻ thù – tra tấn, bắn giết, cưỡng hiếp và những đống xác chết cao như núi. Nội dung máu me khủng khiếp lặp đi lặp lại khiến người ta cảm thấy tê liệt và chán chường. Người Nga muốn báo thù rửa hận cũng là điều hiển nhiên. Nhưng nếu kẻ xâm lược đáng ghét kia phải chịu thêm vài cú đòn chí mạng như ở Tư Đại Lâm Cách Lặc, khi đó chúng sẵn lòng rời khỏi lãnh thổ Liên Xô, không còn tra tấn và hành hạ nhân dân nữa, đồng thời sẵn lòng bồi thường những thiệt hại đã gây ra, thì việc người Nga đồng ý đình chiến, liệu bạn có thể trách họ được không?
Phách Cách nhìn thấy rất nhiều vật tư viện trợ đang phát huy tác dụng. Đặc biệt là xe tải, đâu đâu cũng thấy xe tải. Có một lần ở phía Nam, tại một bãi đỗ xe có hàng dài xe tải sơn màu xanh cỏ chưa kịp sơn chữ Nga và ngôi sao đỏ, Diệp Phủ Liên Kha nói với anh: "Các anh đã lắp bánh xe cho chúng tôi. Tình hình nhờ thế mà đang thay đổi. Bánh xe của quân Đức giờ đã mòn vẹt cả rồi. Chúng đang phải quay lại sử dụng ngựa. Đến một ngày chúng ăn thịt cả ngựa, khi đó chỉ có thể dựa vào hai chân mà chạy trốn khỏi nước Nga thôi."
Tại một thành phố lớn ven sông bị tàn phá nặng nề tên là Ốc La Niết, họ dùng một bữa tối hoàn toàn kiểu Nga tại sở chỉ huy: súp bắp cải, cá đóng hộp và một loại bột yến mạch xào dầu. Các sĩ quan tùy tùng ngồi ở bàn khác. Diệp Phủ Liên Kha và Phách Cách ngồi cùng nhau. "Đại tá Henry, chúng ta vẫn không thể đến Khắc Nhĩ Cáp Cáp được," vị tướng nói với vẻ nghiêm nghị. "Quân Đức đang phản công."
"Đừng vì tôi mà thay đổi lịch trình của ngài."
Diệp Phủ Liên Kha liếc nhìn anh khiến anh cảm thấy bất an, giống hệt như lần anh gặp ông ở Lê Ninh Cách Lặc. "Ừm, đợt phản công lần này quy mô không nhỏ. Thế nên chúng ta chỉ có thể đến Tư Đại Lâm Cách Lặc."
"Tiếc thật, không được gặp con trai ngài."
"Đại đội không quân của nó đã tham chiến rồi, nên chúng ta cũng không gặp được nó. Nó là một chàng trai không tệ. Có lẽ một thời gian nữa anh sẽ gặp được nó thôi."
Nhìn từ trên không xuống, vùng ngoại ô Tư Đại Lâm Cách Lặc trông như bề mặt mặt trăng. Những hố bom khổng lồ, hàng ngàn hố đạn nhỏ li ti làm cho vùng tuyết trắng trở nên tan hoang, trên đó đầy rẫy xe cộ, xe tăng bị vứt bỏ. Khu trung tâm Tư Đại Lâm Cách Lặc trải dài dọc theo một dòng sông rộng và đen ngòm với những tảng băng trôi, trông như một thành phố cổ vừa được khai quật, toàn là những bức tường đổ nát không còn mái che. Diệp Phủ Liên Kha và vài sĩ quan tùy tùng dán mắt nhìn xuống đống đổ nát bên dưới; lúc này, Phách Cách nhớ lại cảnh tượng ảm đạm mà anh từng thấy khi bay đến Trân Châu Cảng. Nhưng Honolulu vẫn bình yên vô sự, chỉ có hạm đội là bị đánh. Trên lãnh thổ nước Mỹ không có thành phố nào phải trải qua sự tàn phá như thế này. Ở Liên Xô, đâu đâu cũng là sự hủy diệt, và cảnh tượng trải ra dưới cánh máy bay lúc này chính là sự tàn phá triệt để nhất.
Khi họ ngồi xe tiến vào thành phố, dọc đường đi qua những túp lều và tòa nhà bị thiêu rụi, gạch đá đổ nát, những đống xác xe cộ, đâu đâu cũng tỏa ra mùi hôi thối của sự hủy diệt. Tuy nhiên, những tốp công nhân đang dọn dẹp gạch vụn trông vẫn khỏe mạnh và đầy tinh thần. Trẻ em vui đùa trong đống đổ nát. Quân Đức đã biến mất để lại nhiều dấu vết: những biển báo đường phố viết bằng chữ in đậm, xe tăng, đại bác bị phá hủy, xe tải chất đống hoặc lún sâu trong đống đá, một nghĩa trang quân đội trong công viên đầy hố bom, trên những tấm bia mộ bằng gỗ sơn có gắn hình chữ thập sắt mô phỏng. Trên phần trên của một bức tường đổ, Phách Cách chú ý đến một tấm áp phích đã bị cạo mất một nửa: một cô gái Đức trông như học sinh với hai bím tóc màu vàng nhạt đang co rúm trước một con vượn người mặc quân phục Hồng quân đang chảy nước miếng, kẻ đó đang vươn đôi vuốt đầy lông về phía ngực cô gái.
Chiếc xe Jeep dừng lại trước một tòa nhà đầy vết đạn ở quảng trường trung tâm rộng lớn. Những tòa nhà xung quanh đều đã bị san phẳng, không còn dấu vết. Bên trong ngôi nhà, bộ máy quan liêu của Xô Viết đang hồi sinh, với tủ hồ sơ, máy đánh chữ kêu ầm ĩ, những người đàn ông mặt tái nhợt ngồi trước bàn làm việc đơn sơ cùng những cô hầu gái bưng trà, đầy đủ nhân sự và thiết bị. Diệp Phủ Liên Kha nói: "Hôm nay tôi rất bận. Tôi sẽ giao anh cho Cương Định. Trong chiến dịch lần này, anh ấy là thư ký của Ủy ban Trung ương, thời gian đó anh ấy đã sáu tháng không được ngủ một giấc tử tế, giờ vẫn đang mang bệnh trong người."
Một người đàn ông to lớn mặc quân phục ngồi sau chiếc bàn làm việc bằng gỗ dày, phía trên đầu là ảnh của Tư Đại Lâm. Tóc ông ta hoa râm, trông rất cứng đầu, gương mặt hằn sâu những nếp nhăn của sự mệt mỏi. Một nắm đấm to lớn đầy lông lá đặt trên mặt bàn, nhìn người lạ mặc chiếc áo khoác hải quân màu xanh bằng ánh mắt đầy tính chiến đấu. Diệp Phủ Liên Kha giới thiệu Victor Henry. Cương Định nhìn chằm chằm vào vị khách, đánh giá anh một lượt, rồi nhếch cái cằm nặng nề, hỏi bằng tiếng Đức đầy mỉa mai: "Anh nói được tiếng Đức chứ?"
"Tôi có thể nói một chút tiếng Nga," Phách Cách nhẹ nhàng trả lời bằng tiếng Nga.
Viên quan chức nhướn đôi lông mày rậm nhìn Diệp Phủ Liên Kha, ông đặt bàn tay giả của mình lên vai Victor Henry và nói: "Người của chúng ta."
Phách Cách vĩnh viễn không quên được chuyện này, anh cũng không hiểu nổi điều gì đã thôi thúc Diệp Phủ Liên Kha nói như vậy. Dù sao thì, "người của chúng ta" đã có tác dụng như phép màu đối với Cương Định. Ông dành hai tiếng đồng hồ đưa Phách Cách đi khắp nơi, lúc đi bộ, lúc ngồi xe. Họ thăm một vài địa điểm trong thành phố bị tàn phá, đến những ngọn đồi ở ngoại ô, đi xuống thung lũng dốc về phía bờ sông, cũng tham quan cả bến sông. Ông thao thao bất tuyệt bằng tiếng Nga kể về đầu đuôi chiến dịch, nhắc đến tên vô số chỉ huy, phiên hiệu, ngày tháng và chiến thuật vận động của quân đội, cảm xúc ngày càng kích động, Phách Cách chỉ có thể hiểu lõm bõm tất cả những điều đó. Cương Định đang ôn lại chiến dịch này, ông cảm thấy tự hào về nó, và Victor Henry quả thực cũng có thể nắm bắt được đại ý: những chiến sĩ bảo vệ tổ quốc rút về ven sông Phục Nhĩ Gia, họ dựa vào nguồn tiếp tế và viện binh vận chuyển từ bờ đối diện của con sông rộng lớn này hoặc đi qua mặt sông đóng băng để kiên trì chiến đấu; khẩu hiệu chiến đấu là "Cùng tồn tại hay diệt vong với sông Phục Nhĩ Gia!". Những ngày đêm kinh hoàng, quân Đức ở ngay trên những ngọn đồi mà mọi người có thể nhìn thấy rõ, trên mái nhà của những khu vực đã thất thủ, trong những chiếc xe tăng gầm rú chạy trên đường phố; cuộc chiến đẫm máu chấn động đến tận óc từng căn nhà hay từng tầng hầm, đôi khi diễn ra dưới mưa lớn hoặc bão tuyết, pháo kích và ném bom không dứt, tuần này qua tuần khác, tháng này qua tháng khác. Trên nền tuyết ngoại ô thành phố vẫn còn lưu lại dấu vết bại trận của quân Đức. Một hàng dài xe tăng, pháo tự hành, lựu pháo, xe tải, xe bán xích... bị bắn cháy uốn lượn kéo dài về phía Tây, đặc biệt là hàng ngàn xác chết mặc quân phục xám vẫn nằm ngổn ngang như rác rưởi trên những cánh đồng đầy hố bom tĩnh mịch, kéo dài hàng dặm. "Đây là một nhiệm vụ gian nan," Cương Định nói, "Tôi thấy cuối cùng chúng ta đành phải chất đống những con chuột chết này lại mà đốt thôi. Chúng ta đang xử lý người của mình. Quân Đức sẽ không quay lại chôn cất xác của chúng đâu."
Đêm đó Phách Cách thấy mình đang tham gia một bữa tiệc mà người Nga có thể bày ra ở bất cứ đâu hoặc trong bất cứ hoàn cảnh nào dưới tầng hầm, đủ loại cá, cũng có chút thịt, bánh mì đen và bánh mì trắng, rượu vang đỏ và rượu trắng cùng rượu Vodka không bao giờ cạn, bày đầy kín chiếc bàn gỗ dày. Những người tham gia bữa tiệc bao gồm sĩ quan, quan chức thành phố, quan chức của Đảng, tổng cộng khoảng mười lăm người. Lời giới thiệu trước bữa tiệc qua loa, rõ ràng không quan trọng. Chủ nhà là Diệp Phủ Liên Kha, trong cuộc trò chuyện, ca hát và nâng ly chúc tụng đầy hứng khởi, xuyên suốt ba chủ đề: Đại thắng Tư Đại Lâm Cách Lặc, lòng biết ơn đối với vật tư viện trợ của Mỹ và nhu cầu cấp bách mở mặt trận thứ hai. Phách Cách đoán rằng sự xuất hiện của anh có lẽ là cái cớ để những nhân vật quyền thế này nhân cơ hội giải tỏa chút ít. Anh cũng không thể kiềm chế được dưới áp lực của tình cảm sâu nặng và không khí căng thẳng này. Anh uống cạn chén, ăn thỏa thích, như thể ngày mai không bao giờ đến.
Sáng sớm hôm sau, một sĩ quan tùy tùng đánh thức anh trong bóng tối giá lạnh, ký ức mơ hồ khiến anh lắc cái đầu đang sưng tấy. Nếu không phải là trong mơ, anh đã cùng Diệp Phủ Liên Kha lảo đảo đi qua một hành lang, lúc chia tay Diệp Phủ Liên Kha nói với anh: "Quân Đức đã tái chiếm Khắc Nhĩ Cáp Cáp."
Sau khi Phách Cách bôn ba khắp mặt trận Nga bị chiến tranh tàn phá, Mát-xcơ-va trong mắt anh chẳng khác nào San Francisco, không bị tổn hại, hòa bình yên tĩnh, bình an vô sự, bầu không khí vui vẻ. Mặc dù một số tòa nhà chưa hoàn thiện đã bị bỏ hoang, chịu sự bào mòn của gió sương, xe cộ thưa thớt, giao thông bất tiện, những tảng băng bẩn thỉu trông như những ngọn đồi và dãy núi nhỏ nối tiếp nhau, sự hoang tàn thời chiến không tránh khỏi xuất hiện ở khắp mọi nơi.
Anh nhận thấy đại sứ đã trở nên nhiệt tình phóng khoáng. Báo "Chân Lý" đã đăng toàn văn báo cáo về vật tư viện trợ của Stettinius, còn phần mở đầu được đăng ngay trang nhất! Báo chí Liên Xô đột nhiên xuất hiện hàng loạt tin tức về vật tư viện trợ! Đài phát thanh Mát-xcơ-va hầu như ngày nào cũng có tin tức về vật tư viện trợ!
Trong nước, Thượng viện nhất trí thông qua nghị quyết gia hạn "Đạo luật Cho thuê", Hạ viện chỉ có vài người bỏ phiếu chống. Đại sứ Standley dám nói lên suy nghĩ của mình, các bên lũ lượt gửi lời chúc mừng, khiến ông không kịp đáp lại. Báo chí Mỹ và Anh đã chính thức, mặc dù rất khách sáo, tuyên bố rằng những gì ông phát biểu chỉ là ý kiến cá nhân. Tổng thống cũng dùng giọng điệu đùa cợt nước đôi để nhắc đến việc bất cứ ai làm đô đốc nếu không phải là người giữ miệng như bưng thì cũng là kẻ nói quá nhiều, qua đó lấp liếm sự việc này. "Trời đất chứng giám, Phách Cách, tôi đã làm thế, có lẽ một ngày nào đó cái đầu của tôi sẽ bay mất, nhưng trời đất chứng giám, làm thế này mới có hiệu quả! Sau này chúng muốn bắt nạt chúng ta thì phải cân nhắc kỹ lưỡng đấy."
Standley vừa ăn cà phê Mỹ thượng hạng, bánh mì cuộn và bơ trong thư phòng ấm áp dễ chịu ở tòa nhà Spaso, vừa nói những lời trên. Đôi mắt đầy nếp nhăn của ông sáng rực, cổ và mặt đầy nếp nhăn đỏ bừng vì vui sướng. Victor Henry còn chưa kịp báo cáo bất cứ điều gì về chuyến đi này, Standley đã trút hết tất cả. Báo cáo của Phách Cách rất ngắn gọn. Anh nói rằng mình chuẩn bị viết ngay một bản báo cáo quan sát, gửi cho Standley xem qua.
"Tốt lắm, Phách Cách. Ôi, Lê Ninh Cách Lặc, Nhĩ Nhật Diệp Phu, Ốc La Niết, Tư Đại Lâm Cách Lặc, hửm? Trời đất chứng giám, anh đã đặt chân lên khắp vùng đất này rồi. Anh đến thế này, đừng có làm cho mũi của Femonville trầy xước hết đấy! Ở đây, hắn ta ngồi yên ổn trên cái thùng hàng bách hóa của hắn, cái lão gia quản lý vật tư viện trợ này, không bao giờ ra ngoài xem xét tình hình thực tế, còn anh vừa mới đến đây, lập tức đi hiện trường tìm hiểu tin tức nội bộ. Thật tuyệt vời, Phách Cách."
"Thưa tướng quân, ở đây tôi trở thành người thụ hưởng của một sự hiểu lầm nào đó, mọi người tưởng tôi là nhân vật có chỗ dựa."
"Trời đất chứng giám, anh đúng là nhân vật có chỗ dựa. Hãy để tôi xem bản báo cáo đó càng sớm càng tốt. À, chuyện quân Đức tái chiếm Khắc Nhĩ Cáp Cáp là thế nào? Cái gã điên Hitler đáng chết kia đúng là đánh không chết. Tối hôm qua ở đại sứ quán Thụy Điển, rất nhiều gã Nga đều ủ rũ chán chường."
Phách Cách nhìn thấy một phong bì của Bộ Ngoại giao trong đống thư từ chất trên bàn làm việc. Ở góc phong bì có ghi tên Leslie Slote bằng mực đỏ. Anh bóc thư của Rhoda ra đọc trước. Lần này giọng điệu của cô rõ ràng khác với kiểu điệu đà thích đùa cợt trước đây.
"Khi anh ở đây, Phách Cách thân yêu, em đã cố gắng hết sức để anh cảm thấy hạnh phúc, Chúa biết điều đó. Nhưng đến bây giờ, em thực sự không còn biết anh nhìn nhận em như thế nào nữa." Câu này là chủ đề chính trong những lá thư đầy kìm nén cảm xúc này. Byron đã đến rồi đi, và kể cho cô nghe về việc Natalie chuyển đến Baden-Baden, "Anh không thể gặp Byron, em thấy rất buồn cho anh. Nó là một người đàn ông, một người đàn ông thực thụ. Anh nên cảm thấy tự hào. Tuy nhiên, nó cũng giống như anh, đôi khi sẽ nén một bụng giận dữ không nói thành lời. Ngay cả khi Natalie có thể mang theo đứa trẻ bình an vô sự trở về nhà, như ông Slote đã hứa với em, em thấy cô ấy cũng chưa chắc đã làm nó nguôi giận được. Nó vì đứa trẻ mà lo lắng đến phát điên, và nó cho rằng cô ấy đã làm hỏng việc lớn của nó."
Thư của Slote viết trên giấy viết thư dài màu vàng. Ông không nói rõ tại sao lại viết thư bằng mực đỏ, điều này khiến những tin tức có phần giật gân trong thư càng trở nên giật gân hơn. Đại tá Henry thân mến: Túi ngoại giao quả thực rất tiện lợi. Tôi có một vài tin tức muốn nói với anh, và còn một yêu cầu nữa.
Trước hết xin đưa ra yêu cầu này. Anh biết đấy, Pam Tutsbury đang làm việc ở đây cho tờ "London Observer". Cô ấy muốn đến Mát-xcơ-va, quả thực, trong những ngày này, mọi tình hình chiến sự quan trọng chỉ có thể phỏng vấn được ở đó. Cách đây một thời gian cô ấy nộp đơn xin thị thực. Không được chấp thuận. Pam thấy tương lai của mình với tư cách là phóng viên ngày càng mờ mịt, trong khi cô ấy lại nảy sinh hứng thú với công việc của mình và muốn tiếp tục làm.
Chuyện đơn giản lắm, anh có thể, và có muốn giúp một tay không? Khi tôi gợi ý Pam viết thư cho anh, cô ấy đỏ mặt và nói rằng không có hy vọng gì, cô ấy nói nằm mơ cũng không dám làm phiền anh. Nhưng tôi đã từng thấy anh làm việc ở Mát-xcơ-va, tôi nghĩ có lẽ anh có thể giúp cô ấy một tay. Tôi nói với cô ấy rằng tôi định viết thư kể cho anh nghe về hoàn cảnh của cô ấy, cô ấy nghe xong mặt càng đỏ hơn. Cô ấy nói: "Leslie, đừng làm thế! Em không cho phép anh làm thế." Tôi hiểu những lời đó là sự thể hiện "miệng chối nhưng lòng ưng" của phụ nữ Anh, thực ra cô ấy muốn nói: "Ôi, tốt quá; xin hãy làm như vậy đi!"
Người ta vĩnh viễn không hiểu nổi tại sao Ủy ban Nhân dân Ngoại giao lại có thể làm ngơ hoặc nổi giận. Nếu anh muốn tìm nguyên nhân, thì việc này có lẽ liên quan đến khoảng bốn mươi chiếc máy bay chiến đấu P-39 Airacobra trong vật tư viện trợ chăng? Lô máy bay này ban đầu được chỉ định vận chuyển đến Liên Xô, nhưng người Anh đã tìm cách chuyển chúng sang dùng cho cuộc xâm lược Bắc Phi. Huân tước Burne-Walker đã can thiệp vào chuyện này. Tất nhiên, đây cũng có thể hoàn toàn không phải là nguyên nhân gây ra sự khó chịu. Vì Pam nhắc đến chuyện này, nên tôi mới tiện thể đề cập đến.
Giờ hãy nói về tin tức tôi muốn nói. Nỗ lực đưa Natalie và chú của cô ấy rời khỏi Lộ Đức đã thất bại, vì quân Đức đã chuyển nhóm người này đến Baden-Baden, đây là hành động hoàn toàn vi phạm luật pháp quốc tế. Khoảng một tháng trước, Tiến sĩ Jastro mắc bệnh đường ruột, tình trạng rất nguy hiểm, cần phải phẫu thuật. Thiết bị phẫu thuật ở Baden-Baden rõ ràng là không đủ. Một bác sĩ phẫu thuật ở Frankfurt đã kiểm tra cho ông ấy, ông ấy đề nghị đưa bệnh nhân đến Paris. Ông ấy nói với chúng tôi rằng, ở châu Âu, bác sĩ phẫu thuật giỏi nhất cho ca phẫu thuật này ở bệnh viện Mỹ tại Paris.
Bộ Ngoại giao Thụy Sĩ đã xử lý việc này rất thỏa đáng. Natalie, Tiến sĩ Jastro và đứa trẻ hiện đều ở Paris. Quân Đức cho phép họ ở cùng nhau. Họ tỏ ra rất hợp lý. Rõ ràng là tình trạng của tiến sĩ hơi nguy hiểm, vì đã gây ra một vài biến chứng. Ông ấy đã phẫu thuật hai lần, hiện đang hồi phục chậm chạp.
Đối với Natalie, Paris chắc chắn thoải mái hơn nhiều so với Baden-Baden. Cô ấy được sự bảo hộ của Thụy Sĩ, hơn nữa chúng ta không phải đang chiến tranh với Pháp. Còn có những người Mỹ khác cũng trong hoàn cảnh tương tự đang sống ở Paris, chờ đợi cuộc trao đổi kiều dân quy mô lớn sẽ được tổ chức ở Baden-Baden, những người này sẽ được coi là con bài mặc cả cho cuộc trao đổi này. Họ phải trình diện với cảnh sát, v.v., nhưng người Pháp rất nồng nhiệt với họ. Chỉ cần họ đều làm việc theo đúng pháp luật, quân Đức sẽ không can thiệp. Nếu Allen và Natalie có thể ở lại Paris cho đến trước khi trao đổi, họ có lẽ sẽ khiến nhóm người ở Baden-Baden phải ghen tị. Thân phận Do Thái của họ là một vấn đề, tôi cũng không thể giả vờ rằng chúng ta không cần phải lo lắng về điều đó. Nhưng vấn đề này ở Baden-Baden cũng tồn tại, có lẽ còn nổi cộm hơn. Tóm lại, tôi vẫn hơi lo lắng, nhưng nếu chúng ta có chút may mắn, mọi vấn đề sẽ được giải quyết. Chuyện ở Lộ Đức là đáng thử, kết quả không được như ý nguyện, tôi cảm thấy đáng tiếc về điều đó. Tôi ấn tượng sâu sắc là anh lại có thể nhận được sự giúp đỡ của Harry Hopkins.
Byron ghé qua Washington vội vã, tôi đã gặp nó. Lần đầu tiên trong đời tôi nhận thấy ngoại hình của nó rất giống anh. Nó trước đây trông như một diễn viên thiếu niên đang trong độ tuổi dậy thì. Về chuyện của Natalie, tôi cũng đã gọi điện một lần với vợ anh, nói chuyện rất lâu. Cuộc trò chuyện này khiến cô ấy bình tĩnh hơn một chút. Mẹ của Natalie tuần nào cũng gọi điện cho tôi, tội nghiệp bà già.
Về tình hình của bản thân, không có nhiều thứ để báo cáo, và đều là những tin không hay lắm, nên tôi xin phép không nhắc đến. Tôi hy vọng anh có thể giúp đỡ Pamela. Cô ấy thực sự khao khát được đến Mát-xcơ-va.
Của anh, Leslie. Slote, ngày 1 tháng 3 năm 1943. Tướng Diệp Phủ Liên Kha không đứng dậy, cũng không bắt tay anh. Ông chỉ gật đầu biểu thị chào mừng, đồng thời vẫy tay bảo sĩ quan tùy tùng đi chỗ khác, và dùng bàn tay giả đó ra hiệu cho Phách Cách ngồi xuống ghế. Không thấy có bất kỳ món ăn nhẹ hay đồ uống nào.
"Cảm ơn ngài đã đồng ý tiếp tôi."
Ông gật đầu.
"Tôi mong đợi nhận được bản tóm tắt thống kê về vật tư viện trợ mà ngài đã hứa sẽ đưa cho tôi."
"Chưa chuẩn bị xong. Qua điện thoại tôi đã nói với anh rồi."
"Tôi không phải vì chuyện này mà đến. Tuần trước ngài có nhắc đến phóng viên Ernest Tutsbury, người đã cùng tôi đến mặt trận Mát-xcơ-va."
"Thì sao?"
"Ông ấy đã trúng mìn chết ở Bắc Phi. Con gái ông ấy kế thừa sự nghiệp của cha, trở thành phóng viên. Cô ấy muốn nộp đơn xin thị thực phóng viên đến Liên Xô, nhưng gặp khó khăn."
Diệp Phủ Liên Kha cười lạnh với vẻ nghi ngờ, ông nói: "Đại tá Henry, đây là việc của người phụ trách phòng thị thực thuộc Bộ Ngoại giao Nhân dân."
Phách Cách bình tĩnh đối mặt với sự từ chối đã đoán trước này. "Tôi hy vọng giúp cô ấy một tay."
"Cô ấy là bạn đặc biệt thân thiết của anh à?" Ông nói ra từ "đặc biệt" bằng tiếng Nga với giọng điệu thẳng thắn đầy ẩn ý.
"Phải."
"Vậy, có lẽ tôi nhầm rồi. Một vài phóng viên Anh ở đây nói với tôi rằng cô ấy đã đính hôn với Thiếu tướng Không quân Duncan Burne-Walker."
"Đúng vậy. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn là bạn thân."
Tướng quân đặt bàn tay thật của mình lên bàn làm việc, đè lên cánh tay giả, trên mặt lộ ra một vẻ mà đối với Pugg mà nói chính là đang "làm bộ làm tịch": không có nụ cười, đôi mắt khép hờ, cái miệng rộng kéo dài. Đây là dáng vẻ thường thấy của ông ta, một vẻ mặt hiếu chiến. "Ừm, như tôi đã nói, chuyện visa không nằm trong phạm vi quản lý của tôi. Rất tiếc, còn chuyện gì khác không?"
"Ông đã nhận được tin tức gì về con trai mình ở mặt trận Kharkov chưa?"
"Vẫn chưa. Cảm ơn sự quan tâm của anh." Yevlenko vừa đứng dậy vừa nói bằng giọng điệu kết thúc cuộc trò chuyện, "Nói cho tôi biết, đại sứ của anh vẫn còn cho rằng chúng tôi đang che giấu sự thật về hàng hóa cho vay mượn (Lend-Lease) sao?"
"Ông ấy hài lòng với những báo cáo gần đây trên báo chí và đài phát thanh Liên Xô."
"Thế thì tốt. Tất nhiên, có những sự thật tốt nhất vẫn nên giấu đi. Ví dụ như, Mỹ không thực hiện lời hứa cung cấp cho không quân chúng tôi loại tiêm kích Airacobra đang rất cần thiết, mà lại để người Anh điều chuyển những chiếc máy bay đó đi. Công khai những chuyện này chỉ làm tăng thêm nhuệ khí cho kẻ địch. Tuy nhiên, anh không cho rằng hành vi thất tín giữa các đồng minh là một chuyện vô cùng nghiêm trọng sao?"
"Tôi chưa từng nghe nói về chuyện đó."
"Thật sao? Thế mà hàng hóa cho vay mượn hình như lại thuộc phạm vi trách nhiệm của anh đấy. Những người bạn Anh của chúng ta tất nhiên sợ Liên Xô trở nên quá hùng mạnh. Họ đang nghĩ, sau chiến tranh thì làm thế nào? Quả là có tầm nhìn xa trông rộng." Yevlenko đứng đó, hai tay đặt trên mặt bàn, cất giọng thô lỗ nói ra những lời mỉa mai này. "Winston Churchill năm 1919 từng cố gắng dập tắt cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa của chúng tôi. Đối với thể chế như chúng tôi, ông ta chắc chắn không thay đổi quan điểm không tán thành đó. Điều đó thật đáng tiếc. Tuy nhiên, vào thời điểm này, cuộc chiến chống lại Hitler thì sao? Ngay cả Churchill, ông ta cũng muốn thắng cuộc chiến này chứ! Đáng tiếc là, để đạt được mục đích này chỉ có cách giết lính Đức. Anh đã tận mắt thấy chúng tôi đang giết một đám lính Đức mà chúng tôi phải giết. Nhưng người Anh lại rất không muốn đánh lính Đức. Những chiếc tiêm kích Airacobra đó thực chất là do Huân tước Duncan-Bernot-Walker tìm cách lấy đi để dùng cho cuộc đổ bộ tại Bắc Phi thuộc Pháp. Ở Bắc Phi đâu có lính Đức."
Trong suốt bài diễn văn đầy giận dữ này, mỗi khi Yevlenko lặp lại từ "lính Đức", giọng điệu thô lỗ và khinh miệt của ông ta khiến người nghe cảm thấy vô cùng khó chịu.
"Tôi đã nói là tôi không biết gì về tình hình này cả." Pugg phản ứng nhanh chóng và cứng rắn. Về vấn đề visa của Pamela, ông đã nhận được câu trả lời. Nhưng tình hình hiện tại đã vượt xa phạm vi đó. "Nếu chính phủ nước tôi không thực hiện lời hứa, đó là vấn đề vô cùng nghiêm trọng. Còn về Thủ tướng Churchill, dưới sự lãnh đạo của ông, người dân Anh đã đơn độc chiến đấu chống Đức suốt một năm ròng; vào lúc đó, Liên Xô lại đang cung cấp vật tư cho Hitler. Ở El Alamein và một vài nơi khác, họ cũng đã giết một đám lính Đức mà họ phải giết. Mỗi đợt không kích với một nghìn máy bay ném bom của họ vào Đức đã gây tổn thất nặng nề cho kẻ địch, đồng thời kìm chân lực lượng phòng không hùng hậu của địch. Bất kỳ hiểu lầm nào phát sinh từ sự kiện tiêm kích Airacobra này chắc chắn không nên công khai, mà nên được sửa sai giữa chúng ta với nhau. Mặc dù sự việc đã xảy ra, mặc dù chúng ta chịu tổn thất nặng nề, hàng hóa cho vay mượn vẫn phải tiếp tục cung cấp. Một đoàn tàu hộ tống vận chuyển hàng hóa cho vay mượn của chúng tôi vừa bị tàu ngầm Đức tấn công, phải chịu tổn thất thảm khốc nhất từ trước đến nay trong cuộc chiến này. Các cụm tàu ngầm Đức đã đánh chìm hai mươi mốt tàu, hàng nghìn thủy thủ Mỹ và Anh đã chôn thây dưới làn nước băng giá. Và tất cả những điều này đều là để đưa hàng hóa cho vay mượn đến tay các ông."
Giọng điệu của Yevlenko dịu lại đôi chút. "Anh đã báo cáo với Harry Hopkins về chuyến thăm mà anh thực hiện cùng chúng tôi chưa?"
"Báo cáo của tôi vẫn chưa viết xong. Tôi sẽ đưa cả sự bất mãn mà các ông bày tỏ về tiêm kích Airacobra vào trong đó. Bản tóm tắt thống kê của ông cũng sẽ được gửi kèm."
"Thứ Hai anh có thể nhận được bản tóm tắt này."
"Cảm ơn."
"Để trao đổi, anh có thể gửi cho tôi một bản báo cáo mà anh gửi cho ông Hopkins không?"
"Tôi sẽ đích thân gửi cho ông một bản sao của báo cáo."
Yevlenko chìa bàn tay trái ra.
Pugg viết một bản báo cáo dài hai mươi trang. Tướng Standley rất hài lòng khi thấy thông tin phong phú về hàng hóa cho vay mượn này, lập tức ra chỉ thị in ấn bản báo cáo này để phân phát rộng rãi trong giới chính trị trong nước, bao gồm cả việc gửi một bản cho chính Tổng thống.
Pugg vội vàng viết, cũng viết một lá thư tay cho Harry Hopkins. Tối hôm đó, ông ngủ rất muộn, thỉnh thoảng nhấp vài ngụm vodka để tỉnh táo. Ông định bỏ thư vào túi bưu phẩm trước khi đặc phái viên ngoại giao xuất phát một giờ. Kiểu làm việc lén lút qua mặt Standley này thật đáng ghét, nhưng dù sao đây cũng là công việc của ông, nếu như trong chức vụ không tên không tuổi hiện tại của ông có thứ gì đó có thể coi là công việc.
Kính gửi ông Hopkins: Đại sứ Standley đang chuyển cho ông và những người khác báo cáo tình hình của tôi. Báo cáo này liên quan đến chuyến thăm quan sát kéo dài tám ngày tại Liên Xô gần đây của tôi dưới sự tháp tùng của Tướng Yuri Yevlenko. Tất cả sự thật tôi cung cấp đều đã viết trong tài liệu đó. Theo yêu cầu của ông, tôi có thêm vào báo cáo một vài chú thích kiểu "quả cầu pha lê".
Về phương diện hàng hóa cho vay mượn: Chuyến thăm này khiến tôi tin chắc rằng, chính sách viện trợ hào phóng của Tổng thống, tức là chính sách không yêu cầu đền bù, là chính sách sáng suốt duy nhất. Quốc hội có thể cảm thấy tự hào vì đã thể hiện sự thấu hiểu sâu sắc điều này. Ngay cả khi người Nga không đang giết kẻ địch của chúng ta với số lượng lớn, thì việc để sự viện trợ mà chúng ta cung cấp kèm theo các điều kiện cũng là sự keo kiệt. Cuộc chiến này rồi sẽ kết thúc, chúng ta sớm muộn gì cũng phải chung sống với Liên Xô. Nếu chúng ta bắt đầu mặc cả giá của chiếc dây cứu sinh trước khi ném nó cho một người đang vật lộn dưới nước, người đó có thể sẵn sàng trả bất cứ giá nào, nhưng họ sẽ không quên đâu.
Theo tôi thấy, người Nga đang bắt đầu bẻ gãy cột sống của chủ nghĩa Hitler, nhưng cái giá phải trả là vô cùng khủng khiếp. Tôi thường tưởng tượng ra một viễn cảnh như thế này: người Nhật ồ ạt đổ bộ lên bờ biển Thái Bình Dương của chúng ta, quét sạch một nửa giang sơn, giết hoặc bắt giữ có lẽ là hai mươi triệu người Mỹ, cướp đoạt tất cả lương thực, di dời nhà máy, bắt hàng triệu người về Nhật làm nô lệ, và tiến hành phá hoại cũng như phạm tội ác ở khắp nơi. Đây đại khái chính là tình cảnh mà người Nga đang trải qua. Việc họ có thể kiên trì và phản công là điều đáng kinh ngạc. Hàng hóa cho vay mượn chắc chắn đóng vai trò nhất định, nhưng đối với một quốc gia thiếu dũng khí, sự viện trợ này cũng vô ích. Yevlenko cho tôi xem vài người lính mặc quân phục mới từ hàng viện trợ, rồi ông ta không thêm thắt gì mà nói: "Cơ thể của nước Nga." Đối với tôi, câu nói này đã nói lên toàn bộ ý nghĩa của hàng hóa cho vay mượn.
Tuy nhiên, đáng kinh ngạc không kém chính là nỗ lực chiến tranh của người Đức. Chúng ta có thể thấy những tình hình này trên bản đồ hoặc đọc báo cáo về phương diện này ở những nơi khác, nhưng bay dọc theo một chiến tuyến dài một nghìn dặm và tận mắt chứng kiến sự thật lại là chuyện khác. Xét đến việc Hitler cũng triển khai lực lượng hùng hậu ở Tây Âu từ Na Uy đến dãy Pyrenees, đồng thời tiến hành các hoạt động quân sự quy mô lớn ở phía Bắc, lại còn tiến hành một chiến dịch tàu ngầm quy mô khổng lồ - tôi chưa từng đến Caucasus, chỉ riêng nơi đó đã là một chiến tuyến khổng lồ khác - cuộc tấn công dồn dập liên tục vào một quốc gia công nghiệp hóa và quân sự hóa cao độ, có diện tích lớn gấp chín lần và dân số gấp đôi nước Đức này, thực sự khiến người ta kinh ngạc khôn xiết. Đây có lẽ là thành tựu quân sự xuất sắc nhất (và cũng đáng ghét nhất) từ trước đến nay. Liệu chúng ta và người Anh có thể tiêu diệt được lực lượng cướp bóc đáng sợ này nếu không có sự tham gia của người Nga không? Tôi cảm thấy nghi ngờ. Nói lại lần nữa, chính sách không tiếc giá nào để đảm bảo Liên Xô tiếp tục chiến đấu của Tổng thống là chính sách sáng suốt duy nhất.
Điều này dẫn đến vấn đề nghị hòa riêng lẻ, vấn đề mà ông đã yêu cầu tôi đưa ra nhận định. Đáng tiếc là, Liên Xô khiến tôi cảm thấy bối rối, con người, chính phủ, triết học xã hội của nó, tóm lại, tất cả mọi thứ của nó đều khó hiểu. Tất nhiên, không chỉ mình tôi có cảm giác này.
Tôi không cho rằng người Nga yêu thích hay thậm chí là thích chính phủ cộng sản của họ. Tôi lại cho rằng, hậu quả do một cuộc cách mạng đi lầm đường dẫn đến khiến họ không thể thoát khỏi chính phủ này. Mặc dù tuyên truyền che đậy sự thật, tôi cho rằng họ cũng nhận thức được Stalin và bè lũ tàn bạo của ông ta đã phạm sai lầm lớn khi bắt đầu cuộc chiến, sau đó suýt chút nữa đã thua cuộc. Có lẽ một ngày nào đó dân tộc vĩ đại kiên nhẫn này sẽ tính sổ với chính quyền này, cũng giống như cách họ tính sổ với hoàng tộc Romanov. Trong khi đó, Stalin vẫn tiếp tục nắm quyền, thực thi sự cai trị tàn bạo và nhanh gọn. Ông ta sẽ đưa ra quyết định về việc nghị hòa riêng lẻ. Dù ông ta đưa ra quyết định gì, nhân dân cũng sẽ răm rắp tuân theo. Không ai sẽ phản bội Stalin, sau khi nhìn thấy những gì người Đức làm ở đây, không ai sẽ làm như vậy cả.
Vào thời điểm này, một nền hòa bình như vậy sẽ là sự bội tín, mà tôi đang ở giữa lòng người Nga, không nhận thức được cũng không lo lắng về sự bội tín đó. Sự chán ghét chiến tranh lại là chuyện khác. Sức mạnh tái tổ chức lực lượng mà người Đức thể hiện khi chiếm lại Kharkov thật không giống ai. Tôi tự hỏi, tại sao chính quyền Nga lại cho phép tôi thực hiện chuyến thăm bất thường này? Tại sao Tướng Yevlenko lại mời tôi đến căn hộ bẩn thỉu của con dâu ông ta ở Leningrad và bảo cô ấy kể cho tôi nghe những câu chuyện kinh hoàng về cuộc bao vây? Có lẽ là để khiến cho việc chúng ta phàn nàn người Nga vô ơn trở nên đáng xấu hổ, cũng có lẽ là để khiến tôi cảm nhận sâu sắc rằng - như tôi đã mô tả trong báo cáo chính thức, tôi được coi là trợ lý không chính thức của ông - ngay cả sự kiên nhẫn của người Nga cũng có giới hạn. Những ám chỉ về việc mở mặt trận thứ hai ở châu Âu được đưa ra ở đây - đôi khi là hàm ý, nhưng thường là trần trụi - thật sự là không bao giờ dứt.
Tôi đã trải qua một vài chiến dịch tàn khốc ở Thái Bình Dương, nhưng đó chủ yếu là cuộc chiến của quân nhân chuyên nghiệp. Cuộc chiến ở đây là chiến tranh tổng lực - hai dân tộc dốc toàn lực, mỗi bên đều bóp nghẹt tĩnh mạch cổ của đối phương. Người Nga không hề vì muốn giúp chúng ta mà chiến đấu khi đang tranh đấu cho sự sinh tồn của chính mình, nhưng cuộc chiến này đang mang lại tác dụng đó. "Đạo luật Cho vay mượn" dường như là một chính sách do trời ban, nó có ý nghĩa lịch sử to lớn. Nhưng sự chiến đấu đẫm máu trên chiến trường vẫn là yếu tố quyết định thắng bại của cuộc chiến, trong tình trạng cô lập không viện trợ, khả năng chịu đựng hy sinh của con người luôn có giới hạn.
"Quả cầu pha lê" của tôi nói cho tôi biết điều gì cũng là điều hiển nhiên. Nếu chúng ta có thể khiến người Nga tin rằng chúng ta đang nghiêm túc cân nhắc việc sớm mở một mặt trận thứ hai ở châu Âu, chúng ta sẽ không cần phải lo lắng họ sẽ nghị hòa riêng lẻ. Nếu không, khả năng này là có tồn tại.
Chân thành của ông, Victor Henry, ngày 27 tháng 3 năm 1943. "Vấn đề về tiêm kích Airacobra," Pugg nói, "nằm ở trang 17 và 18."
Đây là sau khi đã qua một ngày cuối tuần. Bây giờ ông và Yevlenko đang trao đổi tài liệu: Yevlenko nhận được một bản sao báo cáo của ông, được đóng thành một tập tài liệu dày. Pugg nhanh chóng lướt qua bản tóm tắt của Yevlenko, ông thấy từng trang số liệu, sơ đồ và bảng biểu, hơn nữa còn có cả những trang đầy ắp chú giải bằng tiếng Nga.
"Ừm, bản thân tôi tất nhiên không thể đọc báo cáo của anh." Giọng điệu của Yevlenko giống như đang trò chuyện phiếm, nhưng có chút vội vàng. Ông ta nhét báo cáo vào chiếc cặp da đặt trên bàn. Chiếc áo khoác lót lông thú và một chiếc túi du lịch của ông ta đặt trên ghế sofa. "Tôi sắp đi đến mặt trận phía Nam, tùy tùng của tôi sẽ vừa đọc vừa dịch cho tôi nghe trên máy bay."
"Tướng quân, tôi còn một lá thư riêng gửi cho Harry Hopkins." Pugg lại rút ra một vài tài liệu từ cặp của mình. "Tôi đã đặc biệt tự mình dịch nó sang tiếng Nga cho ông, mặc dù tôi phải nhờ đến từ điển và sách ngữ pháp."
"Nhưng tại sao lại làm vậy? Chúng ta có thông dịch viên rất giỏi mà."
"Chúng ta cũng có, tôi không muốn để lại cho ông một bản. Nếu ông sẵn lòng xem qua rồi trả lại cho tôi, đó chính là mục đích tôi chuẩn bị bản dịch tiếng Nga này."
Yevlenko dường như có chút bối rối và nảy sinh nghi ngờ. Sau đó ông ta tỏ ra vẻ bề trên, mỉm cười nhàn nhạt với Pugg. "Được thôi! Chính vì cách làm bảo thủ, giữ bí mật cẩn thận như thế này mà chúng ta thường xuyên bị chỉ trích."
Pugg nói: "Cách làm này có lẽ sẽ lây lan đấy."
"Đáng tiếc là, tôi không có nhiều thời gian, Đại tá Henry."
"Nếu vậy thì đợi ông quay về rồi tính sau, lúc đó tôi sẽ nghe lệnh ông."
Yevlenko nhấc điện thoại, gầm gừ vài tiếng gấp gáp; rồi gác máy, chìa tay ra. Pugg đưa lá thư đã dịch cho ông ta. Ông ta cắm một điếu thuốc vào kẹp thép trên bàn tay giả, vừa cười khổ vừa bắt đầu đọc thư. Nụ cười trên mặt biến mất. Ông ta trừng mắt nhìn Pugg bằng ánh mắt hung tợn, giống như lần trước ở căn hộ tại Leningrad. Ông ta lật đến trang cuối, ngồi đó nhìn chằm chằm một lúc, rồi đưa thư trả lại cho Pugg. Trên mặt ông ta không chút biểu cảm. "Động từ tiếng Nga của anh vẫn cần phải luyện tập thêm đấy."
"Nếu ông có ý kiến gì, tôi sẵn sàng chuyển đạt lại cho Harry Hopkins."
"Điều tôi muốn nói có lẽ anh sẽ không thích nghe đâu."
"Điều đó không quan trọng."
"Sự hiểu biết của anh về chính trị Liên Xô rất nông cạn, đầy định kiến và vô cùng thiếu hiểu biết. Bây giờ tôi phải đi đây." Yevlenko đứng dậy. "Anh từng hỏi về tình hình con trai tôi ở mặt trận Kharkov. Chúng tôi đã nhận được thư của nó, nó vẫn khỏe."
"Điều đó thực sự khiến tôi cảm thấy vui mừng."
Yevlenko hét lớn một mệnh lệnh vào điện thoại, sau đó xỏ bàn tay giả vào ống tay áo trước, bắt đầu mặc áo khoác. Một tùy tùng bước vào, lấy đi hành lý của ông ta. "Còn về cô Pamela Tatterbury, visa của cô ấy đã được cấp. Tài xế của anh sẽ đưa anh về căn hộ. Tạm biệt."
"Tạm biệt," Pugg nói. Chuyện của Pamela đến quá đột ngột, ông không kịp phản ứng. Ông tưởng Yevlenko chìa bàn tay thật ra là để bắt tay từ biệt, nhưng bàn tay đó lại vươn đến tận vai ông, bóp một cái, tuy ngắn ngủi nhưng cũng đủ đau. Yevlenko quay người bỏ đi.