Chiến Tranh và Hồi Ức (1941–1945)

Lượt đọc: 610 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 44

❊ ❊ ❊

Nàng lao mình vào vòng tay anh. Chiếc túi da đeo trên dây xích va vào hông nàng. Những cú va chạm mạnh mẽ, cái ôm siết chặt, nụ hôn nồng nhiệt và vội vã trên môi nàng, hầu như chẳng được cảm nhận rõ, bởi tâm hồn nàng đã xuất thần, ánh mắt mê loạn.

"Con trai đâu rồi?" Byron hỏi nàng.

Nàng siết chặt tay anh, không thốt nên lời, như muốn dồn hết thảy sự ngạc nhiên lẫn tình yêu thương vào trong cái nắm tay thật chặt ấy. Nàng kéo anh đi vòng qua hành lang tối tăm bên ngoài phòng ăn, rẽ qua mấy khúc quanh. Căn phòng trong cùng của khu nhà đang náo loạn cả lên: Đó là một phòng ngủ lớn, lũ con trai cười đùa hò hét đuổi theo những cô bé, còn các cô bé thì thét lên lanh lảnh rồi chạy trốn khắp nơi. Một bé gái ngồi trên giường, ôm chặt đứa trẻ mặc chiếc áo thủy thủ màu xanh sạch sẽ.

"Ở kia. Đó chính là con trai anh."

Từ phòng ăn truyền đến tiếng hát đồng ca: "Dê con đi buôn, bé cũng làm nghề ấy."

"Nho khô và hạnh nhân, ngủ đi ngủ đi, bé cưng ơi."

Byron đứng trân trân nhìn đứa trẻ. Lũ trẻ thấy anh thì ngừng chạy, tiếng ồn ào cũng lắng xuống. Natalie cố gắng kiềm chế để không bật khóc, chỉ hỏi khẽ: "Anh thấy thế nào?"

"Anh thấy thằng bé rất giống anh."

"Lạy Chúa, anh nói gì vậy! Nó chẳng khác nào bản sao thu nhỏ của anh."

"Anh bế nó lên, nó có sợ không?"

"Thử xem!"

Byron bước qua đám trẻ đang đứng lặng im, tiến về phía đứa bé rồi bế bổng nó lên. "Này nhóc. Ta là bố của con đây."

Cô gái vừa trao đứa trẻ nhíu mày vì không hiểu tiếng Anh. Louis nhìn mẹ rồi lại nhìn bố, đặt hai bàn tay nhỏ xíu lên má Byron.

"Thằng bé nặng đấy chứ," Byron nói. "Em cho nó ăn gì vậy?"

"Nói ra anh không tin đâu. Bạch tuộc, hải âu. Cái gì nó cũng ăn cả!" Nàng hoàn toàn không nhận ra những giọt nước mắt đang trào ra nơi khóe mắt, chỉ đến khi anh dùng mu bàn tay lau má, nàng mới cảm nhận được sự ướt át. "Anh biết không, nó đã là một kẻ đi khắp thiên hạ rồi đấy. Không biết đã ăn bao nhiêu sữa dê và phô mai vào bụng nữa. Byron, anh có yêu nó không?"

"Thằng bé là một nhóc tì cừ khôi," Byron nói.

Những đứa trẻ khác đều đang nhìn và lắng nghe, không ai xì xào, cũng chẳng ai mỉm cười, những gương mặt nhỏ nhắn đều tỏ ra nghiêm túc và đầy tò mò. Natalie dường như cũng nhìn thấy Byron qua ánh mắt nghiêm nghị, mở to của chúng: một người đàn ông cao lớn, da sạm nắng, một tín đồ Cơ Đốc với gương mặt cương nghị, mặc trang phục ngoại quốc, trên cổ tay còn đeo một chiếc túi da bằng dây xích; ngoại hình và ngôn ngữ của anh chẳng thuộc về tộc người của chúng, nhưng lại toát lên dáng vẻ của một người cha đang bế đứa trẻ của chính họ trong tay.

"Đi thôi. Anh phải gặp Ellen trước đã! Rồi chúng ta sẽ vào phòng em nói chuyện, lạy Chúa, chúng ta hẳn là có bao điều phải nói! Anh phải kể cho em nghe làm sao anh tìm được chúng ta, đến giờ em vẫn còn kinh ngạc đến không khép nổi miệng đây này." Nàng đón lấy đứa trẻ, chiếc cặp da đung đưa giữa hai người. "Byron, cái này là gì vậy?"

"Một lát nữa anh sẽ nói cho em nghe."

Sự xuất hiện của Byron trong phòng ăn gây ra một sự náo động kéo dài, tựa như nồi nước đang sôi. Ellen say sưa vô cùng phấn khích, xúc động giải thích với mọi người bằng tiếng Yiddish — "Người đàn ông của Natalie từ Mỹ đến, là hải quân Mỹ!" — mọi người bàn tán xôn xao, lần lượt bắt tay chào hỏi, đặt thêm một chỗ ngồi bên cạnh Rabinowitz, mời họ dùng thêm món này món nọ và những ly rượu. Trong lúc Byron cố nuốt vài miếng thức ăn mà anh vốn chẳng muốn dùng, những khúc ca chào mừng nồng nhiệt bằng tiếng Yiddish vang lên — tất cả những điều này đều tiêu tốn thời gian, nhưng chẳng ai có thể từ chối lòng hiếu khách của người Do Thái.

Natalie ôm Louis đứng ở cửa, nhìn đến ngẩn ngơ. Anh ấy đang ngồi giữa gia đình Mendelssohn, Byron Henry của nàng. Trên bàn ăn đã thắp tám ngọn nến ngày lễ, trong đó có hai ngọn do chính tay nàng thắp — đây quả thực là cảnh tượng khó tin nhất trong đời nàng. Dù rõ ràng anh không mấy thoải mái, nhưng trước những lời chúc mừng bằng tiếng Yiddish từ khắp nơi, anh vẫn vừa nghe Jastrow dịch vừa đưa ra những câu trả lời thân tình, nồng hậu, và tất cả những người có mặt đều tiếp đón anh bằng sự nhiệt thành. Anh là chồng nàng. Chỉ riêng điều đó thôi là đủ. Anh còn là sĩ quan hải quân Mỹ. Dù lãnh sự quán Mỹ đã bác bỏ đơn xin thị thực của một vài người, nhưng điều đó cũng chẳng sao. Họ cũng giống như người Pháp, như đa số người châu Âu, đều đang chờ đợi người Mỹ phản công Hitler, giống như tổ tiên họ tin tưởng vào sự giáng thế của Đấng Cứu Thế vậy. Sự xuất hiện đột ngột như tia chớp của Byron dường như không làm họ thấy kỳ lạ. Người Mỹ vốn dĩ là siêu nhân mà. Dù sao thì đủ loại chuyện kinh ngạc đối với những người này đều đã trở thành cơm bữa; cuộc sống vốn đã chìm trong hỗn loạn, chẳng có việc gì là quá kỳ lạ so với những việc khác cả.

Sự khác biệt giữa Rabinowitz và Byron khiến nàng cảm thấy sâu sắc, hai người đàn ông này lúc này đang ngồi cạnh nhau dưới ánh nến, vì điện đã bị cắt. Người đàn ông Palestine thấp đậm có làn da trắng, đôi vai trĩu xuống, dù hiện tại tâm trạng bình thản, nhưng biểu cảm của ông là sự pha trộn giữa mệt mỏi, bi thương và quyết tâm; ông và Byron rõ ràng không thuộc cùng một dân tộc. Chồng nàng thì có ánh mắt sáng ngời, tự tin và vẻ hồn nhiên không chút vướng bận của một người Mỹ. Gương mặt anh in hằn dấu vết của những trải nghiệm mới, còn đó là những trải nghiệm gì thì còn đợi anh kể lại, nhưng Byron Henry này dù có sống đến chín mươi tuổi, dù cả đời trải qua những năm tháng gian khổ, dung mạo anh cũng tuyệt đối không thể giống với Avram Rabinowitz.

"Xin lỗi, tôi phải xin phép cáo từ." Byron đứng dậy. Họ cũng không giữ lại, chỉ vang lên những tiếng tạm biệt. Natalie ôm Louis đưa đến căn phòng nhỏ chất đầy những cuốn sách bìa vàng trên tường. Bà Mendelssohn, dựa vào ánh sáng của một cây nến dài trên bàn trang điểm, đang lấy bộ đồ ngủ và áo choàng của Ellen ra khỏi tủ. Chiếc giường đôi vốn là chỗ ngủ của Ellen đã được thay ga trải mới. Giường nhỏ của Natalie đã được dọn đi. "Chú của cháu ngủ chỗ khác rồi, chúc các cháu lễ tốt lành, tạm biệt," bà nói một mạch bằng tiếng Yiddish rồi bỏ đi, không cho Natalie chút thời gian nào để cười, đỏ mặt hay nói lời cảm ơn.

"Anh không hiểu một chữ nào cả," Byron nói, "Bà ấy thật là một người phụ nữ tốt. Cửa khóa thế nào vậy?"

"Có hai chốt," Natalie hơi do dự nói, nàng đang đặt Louis đang ngáp ngắn ngáp dài xuống chiếc giường trẻ em.

"Được rồi, khóa nó lại đi." Anh dùng một chiếc chìa khóa tháo sợi xích khỏi cổ tay, tiện tay ném chiếc túi da lên ghế. "Anh là đặc phái viên ngoại giao tạm thời, Natalie. Đó là lý do tại sao anh mang theo thứ này, và đó là lý do tại sao anh đến đây. Công việc của anh là ở trên một tàu bảo trì tàu ngầm tại Gibraltar. Anh ở đó từ tháng Tám rồi."

"Sao anh lại làm công việc này? Anh tìm thấy em bằng cách nào? Và — ôi, anh yêu —"

"Đều là tình cờ cả thôi." Anh ôm chầm lấy nàng vào lòng.

Nàng để mặc anh ôm chặt, hôn không ngừng, dù bản thân gần như tê liệt, nàng chỉ muốn làm anh vui. Nàng nhớ đến việc nếu hai vợ chồng vội vàng gần gũi, bộ đồ lót đáng ghét nàng đang mặc sẽ bị lộ ra; đó toàn là loại vải cotton thô dày, chỉ có thể mua được ở Siena, loại chỉ dành cho lợn nái mặc. Bộ đồ lót nữ nàng trân quý mua ở Lisbon vẫn còn mang theo, nhưng làm sao nàng có thể bảo anh dừng lại để nàng thay đồ? Natalie khao khát được nằm xuống tấm thảm cũ, trong lòng dâng trào sự ngưỡng mộ và lòng biết ơn khôn xiết, nhưng có một điều nàng không thể làm được, đó là sự ham muốn. Anh như một viên đạn bắn trở lại cuộc đời nàng; chẳng ngờ nụ hôn nồng cháy của anh dừng lại, cái ôm cũng nới lỏng. "Natalie, đứa bé đang nhìn chúng ta đấy."

Louis quả thực đã đứng dậy, hai tay bám lấy thanh chắn giường, nhìn hai người với vẻ mặt linh hoạt.

"Ôi, không sao đâu, nó chỉ là đứa trẻ một tuổi thôi mà," nàng lầm bầm. "Nó tò mò như một con gấu trúc vậy."

"Gấu trúc cái gì chứ. Thần thái của nó cứ như đang ghi nhớ mọi thứ vậy."

Natalie không nhịn được cười. "Có lẽ vậy, anh yêu. Cũng sẽ có ngày đến lượt nó mà, anh hiểu chứ."

"Thú thật là anh thấy hơi gượng gạo," Byron nói, buông tay ra. "Nghe thật kỳ quặc, nhưng không sai chút nào. Thằng bé có đôi mắt của người lớn."

"Đúng vậy, anh yêu," Natalie nói, nàng cố gắng thở sâu mà không phát ra tiếng, "Hay là em tắm rửa sạch sẽ cho nó rồi cho lên giường nhé? Anh không phiền chứ? Chúng ta có thể nói chuyện một lát, để em thấy gần gũi với anh hơn."

"Được thôi, cứ thế đi. Em nghĩ chu đáo hơn anh, anh vốn định lấy tấm khăn phủ giường che cái cũi lại như lồng chim ấy."

"Anh thấy đấy, anh yêu, anh luôn phải bình tĩnh lại," nàng lại cười. Byron đùa giỡn với nàng luôn khiến nàng thấy vui, nhưng lúc này thần kinh nàng đang căng như dây đàn. "Hành động vừa rồi rõ ràng khiến thằng bé thấy rất mới lạ."

"Anh cũng nghĩ vậy. Thằng bé đã biết đi và biết nói chưa?"

Nàng bế nó ra khỏi cũi, đặt hai chân nó xuống đất. Louis lảo đảo bước vài bước, ngước nhìn Byron, đợi anh vỗ tay khen ngợi; có thể thấy, nó rất thích thú với điều này.

"Biểu diễn tốt lắm, nhóc con. Giờ con nói gì đi nào."

"Ôi, anh nghe không hiểu nó đâu." Nàng bế Louis lên, cởi đồ và tắm cho nó trong một chiếc chậu rửa ở góc phòng. "Nó líu lo trộn lẫn cả tiếng Yiddish, tiếng Ý và tiếng Pháp vào nhau đấy."

"Anh lại muốn nghe thử."

Nàng hơi thẹn thùng liếc nhìn anh, nói: "Trông anh bảnh thật."

"Em còn xinh đẹp hơn nhiều."

Nàng cảm thấy toàn thân ngọt ngào. "Bố anh, Warren thế nào rồi? Anh có nhận được thư của họ không? Họ đều khỏe chứ?"

"Warren? Chuyện này là sao? Hội Chữ thập đỏ không chuyển thư của anh sao? Trong thư gửi cho Slote anh cũng có nhắc đến Warren mà?"

Giọng điệu chói tai của anh khiến đôi mắt nàng lộ vẻ kinh hoàng nhìn anh. "Em nhận được lá thư cuối cùng của anh vào tháng Năm."

"Warren chết rồi. Nó chết trong trận Midway."

"Ôi, ôi! Anh yêu —"

"Nó được truy tặng Huân chương Chữ thập Hải quân." Liếc nhìn đồng hồ, Byron bắt đầu đi đi lại lại trong căn phòng nhỏ. "Nghe này, tàu hỏa đi Barcelona chạy vào lúc nửa đêm. Còn bốn tiếng rưỡi nữa. Em phải tính chuyện thu dọn đồ đạc đi, Natalie. Em không cần mang theo nhiều thứ đâu. Ở Lisbon mua sắm vẫn rất tiện."

Nàng thấy khó hiểu, "Thu dọn đồ đạc?"

"Ellen phải ở đây đợi Tổng lãnh sự làm thủ tục, anh sẽ đưa em và con đi."

"Cái gì! Lạy Chúa, Byron, là Tổng lãnh sự nói anh có thể đưa chúng em đi sao?"

"Chúng ta đến chỗ họ ngay bây giờ."

James Gaither cũng giống như những vị khách ở nhà Mendelssohn, là người đã thấy quá nhiều chuyện lạ. Marseille trong những năm tháng chiến tranh vốn đã trở thành một nồi súp thập cẩm sôi sùng sục: những mưu mô chính trị, sự cướp bóc tiền tài, sự hỗn loạn của chủng tộc và quốc tịch, nỗi khổ đau và bi kịch của những người tị nạn mất nhà mất cửa, cùng với những trò lừa lọc, đấu đá vốn đã thịnh hành ở bờ biển Địa Trung Hải từ thời người Phoenicia, nên so với công việc thường nhật của Gaither, bất kỳ kịch bản ly kỳ hay câu chuyện hiểm hóc nào cũng đều trở nên mờ nhạt. Đó chỉ là nói về công việc hợp pháp của ông. Còn về kinh nghiệm trong các hoạt động bí mật khi tiếp xúc với các tổ chức kháng chiến, nó chẳng khác gì mấy bộ phim đang thịnh hành; chỉ có điều thiếu những cảnh nóng bỏng mắt mà thôi. Tóm lại, trong hai năm nhậm chức tại Marseille, như ông vẫn thường nói, ông gần như đã thấy hết mọi sự trên đời.

Dẫu vậy, câu chuyện của Byron Henry vẫn là một điều mới mẻ. Lúc này Gaither đã thay đồ ngủ, khoác thêm chiếc áo choàng, đang viết lại sự việc này vào nhật ký thì nghe tiếng gõ cửa. Đứng ở cửa là Trung úy Henry, kẹp chiếc túi da dưới nách.

"Xin lỗi đã làm phiền ông, thưa ông."

"Cậu lại đến?"

"Thưa ông, vợ và con tôi đều ở dưới lầu."

"Cái gì! Đêm hôm thế này còn ở ngoài đường, lại không có giấy tờ?"

"Rabinowitz đang ở cùng họ." Nhìn xuống đôi chân đi dép lê của Tổng lãnh sự, Byron nói, "Tôi đột ngột xông vào thế này, thật sự xin lỗi ông."

"Đừng khách sáo nữa. Bảo họ lên cả đi, nhanh lên."

Bà Henry bế đứa trẻ đi vào, nở nụ cười hiểu ý với ông. Dù trang phục cũ kỹ, đầu tóc chưa chải chuốt, trông nàng có vẻ hoảng loạn, nhưng chỉ cần nhìn thoáng qua cũng đủ hiểu vì sao vị sĩ quan tàu ngầm lại có thể làm nên những chiến công lãng mạn đến thế. Chẳng trách có một người đàn ông vì nàng mà đi khắp chân trời góc bể! Đứa bé khôi ngô trong tay nàng chính là bản sao thu nhỏ của vị trung úy. Avram Rabinowitz lầm lũi đi theo sau bà Henry, trông vô cùng mệt mỏi và bồn chồn.

Byron vẫn không ngừng giải thích kế hoạch của mình, còn Gaither đã bắt đầu suy nghĩ làm thế nào để xóa bỏ ý định này của anh. Đây là một ý tưởng khủng khiếp, liều lĩnh và cực kỳ nguy hiểm. Natalie ôm đứa bé ngồi một bên, ông hiểu rõ sự nôn nóng như lửa đốt của người chồng trẻ này. "Trung úy, đại diện của chúng ta ở Vichy đã lấy được thị thực xuất cảnh. Bức điện trực tiếp nhận được hôm nay đã xác nhận điều đó. Bây giờ bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể nhận được thị thực. Nhanh thì có lẽ ngày mai là có."

"Vâng, thưa ông, lúc ăn tối ông đã nói với tôi rồi. Tôi vẫn luôn nghĩ, và bây giờ tôi vẫn cho rằng, tại sao tôi không đưa Natalie và Louis đi ngay lập tức. Đó là vì tôi tin mình có thể đưa họ cùng lên máy bay đi Mỹ."

Vợ anh hắng giọng, giọng nàng khàn khàn nhưng đầy mê hoặc, "Chuyện này, anh ấy rất giỏi."

"Điều đó thì không cần bàn cãi, bà Henry, nhưng cái khó là phải vượt qua biên giới."

Byron ngồi cạnh vợ trên ghế sofa, nội tâm căng thẳng, cơ thể thẳng tắp, nhưng thần thái vẫn bình tĩnh. "Thưa ông, chỉ cần trình hộ chiếu ngoại giao của tôi ra là đủ. Dùng nó để đối phó với thủ tục của viên chức nhập cư cũng nhẹ nhàng như dùng dao nóng cắt bơ vậy. Ông cũng biết điều đó mà."

"Không phải lúc nào cũng vậy. Nếu cậu gặp phải một viên cảnh sát biên giới Pháp hay một đặc vụ Đức thích gây khó dễ thì sao? Chính tôi đã từng gặp rồi. Trên tuyến đường sắt đó cả hai loại người này đều không thiếu. Cậu có thị thực quá cảnh. Vợ và con cậu thì chẳng có gì cả."

"Tôi có thể chém gió một phen."

"Chém thế nào?"

"Thằng bé bị bệnh nặng ở Gibraltar. Chúng tôi đưa nó đến Marseille trong đêm. Chúng tôi không kịp làm thị thực. Tôi sẽ dùng tiếng Pháp bồi nói chuyện với họ. Tôi sẽ hét lớn. Tôi sẽ giả làm một viên chức Mỹ ngốc nghếch, giận dữ. Tôi sẽ kiên trì với những gì mình đã chém, tôi có thể đảm bảo với ông."

"Nhưng hộ chiếu của họ không có dấu Gibraltar, không có dấu Pháp, chỉ có dấu Ý từ mấy tháng trước."

"Thưa ông, tất cả những chuyện vặt vãnh đó không thành vấn đề, tôi đảm bảo với ông. Tôi đều xử lý được hết."

"Tiếc là lời chém gió của cậu có lỗ hổng, tôi chưa bao giờ thấy đứa bé nào khỏe mạnh hơn thế, Trung úy ạ. Cơ thể nó không thể tốt hơn được nữa."

Louis đang ngồi trên đùi Natalie há miệng ngáp như một con cá sấu. Sắc mặt nó rất tốt, đôi mắt chớp chớp sáng rõ.

"Có thể nó bị viêm ruột thừa hay gì đó, nhưng chỉ là báo động giả thôi."

Gaither quay sang Natalie. "Cô đã sẵn sàng giúp anh ấy chứng thực lời chém gió này chưa?"

Nàng vẫn còn do dự, Byron vội chen vào: "Trước khi tàu đến Perpignan, chúng tôi sẽ diễn tập những gì cần nói, thuộc lòng luôn. Xin ông đừng lo."

Gaither đi gọi điện thoại, yêu cầu một chiếc xe của lãnh sự quán và một tài xế. "Mọi người uống chút gì không?" ông hỏi. "Đêm nay trời lạnh."

Byron nói: "Cảm ơn, chúng tôi cần giữ đầu óc tỉnh táo."

"Tôi muốn uống một chút," Natalie nói. "Cảm ơn ông."

"Tôi cũng vậy," Rabinowitz nói.

Gaither vừa pha rượu cho mọi người vừa suy nghĩ. Phải khuyên nhủ khéo léo, ông tự nhủ. Ông đi lại trong phòng, tay cầm ly cocktail, mái tóc bạc rối bời, đôi mắt mệt mỏi không ngừng đảo quanh, "Trung úy, tôi muốn nói vài lời tâm sự với phu nhân của cậu."

"Rất tốt, thưa ông."

"Bà Henry, tôi đã nói rồi, trên tàu và ở biên giới đều có đặc vụ của mật vụ Đức. Những kẻ này trên tàu thì thích làm gì thì làm. Chúng chẳng cần biết quy tắc gì cả. Rabinowitz biết điều này. Chồng cô có lẽ thực sự có thể bảo vệ cô qua cửa. Anh ấy là người có cách, điều đó không cần bàn. Nhưng mặt khác, mật vụ Đức đối với những người Do Thái đi lại bất hợp pháp cũng có cái mũi rất thính. Đám đặc vụ này toàn là lũ sói lang dạ thú. Cũng có khả năng chúng sẽ lôi cô xuống tàu."

"Cô ấy sẽ không bị lôi đi," Byron chen vào, "Nếu bị lôi đi, tôi cũng đi cùng cô ấy."

"Vạn nhất cậu bị lôi đi," Gaither tiếp tục nói với Natalie, như thể ông không nghe thấy Byron nói gì, "Trong lúc cô bị thẩm vấn, đứa bé có thể sẽ bị cướp khỏi tay cô. Người Đức đều làm như vậy." Ông thấy vẻ kinh hoàng lướt qua gương mặt nàng, rồi nói tiếp: "Tôi không phải là tiên tri, khẳng định chắc chắn chuyện đó sẽ xảy ra. Nhưng có khả năng này. Cô không thể nói nó tuyệt đối không xảy ra. Một khi cô đã rơi vào tay chúng, liệu cô còn có thể dùng một bộ lời nói dối để khiến chúng tin là thật không?" Nàng ngồi im lặng, hai hốc mắt đã đỏ hoe. Ông nói tiếp: "Sau khi cô và con bị giam giữ, tôi không thể bảo vệ cô được nữa. Chúng tôi đã có hàng loạt vụ việc như thế cần phải đàm phán — đều là những người giữ giấy tờ Mỹ khả nghi. Có một số người vẫn đang bị giam trong đồn cảnh sát. Một số ít, thật không may, đã bị đưa đến Rivesaltes rồi."

"Rivesaltes?" Natalie nghẹn ngào, nói cái tên này với Rabinowitz.

"Trại tập trung của Pháp," ông nói.

Byron đứng phắt dậy trước mặt Gaither. "Ông đang dọa cô ấy."

"Tôi đang nói với cô ấy sự thật. Còn cậu, chàng trai trẻ? Cậu là người mang theo tài liệu mật. Một khi lời chém gió của cậu bị vạch trần, mật vụ Đức có thể coi cậu là một kẻ lừa đảo mà xử lý, tịch thu chiếc túi da của đặc phái viên, dùng dao rạch toạc nó ra."

Gương mặt Byron trở nên nhợt nhạt và đờ đẫn. "Đây là sự nguy hiểm không đáng kể," anh dừng lại một chút nói. "Tôi sẵn sàng thử."

"Đây không phải là chuyện cậu có thể quyết định."

Giọng điệu Byron trở nên bình tĩnh, gần như là khẩn cầu. "Ông Gaither, ông đừng dọa người nữa. Chuyện này là vạn vô nhất thất, tôi đảm bảo. Chỉ cần chúng ta qua biên giới ra khỏi Pháp là xong hết. Sự lo lắng sợ hãi này, chính ông cũng sẽ thấy buồn cười thôi. Chúng tôi vẫn muốn thử xem sao."

"Tôi không thể. Tôi là người đứng đầu các quan chức Mỹ trong khu vực này, trách nhiệm của tôi buộc tôi phải ra lệnh không cho cậu làm thế. Tôi rất tiếc."

"Byron," Natalie nói, giọng đầy do dự, đôi mắt mở to lộ vẻ kinh hoàng trong lòng, "Cùng lắm là vài ngày thôi. Anh đi đi. Đến Lisbon đợi chúng em."

Anh nhìn nàng đầy bàng hoàng. "Lạy Chúa, Natalie, Địa Trung Hải sắp đảo lộn hết rồi. Gibraltar đã có hàng ngàn máy bay, xếp hàng cánh sát cánh rồi. Chỉ cần có dấu hiệu xảy ra chuyện, họ sẽ phong tỏa biên giới." Nàng nhìn anh như thể đã rơi vào đường cùng, như hy vọng có thể nhận được một lời nào đó khiến nàng yên tâm, nhưng lại chẳng thể nghe thấy. "Lạy Chúa, anh yêu, chúng ta từ Krakow đến Warsaw, trên đường đi bên cạnh chúng ta đều là khói lửa chiến tranh, thế mà em còn chẳng chớp mắt lấy một cái."

"Chúng ta bây giờ đã có Louis rồi."

Byron nhìn về phía Avram Rabinowitz. "Ông không tin chúng ta có thể qua được sao?"

Người đàn ông Palestine đang co rúm một bên, cúi đầu hút thuốc, nghiêng đầu nhìn Byron. "Cậu đang hỏi tôi đấy à?"

"Đúng vậy."

"Tôi rất lo lắng."

"Anh lo lắng điều gì?"

"Tôi từng bị người Đức lôi ra khỏi tàu trên đường đi Barcelona."

Bái Luân nhìn chằm chằm vào anh ta một hồi lâu. "Ra là vậy, thế nên anh mới muốn tôi đến đây trước sao?"

"Đúng vậy, chính là như thế."

Bái Luân đổ người xuống một chiếc ghế, nói với Cái Sắt: "Ông đưa cho tôi ly rượu đó đi."

"Tôi phải đi đây," Lạp Tân Nặc Duy Tư nói. Anh ném một cái nhìn u ám cuối cùng về phía mắt của Na Tháp Lệ, vuốt ve má của Lộ Dịch rồi rời đi.

Cái Sắt rót thêm rượu whisky và nước soda vào ly, chợt nhớ đến bài viết đầu tiên trong "Sách Vàng", một ấn phẩm bài Do Thái bằng tiếng Pháp mà ông từng đọc qua trên chuyến tàu từ Vichy trở về. Những bức ảnh trong đó đều được chụp tại một triển lãm do chính phủ Pháp tổ chức ở Paris với tiêu đề "Tính cách và diện mạo của người Do Thái": những mô hình thạch cao phóng đại với mũi khoằm, môi dày, tai vểnh. Lộ Dịch Henry hoàn toàn không khớp với những hình ảnh đó; nhưng nếu nhân viên kiểm tra nhập cư của Pháp hay mật vụ Đức nhắm vào cậu bé, thì cậu cũng là người Do Thái giống như mẹ mình vậy. Nếu tình hình không tồi tệ như hiện tại, bà Henry chắc chắn có thể vượt qua bất kỳ trạm biên giới nào dù không có chồng mình là trung úy đi cùng; một người phụ nữ xinh đẹp, lại là mẹ, hơn nữa còn là người Mỹ; thường thì sẽ chẳng có vấn đề gì cả! Nhưng người Đức đã biến việc đi lại thường nhật ở châu Âu thành một việc mà người Do Thái phải đánh cược bằng cả tính mạng, giống như việc nhảy xuống từ một tòa nhà cao tầng đang bốc cháy dữ dội vậy. Thậm chí chỉ vài mảnh giấy vụn vặt cũng có thể quyết định sự sống chết của một con người; Cái Sắt biết một vài người Do Thái, hộ chiếu và thị thực xuất cảnh của họ đều hợp lệ, nhưng họ vẫn thà ở lại Pháp chỉ vì không dám đối mặt với mật vụ Đức tại biên giới.

Cái Sắt đưa ly rượu cho họ, lúc này căn phòng im lặng như tờ. Để làm dịu bầu không khí căng thẳng, ông kể về việc từng tiễn vài phi công Mỹ thoát khỏi Pháp trên chuyến tàu đi Barcelona, tất cả đều cải trang thành thợ đốt lò hoặc lái tàu. Tuy nhiên, ông giải thích, họ đều là những gã đàn ông vạm vỡ, đã được huấn luyện để trốn thoát và sẵn sàng đối phó với mật vụ Đức; nhưng dù vậy vẫn xảy ra vài sự cố đáng tiếc. Sau khi xe của lãnh sự quán đến, Cái Sắt lại trở về với bộ dạng công vụ. Ông nói, tàu còn một tiếng nữa mới chạy. Bái Luân chỉ cần hai mươi phút để đến ga tàu. Anh có muốn ở riêng với gia đình một chút không? Tài xế sẽ đi lấy hành lý cho bà Henry; vì bà đã đến đây rồi, bà cứ việc ở lại chờ thị thực xuất cảnh. Sáng mai ông sẽ phái người đi đón Kiệt Tư Đặc, ông sẽ đích thân chăm sóc ba người họ cho đến khi họ khởi hành đi Lisbon. Chính ông sẽ tiễn họ đến tận biên giới, hoặc cử một người đáng tin cậy thay mình.

Ông dẫn Bái Luân và Na Tháp Lệ vào một phòng ngủ nhỏ rồi đóng cửa lại. Na Tháp Lệ không nhìn Bái Luân, tự mình đặt đứa bé đang ngủ say xuống giường, rồi lấy chiếc áo khoác của mình đắp lên cho nó.

Bái Luân nói: "Anh không ngờ em lại làm như vậy."

Cô quay mặt về phía anh. Anh dựa lưng vào cửa, tay đút túi quần, hai chân bắt chéo, dáng vẻ y hệt lần đầu tiên cô nhìn thấy anh trên phố Siena khi anh vẫy tay chào từ trên xe của Kiệt Tư Đặc.

"Em giận lắm sao."

"Cũng không hẳn. Anh ta làm em sợ hãi. Nhưng giờ anh vẫn nghĩ rằng lẽ ra chúng ta đã có thể đi được. Có muốn hút thuốc không?"

"Em bỏ thuốc lâu rồi."

"Anh nhận ra chiếc trâm cài đó."

"Warsaw dường như đã cách xa hiện tại cả triệu năm rồi."

"Anh sẽ đợi em ở Lisbon, Na Tháp Lệ. Anh có ba mươi ngày nghỉ phép, anh sẽ dùng nó để đợi em. Ngày nào anh cũng sẽ đến lãnh sự quán để hỏi thăm." Nụ cười của anh vô cùng tao nhã, lại như thể xa cách tận chân trời. "Anh lo là mình không đặt được căn phòng mà chúng ta đã hưởng tuần trăng mật ở Estoril."

"Hãy thử xem sao."

"Được, anh sẽ thử."

Thế là họ cùng nhau ôn lại chuyện cũ. Tên của Qatar và Ester cũng được nhắc đến. Bái Luân kể về mệnh lệnh phái anh đến trình diện tàu "Hải Man", cũng không quên tán dương chiếc tàu ngầm mới của hải quân. Na Tháp Lệ cố gắng hết sức để tỏ ra hứng thú và đáp lời, thực chất những câu chuyện này vô cùng nhạt nhẽo. Anh không vươn tay ôm lấy cô. Cô cũng không dám chủ động trước. Cô cảm thấy xấu hổ vì sự hèn nhát của chính mình, nên trong lòng cảm thấy sợ hãi anh. Nỗi nghi ngại khó xử ngày càng đè nặng trong lòng cô, câu chuyện ly kỳ về việc anh vượt vạn dặm tìm vợ lúc này lại trở thành điều khiến họ đau lòng nhất. Nhưng trong bước ngoặt đầy bi kịch này, cô còn có thể làm gì đây? Trong mắt người Đức, trong mắt đặc vụ Pháp tại Vichy, đứa bé này là người Do Thái. Nỗi sợ hãi này không phải là điều mà Bái Luân có thể thấu hiểu. Đây là một tảng đá ngầm đủ sức đập tan cuộc hôn nhân của họ, và quả thực, tảng đá đó đang tồn tại.

"Anh nghĩ đã đến lúc anh phải lên đường," cuối cùng anh nói, giọng điệu bình thản, lạnh lùng, nói rồi đứng dậy.

Điều này đã kích hoạt phản ứng của Na Tháp Lệ. Cô lập tức lao về phía anh, vòng tay siết chặt lấy anh, điên cuồng hôn lên môi anh hết lần này đến lần khác. "Bái Luân, em xin lỗi anh, em xin lỗi anh, em không còn cách nào khác. Em không thể không nghe lời Cái Sắt. Em nghĩ ông ấy nói đúng. Chẳng bao lâu nữa, chỉ một tuần thôi là em sẽ đến. Hãy đợi em! Tha lỗi cho em! Hãy yêu em, vì Chúa! Em sẽ mãi mãi yêu anh cho đến chết. Chẳng lẽ anh không tin em sao?"

Anh đáp lại cô bằng những nụ hôn dịu dàng; khi nói chuyện, anh lại nở nụ cười u sầu kỳ lạ đó, nụ cười đã khiến cô say đắm ngay từ thuở ban đầu. "Sao vậy Na Tháp Lệ, em và anh đều sẽ không bao giờ chết. Chẳng lẽ em vẫn chưa biết điều đó sao?" Anh đi đến bên giường, cúi đầu nhìn đứa trẻ đang ngủ say với đôi má ửng hồng. "Tạm biệt, cục cưng nhỏ. Anh rất vui vì được gặp con một lần."

Họ cùng nhau đi vào phòng khách, bắt tay Cái Sắt, rồi anh rời đi.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »